Chương 1: Vị tể tướng từ bỏ tất cả
Ngày xưa ở Ấn Độ có một người làm tể tướng cho một tiểu quốc bán độc lập ở miền tây bắc xứ ấy. Ông thuộc đẳng cấp Bà-la-môn, cao quý tới mức với ông đẳng cấp chẳng còn mấy ý nghĩa. Cha ông từng là một vị quan quan trọng giữa cái triều đình cổ lỗ sặc sỡ, đông đúc đủ hạng người. Nhưng khi Pu-run Đát lớn lên, ông cảm thấy trật tự cũ đang đổi thay, và ai muốn tiến thân trên đời thì phải được lòng người Anh, phải bắt chước mọi thứ mà người Anh cho là tốt. Đồng thời, một vị quan bản xứ vẫn phải giữ được ân sủng của chủ mình. Đó là một ván cờ khó, nhưng chàng Bà-la-môn trẻ trầm lặng, kín miệng, được một nền học vấn tốt ở trường đại học Bom-bay giúp sức, đã chơi ván cờ ấy thật điềm tĩnh, và từng bước một leo lên chức tể tướng của vương quốc. Nghĩa là ông nắm thực quyền còn nhiều hơn cả chủ mình là đức vua.
Khi ông vua già, người vốn nghi ngại người Anh cùng đường sắt và điện tín của họ, qua đời, Pu-run Đát càng được vị vua trẻ kế vị trọng dụng, vì vị vua này từng được một người Anh dạy dỗ. Hai người cùng nhau mở trường học cho các bé gái, làm đường sá, lập nhà thuốc của nhà nước, mở hội chợ nông cụ, mỗi năm xuất bản một cuốn sách xanh về "Tiến bộ đạo đức và vật chất của Vương quốc", dù ông luôn cẩn thận để công trạng thuộc về chủ mình. Bộ Ngoại giao và chính quyền Ấn Độ hài lòng lắm. Rất ít tiểu quốc chịu đi trọn con đường tiến bộ kiểu Anh, vì họ không tin như Pu-run Đát đã tỏ ra tin rằng cái gì tốt cho người Anh thì cũng tốt gấp đôi cho dân mình. Vị tể tướng trở thành người bạn đáng kính của các phó vương, các thống đốc, phó thống đốc, các nhà truyền giáo làm thầy thuốc và các nhà truyền giáo thường, của những sĩ quan người Anh phi ngựa bạt mạng tới săn bắn trong khu rừng cấm của vương quốc, và của cả những đoàn du khách đông đảo đi ngược đi xuôi khắp Ấn Độ vào mùa lạnh để chỉ bảo người ta nên quản lý mọi việc ra sao. Lúc rảnh rỗi, ông lập học bổng cho việc học y khoa và chế tạo theo đúng lối Anh, viết thư cho tờ "Người Tiên Phong", tờ nhật báo lớn nhất Ấn Độ, để giải thích ý định và mục tiêu của chủ mình.
Cuối cùng ông sang thăm nước Anh, và khi về phải nộp những khoản tiền khổng lồ cho các thầy tu, vì ngay cả một người Bà-la-môn đẳng cấp cao như Pu-run Đát cũng mất đẳng cấp khi vượt biển đen. Ở Luân Đôn, ông gặp gỡ, trò chuyện với mọi người đáng gặp, những người tên tuổi vang khắp thế giới, và ông thấy nhiều hơn rất nhiều so với những gì ông nói ra. Các trường đại học uyên bác trao cho ông học vị danh dự. Ông đọc diễn văn, nói chuyện về cải cách xã hội Ấn Độ với những quý bà người Anh mặc áo dạ hội, tới mức cả Luân Đôn phải kêu lên: "Đây là người quyến rũ nhất mà chúng ta từng gặp trong bữa tiệc từ thuở có khăn trải bàn tới giờ."
Khi ông trở về Ấn Độ là cả một trời vinh quang, vì chính phó vương đã tới tận nơi để trao cho đức vua Đại Thập Tự Ngôi Sao Ấn Độ, toàn kim cương, dải băng và men sứ. Cũng trong buổi lễ ấy, giữa tiếng đại bác nổ vang, Pu-run Đát được phong tước hiệp sĩ, nên tên ông trở thành Ngài Pu-run Đát.
Tối hôm ấy, trong bữa tiệc ở chiếc lều lớn của phó vương, ông đứng dậy, ngực đeo huy hiệu và vòng cổ của tước hiệp sĩ, đáp lại lời chúc sức khỏe chủ mình bằng một bài diễn văn mà ít người Anh làm được hay hơn.
Tháng sau, khi thành phố đã trở lại vẻ yên tĩnh nắng cháy, ông làm một việc mà không người Anh nào nghĩ tới. Bởi vì, xét theo chuyện đời, ông đã chết. Huân chương nạm ngọc của tước hiệp sĩ được trả về cho chính quyền Ấn Độ, một tể tướng mới được bổ nhiệm lo việc nước, và một cuộc đổi ghế rầm rộ bắt đầu ở mọi chức vụ cấp dưới. Các thầy tu biết chuyện gì đã xảy ra, dân chúng thì đoán được. Nhưng Ấn Độ là nơi duy nhất trên đời mà một người muốn làm gì thì làm, chẳng ai hỏi vì sao. Việc ngài tể tướng Pu-run Đát từ bỏ địa vị, cung điện và quyền lực, cầm lấy cái bát khất thực, khoác bộ áo màu đất son của một nhà tu khổ hạnh, chẳng ai coi là chuyện lạ thường. Như Luật xưa khuyên, ông đã có hai mươi năm làm thanh niên, hai mươi năm làm chiến binh, dù cả đời ông chưa từng cầm vũ khí, và hai mươi năm làm chủ một gia đình. Ông đã dùng của cải và quyền lực vào những việc mà ông biết là đáng giá. Ông đã nhận vinh dự khi vinh dự tìm tới. Ông đã thấy người và thành phố gần xa, và người cùng thành phố đã đứng dậy tôn vinh ông. Giờ ông sẽ buông những thứ ấy ra, như một người buông tấm áo choàng không còn cần tới.
Khi ông bước qua cổng thành, tấm da linh dương và cây nạng cán đồng kẹp dưới nách, cái bát khất thực bằng vỏ dừa biển nâu bóng trong tay, chân trần, một mình, mắt nhìn xuống đất, thì sau lưng ông người ta đang bắn súng chào từ các pháo đài để mừng người kế nhiệm may mắn của ông. Pu-run Đát gật đầu. Cả cuộc đời ấy đã khép lại. Ông chẳng mang lòng ghét hay thương nó hơn là người ta ghét hay thương một giấc mơ đêm không màu sắc. Ông là một nhà tu khổ hạnh, một người hành khất lang thang không nhà, trông vào hàng xóm láng giềng từng bữa ăn. Mà chừng nào ở Ấn Độ còn một miếng ăn để chia, thì cả thầy tu lẫn kẻ ăn mày đều không chết đói. Cả đời ông chưa từng nếm thịt, ngay cả cá cũng rất hiếm khi ăn. Trong bất cứ năm nào suốt bao nhiêu năm ông là chủ nhân tuyệt đối của hàng triệu bạc, chỉ một tờ năm bảng Anh cũng đủ chi cho cái ăn của riêng ông. Ngay cả khi được tung hô ở Luân Đôn, ông vẫn giữ trước mắt giấc mơ về bình yên và tĩnh lặng: con đường Ấn Độ dài, trắng, bụi bặm, in đầy dấu chân trần, dòng người đi lại chầm chậm không dứt, và khói củi hăng hăng cuộn lên dưới những gốc sung lúc chạng vạng, nơi khách bộ hành ngồi ăn bữa tối.
Khi tới lúc biến giấc mơ ấy thành thật, vị tể tướng đã làm những việc cần làm, và chỉ ba ngày sau, tìm một bọt nước giữa lòng những con sóng dài Đại Tây Dương còn dễ hơn tìm Pu-run Đát giữa hàng triệu người Ấn Độ đang lang thang, tụ lại, tản ra.
Đêm xuống ở đâu, tấm da linh dương của ông được trải ở đó: có khi trong một tu viện bên đường; có khi bên một miếu thờ cột đất, nơi các đạo sĩ du hành đón ông như họ vẫn đón những người hiểu đẳng cấp và phân chia đáng giá bao nhiêu; có khi ở ven một làng nhỏ, nơi lũ trẻ lén mang tới thức ăn mà cha mẹ chúng đã nấu; và có khi giữa bãi chăn trống trải, nơi ngọn lửa củi nhỏ của ông đánh thức những con lạc đà đang ngái ngủ. Với Pu-run Đát, hay Pu-run Ba-gát, như giờ ông tự gọi mình, tất cả đều như nhau. Đất đai, con người, thức ăn, tất cả đều như nhau. Nhưng chẳng hay biết, đôi chân cứ kéo ông về phía bắc và phía đông: từ miền nam tới Rô-tắc, từ Rô-tắc tới Cun-nun, từ Cun-nun tới thành Sa-ma-na đổ nát, rồi ngược dòng theo lòng sông Gúc-gơ khô cạn, con sông chỉ đầy nước khi mưa rơi trên núi, cho tới một ngày ông thấy xa xa dãy Hi-ma-lay-a vĩ đại.
Bấy giờ Pu-run Ba-gát mỉm cười, vì ông nhớ ra mẹ mình là người Bà-la-môn dòng Ra-giơ-pút, quê vùng Cu-lu, một người đàn bà miền núi lúc nào cũng nhớ nhà, nhớ tuyết. Và chỉ cần một chút máu núi thôi, rốt cuộc cũng kéo người ta về nơi mình thuộc về.
— Đằng kia, — Pu-run Ba-gát nói khi leo những sườn dốc thấp của dãy Xê-oa-lích, nơi những cây xương rồng đứng như những cây đèn nến bảy nhánh, — đằng kia ta sẽ ngồi xuống và tìm hiểu.
Gió mát từ Hi-ma-lay-a vi vu bên tai ông khi ông đi trên con đường dẫn tới Xim-la.
Lần trước ông đi lối này là trong nghi lễ trọng thể, với đoàn kỵ binh hộ tống ầm ầm, tới thăm vị phó vương hiền hòa, dễ mến nhất. Hai người đã trò chuyện cả giờ liền về những người bạn chung ở Luân Đôn, và về điều dân thường Ấn Độ thật sự nghĩ về mọi chuyện. Lần này Pu-run Ba-gát chẳng tới thăm ai. Ông tựa vào lan can con đường dạo, ngắm toàn cảnh tuyệt diệu của đồng bằng trải rộng bốn mươi dặm bên dưới, cho tới khi một viên cảnh sát bảo ông đang cản đường. Pu-run Ba-gát cung kính cúi chào Luật pháp, vì ông biết giá trị của nó, và ông đang đi tìm một Luật của riêng mình. Rồi ông đi tiếp, đêm ấy ngủ trong một túp lều trống ở Xim-la Nhỏ, nơi trông như tận cùng trái đất, nhưng đó mới chỉ là khởi đầu cuộc hành trình của ông. Ông theo con đường Hi-ma-lay-a đi Tây Tạng, con đường nhỏ rộng ba mét được phá mìn khoét vào đá rắn, hoặc chống trên những thanh gỗ chìa ra trên những vực sâu ba trăm mét; con đường đổ xuống những thung lũng kín, ấm và ẩm ướt, rồi leo ra băng qua những vai đồi trọc phủ cỏ nơi nắng chiếu như qua kính lúp đốt; hoặc rẽ qua những khu rừng tối, nhỏ nước, nơi dương xỉ thân gỗ phủ kín thân cây từ đầu tới chân và chim trĩ gọi bạn tình. Ông gặp những người chăn gia súc Tây Tạng với chó và đàn cừu, mỗi con cừu đeo trên lưng một túi hàn the nhỏ; những tiều phu lang thang; những vị lạt ma từ Tây Tạng khoác áo choàng, quấn chăn, đi hành hương vào Ấn Độ; những sứ giả của các tiểu quốc miền núi cô quạnh phi nước đại trên những con ngựa nhỏ lang khoang; hay đoàn kỵ mã của một ông hoàng đi thăm viếng. Hoặc có những ngày dài trong trẻo ông chẳng thấy gì ngoài một con gấu đen ụt ịt bới đất dưới thung lũng. Lúc mới lên đường, tiếng ầm ĩ của thế giới ông bỏ lại còn vang trong tai, như tiếng ầm của đường hầm còn vang mãi sau khi đoàn tàu đã đi qua. Nhưng khi ông đã để đèo Mút-ti-a-ni lại sau lưng, mọi thứ ấy đều chấm dứt, và Pu-run Ba-gát chỉ còn một mình với chính mình, bước đi, ngẫm nghĩ, mắt nhìn xuống đất và tâm trí ở cùng mây trời.
Một buổi chiều, ông vượt qua con đèo cao nhất ông từng gặp, đã mất hai ngày leo, và ra tới chỗ nhìn thấy một dãy đỉnh núi tuyết thắt ngang cả chân trời, những ngọn núi cao năm sáu nghìn mét, trông gần tới mức tưởng ném đá trúng được, dù chúng ở xa năm sáu chục dặm. Đỉnh đèo phủ một khu rừng rậm tối: tuyết tùng, óc chó, anh đào dại, ô-liu dại, lê dại, nhưng phần lớn là tuyết tùng Hi-ma-lay-a. Dưới bóng những cây tuyết tùng có một ngôi miếu bỏ hoang thờ nữ thần Ca-li, người cũng là Đuốc-ga, cũng là Xi-ta-la, đôi khi được thờ để trừ bệnh đậu mùa.
Pu-run Đát quét sạch nền đá, mỉm cười với pho tượng đang nhe răng, đắp cho mình một cái bếp đất nhỏ phía sau miếu, trải tấm da linh dương lên lớp lá thông tươi, kẹp cây nạng cán đồng dưới nách, rồi ngồi xuống nghỉ.
Ngay bên dưới ông, sườn đồi đổ xuống, trống trải quang đãng sâu tới gần năm trăm mét, nơi một ngôi làng nhỏ có những ngôi nhà tường đá, mái đất nện, bám vào con dốc đứng. Xung quanh làng, những thửa ruộng bậc thang tí xíu trải ra như những chiếc tạp dề chắp vá đặt trên đầu gối núi, và những con bò không to hơn con bọ gặm cỏ giữa những vòng đá nhẵn của các sân đập lúa. Nhìn sang bên kia thung lũng, mắt bị kích thước của mọi vật đánh lừa, ban đầu không nhận ra cái trông như bụi rậm thấp trên sườn núi đối diện thật ra là cả một khu rừng thông cao ba chục mét. Pu-run Ba-gát thấy một con đại bàng sà ngang qua lòng chảo khổng lồ, nhưng chưa bay được nửa đường con chim lớn đã nhỏ lại chỉ còn một chấm. Vài dải mây rải rác giăng lên giăng xuống dọc thung lũng, mắc vào một vai đồi, hoặc bay lên rồi tan đi khi ngang tầm đỉnh đèo.
— Ở đây ta sẽ tìm được bình yên, — Pu-run Ba-gát nói.
Người miền núi chẳng coi vài trăm mét lên xuống ra gì. Vừa thấy khói trong ngôi miếu bỏ hoang, thầy cúng của làng đã leo lên sườn đồi bậc thang để chào đón người lạ.
Khi gặp ánh mắt của Pu-run Ba-gát, ánh mắt của một người quen điều khiển hàng nghìn người, ông cúi rạp xuống đất, không nói một lời cầm lấy cái bát khất thực, rồi quay về làng nói:
— Cuối cùng chúng ta đã có một vị thánh. Ta chưa bao giờ thấy người nào như thế. Ông ấy người đồng bằng, nhưng da sáng, một người Bà-la-môn giữa những người Bà-la-môn.
Thế là mọi bà nội trợ trong làng hỏi nhau: "Liệu ông ấy có ở lại với chúng ta không?", và bà nào cũng cố nấu bữa ăn ngon nhất cho vị thánh. Đồ ăn miền núi rất giản dị, nhưng với kiều mạch và ngô, gạo và ớt đỏ, cá nhỏ bắt dưới suối thung lũng, mật ong từ những tổ ong xây như ống khói trong tường đá, mơ khô, nghệ, gừng dại và bánh bột nướng, một người đàn bà mộ đạo có thể làm ra những món ngon, và thầy cúng mang tới cho vị thánh một bát đầy. Ngài có định ở lại không, thầy cúng hỏi. Ngài có cần một đệ tử đi xin ăn cho ngài không? Ngài có chăn để chống rét không? Đồ ăn có ngon không?
Pu-run Ba-gát ăn, rồi cảm ơn người cho. Ông định ở lại. Thế là đủ, thầy cúng nói. Cứ đặt cái bát khất thực bên ngoài miếu, trong cái hốc giữa hai cái rễ xoắn kia, và ngày nào vị thánh cũng sẽ có cơm ăn. Ông rụt rè nhìn vào mặt vị thánh mà nói thêm rằng cả làng thấy vinh dự khi một người như thế chịu dừng chân lại giữa họ.
Ngày hôm ấy khép lại cuộc lang thang của Pu-run Ba-gát. Ông đã tới nơi dành sẵn cho mình: sự tĩnh lặng và khoảng trống. Từ đó thời gian ngừng lại, và ông ngồi ở cửa miếu, không biết mình còn sống hay đã chết, là một con người còn điều khiển được tay chân, hay đã là một phần của núi đồi, của mây, của mưa và nắng đổi thay. Ông khẽ niệm một Danh hiệu trăm lần, rồi trăm lần nữa, cho tới khi mỗi lần niệm ông như càng thoát ra khỏi thân xác mình, bay lên tới tận cửa một khám phá lớn lao nào đó. Nhưng đúng lúc cánh cửa sắp mở, thân xác lại kéo ông về, và ông buồn bã thấy mình lại bị nhốt trong thịt xương của Pu-run Ba-gát.
Mỗi sáng, cái bát khất thực đầy ắp lại được lặng lẽ đặt vào hốc rễ bên ngoài miếu. Có khi thầy cúng mang tới. Có khi là một người buôn từ La-đắc trọ trong làng, muốn tích chút công đức, lặn lội leo lên lối mòn. Nhưng thường nhất là người đàn bà đã nấu bữa ăn từ tối hôm trước, và bà thì thầm, khẽ như hơi thở:
— Xin ngài nói giúp cho con trước thần linh. Nói giúp cho người ấy, vợ của người kia!
Thỉnh thoảng có đứa trẻ bạo dạn được ban vinh dự mang bát lên, và Pu-run Ba-gát nghe nó đặt bát xuống rồi chạy nhanh hết sức đôi chân bé xíu. Nhưng vị thánh không bao giờ xuống làng. Ngôi làng trải ra như tấm bản đồ dưới chân ông. Ông thấy những buổi tụ họp chiều tối trên vòng tròn sân đập lúa, vì đó là chỗ bằng phẳng duy nhất. Ông thấy màu xanh kỳ diệu không tên của lúa non, màu xanh chàm của ngô, những vạt kiều mạch như lá chút chít, và đúng mùa thì cả sắc đỏ của hoa dền, thứ hạt nhỏ xíu chẳng phải ngũ cốc cũng chẳng phải đậu, nên làm ra thứ thức ăn mà người ta được phép ăn trong những ngày chay.
Khi năm tàn, mái những túp nhà đều thành những ô vuông nhỏ vàng ròng, vì người ta phơi bắp ngô trên mái. Mùa lấy mật, mùa gặt, mùa gieo lúa, mùa giã gạo, tất cả lần lượt trôi qua trước mắt ông, thêu trên những mảnh ruộng nhiều cạnh dưới kia. Ông nghĩ về tất cả, và tự hỏi rốt cuộc chúng dẫn tới đâu.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn