Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Ông lão

của Guy de Maupassant

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 11.834 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Nắng thu âm ấm rọi xuống sân trại, qua…
  2. 2:31Người con rể nói:
  3. 3:47"Thôi được, tôi đi."
  4. 5:22Người hàng xóm đáp:
  5. 6:37Họ trở vào bếp, và lặng lẽ ăn bữa…
  6. 8:11Bà cũng chẳng biết quyết định thế nào. Họ…
  7. 10:04"Dù sao thì mình cũng ăn chút gì đã.…
  8. 12:04Mọi người im bặt. Đàn bà vội vàng đứng…

Nắng thu âm ấm rọi xuống sân trại, qua những cây dẻ gai lớn trồng trên bờ hào. Dưới lớp cỏ bị bò gặm sát, mặt đất ngấm mưa mới, ẩm ướt, lún xuống dưới chân kêu lép nhép. Những cây táo trĩu quả rải những trái táo màu xanh nhạt xuống thảm cỏ xanh thẫm.

Bốn con bê cái non được buộc thành hàng đang gặm cỏ, thỉnh thoảng lại rống lên về phía ngôi nhà. Gà vịt đưa những đốm màu chuyển động trên đống phân trước chuồng bò, bới, xới, quang quác, trong khi hai con gà trống gáy không ngớt, tìm giun cho bầy gà mái, gọi chúng bằng những tiếng cục cục vội vã.

Cánh cổng gỗ mở ra. Một người đàn ông bước vào, chừng bốn mươi tuổi, nhưng trông già như sáu mươi, nhăn nheo, vẹo vọ, bước những bước dài và chậm, nặng nề vì đôi guốc gỗ to lót đầy rơm. Hai cánh tay dài quá khổ buông thõng hai bên người. Khi ông ta tới gần nhà, một con chó nhỏ lông vàng buộc dưới gốc một cây lê to tướng, cạnh cái thùng gỗ làm chuồng, vẫy đuôi, rồi sủa lên mừng rỡ. Người đàn ông quát:

"Nằm xuống, Phi-nô!"

Con chó im bặt.

Một bà nông dân từ trong nhà bước ra. Thân hình xương xẩu, rộng và lép của bà hiện rõ dưới chiếc áo len bó eo. Chiếc váy xám ngắn quá, chỉ tới nửa ống chân bọc tất xanh, và bà cũng đi guốc lót rơm. Chiếc mũ vải trắng đã ngả vàng trùm lên mấy sợi tóc dính bết vào sọ. Bộ mặt nâu sạm, gầy gò, xấu xí, móm mém của bà mang cái vẻ hoang dã và thô kệch thường thấy trên mặt dân quê.

Người đàn ông hỏi:

"Thế nào rồi?"

Người đàn bà đáp:

"Ông cha xứ bảo là hết rồi, không qua được đêm nay đâu."

Cả hai cùng vào nhà.

Qua gian bếp, họ bước vào buồng ngủ, thấp, tối om, chỉ le lói chút ánh sáng từ một ô kính, trước ô kính treo một mảnh vải hoa Noóc-măng-đi rách. Những cây xà to trên trần, sạm màu vì năm tháng, đen và ám khói, chạy suốt từ đầu này sang đầu kia căn buồng, đỡ lấy tấm sàn gác mỏng, nơi ngày đêm từng bầy chuột chạy rầm rập.

Nền đất lồi lõm, ẩm ướt, trông như nhờn mỡ. Ở cuối phòng, chiếc giường hiện thành một vệt trăng trắng mờ mờ. Một âm thanh đều đều, khàn khàn, một hơi thở nặng nhọc, khò khè, rít lên, kèm tiếng nước ọc ọc như tiếng một cái bơm hỏng, vọng ra từ chiếc giường chìm trong bóng tối, nơi một ông già đang hấp hối. Đó là bố của bà nông dân.

Người đàn ông và người đàn bà bước lại gần, nhìn kẻ sắp chết bằng con mắt điềm nhiên và cam chịu.

Người con rể nói:

"Lần này thì hết thật rồi. Không tới được tối đâu."

Bà vợ nói tiếp:

"Từ trưa đến giờ cứ ọc ọc như thế đấy."

Rồi họ im lặng. Ông bố nhắm mắt, mặt màu đất, khô đến nỗi tưởng như bằng gỗ. Cái miệng hé mở để thoát ra hơi thở óc ách, nặng nhọc. Tấm chăn vải xám phập phồng trên ngực theo mỗi lần hít vào.

Sau một hồi im lặng lâu, người con rể nói:

"Chỉ còn cách để cho ông đi thôi. Mình chẳng làm gì được. Có điều phiền cho vụ cải dầu quá, trời đang đẹp, mai phải cấy rồi."

Nghĩ tới chuyện ấy, bà vợ có vẻ lo. Bà nghĩ ngợi một lúc, rồi nói:

"Ông ấy sắp đi thì cũng phải tới thứ bảy mới chôn được. Mai ông vẫn có cả ngày cho vụ cải dầu."

Bác nông dân ngẫm nghĩ, rồi nói:

"Ừ, nhưng mai lại phải đi mời người ta tới đám chôn, mà từ Tua-vin sang Man-tô, đi khắp lượt các nhà thì mất đứt năm sáu tiếng."

Bà vợ ngẫm nghĩ hai ba phút, rồi nói:

"Bây giờ còn chưa tới ba giờ, ông có thể đi mời ngay chiều nay, làm hết dãy bên Tua-vin. Cứ bảo là ông ấy đi rồi, vì đằng nào thì ông ấy cũng chẳng qua được buổi chiều."

Người đàn ông đứng phân vân một lúc, cân nhắc cái được cái mất của ý kiến ấy. Cuối cùng bác nói:

"Thôi được, tôi đi."

Bác sắp bước ra, lại quay vào, ngập ngừng một chút:

"Bà không có việc gì làm thì đi hái táo nấu, rồi làm bốn tá bánh táo bọc bột cho người ta tới đám chôn, vì phải có cái gì cho người ta lót dạ. Bà đốt lò bằng bó củi dưới mái kho ép táo ấy. Nó khô rồi."

Rồi bác ra khỏi buồng, vào bếp, mở tủ chạn, lấy ra một ổ bánh mì sáu cân, cẩn thận cắt một lát, hứng vào lòng bàn tay những vụn bánh rơi trên mặt tủ rồi hất vào miệng cho khỏi phí. Rồi bác lấy mũi dao khều một ít bơ mặn dưới đáy cái hũ sành nâu, phết lên bánh, và bắt đầu ăn chậm rãi, như bác làm mọi việc.

Rồi bác băng qua sân, dỗ con chó đang lại định sủa, ra con đường chạy dọc bờ hào, và đi về phía Tua-vin.

Còn lại một mình, người đàn bà bắt tay vào việc. Bà mở thùng bột, nhào bột làm bánh. Bà nhào rất lâu, lật đi lật lại, nắn, ép, nghiền. Rồi bà vo thành một khối to màu trắng ngà, để ở góc bàn.

Xong bà đi lấy táo. Để khỏi làm cây bị thương vì cây sào, bà trèo lên cây bằng một cái thang con. Bà chọn quả cẩn thận, chỉ lấy những quả chín nhất, xếp đầy vào tạp dề.

Có tiếng ai gọi từ ngoài đường:

"Ơ này, bà Si-cô!"

Bà quay lại. Đó là một người hàng xóm, bác Ô-dim Pha-vê, ông xã trưởng, đang đi bón ruộng, ngồi buông thõng chân trên chiếc xe chở phân. Bà đáp:

"Bác Ô-dim cần gì đấy ạ?"

"Thế ông cụ thế nào rồi?"

Bà nói to:

"Gần như đi rồi. Thứ bảy làm đám chôn, bảy giờ sáng, vì vụ cải dầu đang gấp."

Người hàng xóm đáp:

"Biết rồi. Chúc bà mọi sự may mắn. Mạnh khoẻ nhé."

Bà đáp lại phép lịch sự của bác:

"Cảm ơn bác, bác cũng thế."

Rồi bà lại hái táo.

Vừa vào nhà, bà đã đi xem bố, đinh ninh sẽ thấy ông chết rồi. Nhưng ngay từ cửa bà đã nghe tiếng thở khò khè ầm ĩ và đều đều, và thấy chẳng cần lại gần giường cho mất thời gian, bà bắt đầu làm bánh.

Bà bọc từng quả táo một trong một lớp bột mỏng, rồi xếp thành hàng ở mép bàn. Làm xong bốn mươi tám viên, xếp thành từng tá một nối nhau, bà nghĩ tới việc nấu bữa tối, và treo nồi lên bếp để luộc khoai tây. Vì bà đã nghĩ rằng chẳng cần đốt lò ngay hôm nay, còn cả ngày mai để làm cho xong mọi thứ.

Khoảng năm giờ, ông chồng về. Vừa bước qua ngưỡng cửa, bác đã hỏi:

"Xong chưa?"

Bà đáp:

"Chưa. Vẫn còn ọc ọc."

Họ đi xem. Ông già vẫn y nguyên như cũ. Hơi thở khàn khàn, đều như tiếng đồng hồ, không nhanh hơn mà cũng không chậm lại. Cứ từng giây từng giây nó trở lại, giọng hơi khác một chút tuỳ theo không khí đi vào hay đi ra khỏi ngực.

Người con rể nhìn ông, rồi nói:

"Rồi ông ấy sẽ tắt lúc mình không để ý, như ngọn nến thôi."

Họ trở vào bếp, và lặng lẽ ăn bữa tối. Húp xong xúp, họ còn ăn thêm một lát bánh mì phết bơ. Rồi bát đĩa vừa rửa xong, họ lại vào buồng người hấp hối.

Người đàn bà cầm ngọn đèn con bấc bốc khói, đưa qua đưa lại trước mặt bố. Nếu ông không còn thở, hẳn người ta đã tưởng ông chết rồi.

Giường của vợ chồng bác nông dân khuất ở đầu kia căn buồng, trong một cái hốc tường. Họ đi nằm không nói một lời, tắt đèn, nhắm mắt. Chẳng mấy chốc, hai tiếng ngáy so le, một tiếng trầm hơn, một tiếng the thé hơn, hoà vào tiếng khò khè không dứt của người sắp chết.

Chuột chạy trên gác.

Trời vừa hửng sáng, ông chồng đã thức dậy. Ông bố vợ vẫn còn sống. Bác lay vợ dậy, lo lắng vì cái sức dai dẳng của ông già.

"Này, Phê-mi, ông ấy nhất định không chịu đi. Bà mà là tôi thì bà làm thế nào?"

Bác biết vợ mình có nhiều mưu kế hay.

Bà đáp:

"Chắc chắn ông ấy không qua được hôm nay đâu. Chẳng có gì phải sợ. Mà ông xã trưởng cũng chẳng cản gì chuyện cứ chôn vào ngày mai, vì người ta đã làm thế với ông cụ Rê-na, người chết đúng vào mùa gieo hạt ấy."

Bác bị thuyết phục bởi cái lý lẽ hiển nhiên ấy, rồi ra đồng.

Bà vợ nướng bánh táo, rồi làm hết mọi việc trong trại.

Đến trưa, ông già vẫn chưa chết. Những người làm thuê công nhật được mướn để cấy cải dầu kéo nhau vào xem cái ông cụ mãi chưa chịu đi. Mỗi người nói một câu, rồi lại ra đồng.

Sáu giờ chiều, lúc mọi người về, ông bố vẫn còn thở. Cuối cùng thì người con rể đâm hoảng.

"Bây giờ thì bà tính sao, Phê-mi?"

Bà cũng chẳng biết quyết định thế nào. Họ đi tìm ông xã trưởng. Ông hứa sẽ nhắm mắt làm ngơ, cho phép chôn vào hôm sau. Ông y sĩ, mà họ cũng tới gặp, cũng nhận lời ghi lùi ngày trên giấy chứng tử, để giúp bác Si-cô. Hai vợ chồng về nhà, yên tâm.

Họ đi ngủ, và ngủ say như đêm trước, hoà tiếng thở vang của mình với hơi thở yếu ớt hơn của ông già.

Khi họ thức dậy, ông vẫn chưa chết.

Lần này thì họ rụng rời. Họ đứng ở đầu giường ông bố, nhìn ông với vẻ ngờ vực, như thể ông cố ý chơi khăm họ, lừa họ, chọc tức họ cho vui. Và họ giận ông nhất là vì cái khoảng thời gian ông làm họ mất toi.

Người con rể hỏi:

"Bây giờ làm thế nào?"

Bà cũng chẳng biết, bà đáp:

"Bực mình thật đấy chứ!"

Giờ thì không thể báo cho tất cả khách mời được nữa, họ sắp tới đến nơi rồi. Hai vợ chồng quyết định chờ họ, để giải thích sự tình.

Khoảng bảy giờ kém mười, những người đầu tiên xuất hiện. Đàn bà mặc đồ đen, đầu trùm khăn voan lớn, đi tới với vẻ buồn rầu. Đàn ông, gò bó trong những chiếc áo vét dạ, bước đi mạnh dạn hơn, từng đôi một, vừa đi vừa bàn chuyện làm ăn.

Bác Si-cô và bà vợ, cuống quýt, ra đón họ với vẻ rầu rĩ. Rồi bất thình lình, cả hai cùng một lúc, vừa tới chỗ nhóm khách đầu tiên, đã bật khóc. Họ kể lại câu chuyện, kể cái nỗi khó xử của mình, mời ghế, chạy tới chạy lui, xin lỗi, cố chứng minh rằng ai ở vào địa vị họ cũng làm thế thôi. Họ nói mãi không dứt, bỗng dưng hoá ra ba hoa đến nỗi không để ai kịp đáp lời.

Họ đi từ người này sang người khác:

"Chúng tôi đâu có ngờ. Không thể tin được là ông ấy lại dai đến thế!"

Khách khứa ngớ người, hơi thất vọng, như những người lỡ mất một buổi lễ đã mong chờ. Họ chẳng biết làm gì, người thì ngồi, người thì đứng. Vài người muốn ra về. Bác Si-cô giữ họ lại:

"Dù sao thì mình cũng ăn chút gì đã. Chúng tôi có làm bánh táo, phải ăn cho khỏi phí chứ."

Nghe thế, mặt mọi người sáng hẳn lên. Người ta bắt đầu nói chuyện khe khẽ. Sân trại dần dần chật người. Những người tới trước kể tin cho những người mới tới. Người ta thì thầm, và cái ý nghĩ về những chiếc bánh táo làm cho ai cũng vui lên.

Đàn bà vào xem người sắp chết. Họ làm dấu thánh giá bên giường, lầm rầm một câu kinh, rồi đi ra. Đàn ông, ít ham cảnh ấy hơn, chỉ liếc một cái qua ô cửa sổ người ta đã mở ra.

Bà Si-cô giảng giải về cơn hấp hối:

"Đã hai ngày nay ông ấy cứ thế, chẳng hơn chẳng kém, chẳng lên chẳng xuống. Nghe có giống một cái bơm hết nước không cơ chứ?"

Khi mọi người đã xem người hấp hối xong, người ta nghĩ tới bữa ăn nhẹ. Nhưng vì đông quá, bếp không đủ chỗ, người ta khiêng bàn ra trước cửa. Bốn tá bánh táo vàng ruộm, thơm ngon, bày trong hai chiếc đĩa lớn, hút hết mọi con mắt. Ai cũng chìa tay ra lấy phần mình, sợ không đủ. Nhưng rốt cuộc còn thừa bốn cái.

Bác Si-cô, miệng đầy bánh, nói:

"Giá ông cụ nhìn thấy cảnh này thì ông cụ buồn lắm. Hồi còn sống ông cụ mê cái bánh này nhất."

Một bác nông dân béo, vui tính, nói:

"Giờ thì ông cụ hết được ăn rồi. Ai rồi cũng đến lượt."

Câu nói ấy chẳng những không làm khách khứa buồn, mà dường như còn làm họ khoái. Giờ là đến lượt họ, lượt họ ăn bánh.

Bà Si-cô, xót của, cứ đi đi lại lại xuống hầm lấy rượu táo. Những bình rượu nối nhau ra, cạn hết bình này đến bình khác. Giờ thì người ta cười, người ta nói to, người ta bắt đầu la lối như người ta vẫn la lối trong các bữa tiệc.

Bỗng nhiên, một bà lão nông dân nãy giờ vẫn ở bên người hấp hối, vì bị giữ lại bởi một nỗi sợ tò mò trước cái điều chẳng bao lâu nữa sẽ tới lượt chính mình, xuất hiện ở cửa sổ và kêu lên bằng giọng the thé:

"Ông ấy đi rồi! Ông ấy đi rồi!"

Mọi người im bặt. Đàn bà vội vàng đứng dậy đi xem.

Quả thật ông đã chết. Ông đã thôi khò khè. Đàn ông nhìn nhau, cúi mắt xuống, khó chịu. Người ta còn chưa nhai xong những chiếc bánh. Cái lão già khốn kiếp ấy, lão chọn giờ chẳng đúng lúc chút nào.

Bây giờ thì vợ chồng Si-cô không khóc nữa. Thế là xong, họ yên tâm rồi. Họ cứ nói đi nói lại:

"Chúng tôi biết thừa là không thể kéo dài mãi được. Giá ông ấy quyết định ngay đêm qua thì đâu đến nỗi phiền phức thế này."

Thôi thì đằng nào cũng xong rồi. Người ta sẽ chôn ông vào thứ hai, thế thôi, và nhân dịp ấy người ta sẽ lại ăn bánh táo.

Khách khứa ra về, vừa đi vừa bàn tán chuyện ấy, dù sao cũng hài lòng vì được thấy chuyện lạ, lại được ăn uống một bữa.

Và khi chỉ còn hai vợ chồng, ngồi đối mặt nhau, bà vợ nói, mặt nhăn lại vì lo lắng:

"Thế là lại phải nướng thêm bốn tá bánh nữa! Giá mà ông ấy quyết định ngay đêm qua!"

Còn ông chồng, cam chịu hơn, đáp:

"Thì cũng đâu phải ngày nào cũng phải làm lại."

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1884
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Vieux, in trên báo Le Gaulois năm 1884, tập Contes du jour et de la nuit, Flammarion 1885
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →