Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Vụ án trong phòng ngủ khoá trái

Que diêm Thuỵ Điển · Chương 1/2 · của Anton Chekhov

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 16.949 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Sáng ngày sáu tháng Mười năm 1885, tại văn…
  2. 3:55Có lẽ nào, thưa các ông? Chu-bi-cốp lên tiếng,…
  3. 6:31Trên sàn chẳng thấy gì đặc biệt, Điu-cốp-xki nói.…
  4. 8:19Tuyệt. Thế nghĩa là bọn chúng mặc đồ xanh.
  5. 10:38Do một người có học thức gây ra, Điu-cốp-xki…
  6. 13:07Bị giết rồi, bẩm quan lớn.
  7. 14:23Anh có dan díu với A-cun-ca không?
  8. 15:43Chị ta từ chỗ ông chuyển sang ông Clia-u-dốp…

Chương 1: Vụ án trong phòng ngủ khoá trái

Sáng ngày sáu tháng Mười năm 1885, tại văn phòng viên cảnh sát trưởng khu hai huyện X., có một chàng trai trẻ ăn mặc tươm tất đến trình báo rằng chủ của anh ta, ông Mác I-va-nô-vích Clia-u-dốp, cựu thiếu uý kỵ binh cận vệ, đã bị giết. Khi trình báo, chàng trai mặt tái mét và hết sức hoảng hốt. Hai tay anh ta run lẩy bẩy, đôi mắt đầy vẻ kinh hoàng.

— Tôi có vinh dự được nói chuyện với ai đây? viên cảnh sát trưởng hỏi anh ta.

— Pxê-cốp, quản lý điền trang của ông Clia-u-dốp. Kỹ sư nông nghiệp kiêm thợ máy.

Viên cảnh sát trưởng và mấy người chứng, cùng Pxê-cốp đến nơi xảy ra sự việc, thấy cảnh như sau. Quanh dãy nhà phụ nơi ông Clia-u-dốp ở, cả một đám đông đang chen chúc. Tin dữ đã lan nhanh như chớp khắp vùng, và nhân hôm ấy là ngày lễ, dân chúng từ khắp các làng quanh đó kéo về dãy nhà phụ. Tiếng ồn ào, bàn tán. Đây đó gặp những khuôn mặt xanh xao, nước mắt ròng ròng. Cửa phòng ngủ của ông Clia-u-dốp bị khoá trái. Chìa khoá vẫn cắm ở phía trong.

— Rõ ràng là bọn gian ác đã lẻn vào chỗ ông ấy qua cửa sổ, Pxê-cốp nhận xét khi xem xét cánh cửa.

Mọi người đi ra vườn, nơi có cửa sổ phòng ngủ trông ra. Cửa sổ trông u ám, đầy vẻ gở. Nó được che bằng một tấm rèm xanh lá đã bạc màu. Một góc rèm hơi bị vén lên, nhờ thế có thể nhìn vào phòng ngủ.

— Có ai trong các anh đã nhìn qua cửa sổ chưa? viên cảnh sát trưởng hỏi.

— Bẩm quan, chưa ạ, bác làm vườn Ê-phrem đáp, một ông già nhỏ thó, tóc bạc trắng, mặt như một viên hạ sĩ về hưu. Ai mà còn bụng dạ nào nhìn ngó, khi chân tay cứ run cầm cập thế này!

— Chà, ông Mác I-va-nứt, ông Mác I-va-nứt ơi! viên cảnh sát trưởng thở dài, nhìn lên cửa sổ. Tôi đã bảo ông rồi, ông sẽ chết không yên lành đâu! Tôi đã bảo ông, ông bạn tội nghiệp, ông chẳng chịu nghe! Ăn chơi trác táng chẳng bao giờ đưa đến điều tốt!

— Phải cảm ơn bác Ê-phrem, Pxê-cốp nói, không có bác ấy thì chúng tôi cũng chẳng đoán ra được. Bác ấy là người đầu tiên nghĩ rằng có điều gì không ổn. Sáng nay bác đến gặp tôi và bảo: «Sao ông chủ nhà mình ngủ lâu thế? Cả tuần rồi không ra khỏi phòng!». Bác vừa nói thế, tôi như bị ai lấy sống rìu nện vào đầu… Một ý nghĩ loé lên ngay… Ông ấy không xuất hiện từ thứ Bảy tuần trước, mà hôm nay đã là Chủ nhật! Bảy ngày, chứ có phải chuyện đùa!

— Phải, ông bạn tội nghiệp… viên cảnh sát trưởng lại thở dài. Một người thông minh, có học, tốt bụng thế. Trong bạn bè, có thể nói, là người số một. Nhưng mà trác táng, cầu cho được lên thiên đàng! Tôi đã chờ đợi mọi điều! Xtê-pan, viên cảnh sát trưởng quay sang một người chứng, đi ngay về nhà tôi, sai thằng An-đriu-sca lên ông cảnh sát huyện mà báo cáo! Bảo là: ông Mác I-va-nứt bị giết rồi! Rồi chạy qua chỗ viên cảnh sát hạ sĩ, hắn ngồi mát ăn bát vàng ở đó làm gì? Bảo hắn đến đây! Còn anh thì đi càng nhanh càng tốt tới chỗ ông dự thẩm Ni-cô-lai Éc-mô-lai-ích, bảo ông ấy đến đây! Khoan, để tôi viết cho ông ấy một lá thư.

Viên cảnh sát trưởng cắt người canh gác quanh dãy nhà phụ, viết thư cho ông dự thẩm, rồi sang chỗ người quản lý uống trà. Chừng mười phút sau, ông ta đã ngồi trên ghế đẩu, thận trọng cắn từng miếng đường và nhấp chén trà nóng như than hồng.

— Thế đấy ạ… ông ta nói với Pxê-cốp. Thế đấy ạ… Một nhà quý tộc, một người giàu có… có thể nói là con cưng của thần linh, như lời Pút-kin, thế mà rốt cuộc ra sao? Chẳng ra sao cả! Rượu chè, trác táng, và… thế đấy!… bị giết.

Hai tiếng đồng hồ sau, ông dự thẩm tới. Ông Ni-cô-lai Éc-mô-lai-ê-vích Chu-bi-cốp (đó là tên ông dự thẩm), một ông già cao lớn, vạm vỡ, trạc sáu mươi, đã hành nghề được một phần tư thế kỷ. Cả huyện đều biết ông là người lương thiện, thông minh, năng nổ và yêu nghề. Cùng đến hiện trường với ông là người bạn đồng hành không thể thiếu của ông, người phụ tá kiêm thư ký Điu-cốp-xki, một chàng trai cao lớn chừng hai mươi sáu tuổi.

— Có lẽ nào, thưa các ông? Chu-bi-cốp lên tiếng, bước vào phòng Pxê-cốp và vội vã bắt tay mọi người. Có lẽ nào? Ông Mác I-va-nứt ư? Bị giết ư? Không, không thể nào! Không thể nào được!

— Thế mới khổ chứ… viên cảnh sát trưởng thở dài.

— Lạy Chúa tôi! Mới thứ Sáu tuần trước tôi còn gặp ông ấy ở hội chợ Ta-ra-ban-cô-vô! Xin lỗi, tôi còn uống rượu với ông ấy!

— Thế mới khổ chứ… viên cảnh sát trưởng lại thở dài.

Họ thở dài một lúc, kinh hãi một lúc, uống mỗi người một cốc trà, rồi đi tới dãy nhà phụ.

— Tránh ra! viên cảnh sát hạ sĩ quát đám đông.

Vào trong dãy nhà phụ, ông dự thẩm trước hết khám xét cánh cửa phòng ngủ. Cánh cửa làm bằng gỗ thông, sơn màu vàng và còn nguyên vẹn. Chẳng tìm thấy dấu vết gì đặc biệt có thể làm manh mối. Người ta bắt đầu phá cửa.

— Thưa các ông, xin những ai không phận sự hãy ra ngoài! ông dự thẩm nói, khi sau một hồi đập gõ răng rắc, cánh cửa đã chịu thua chiếc rìu và cái đục. Tôi xin thế vì lợi ích của cuộc điều tra… Hạ sĩ, không cho ai vào!

Chu-bi-cốp, người phụ tá của ông và viên cảnh sát trưởng mở cửa, rồi rụt rè lần lượt từng người bước vào phòng ngủ. Trước mắt họ là cảnh tượng sau đây. Bên ô cửa sổ duy nhất kê một chiếc giường gỗ lớn với tấm đệm lông vũ đồ sộ. Trên tấm đệm nhàu nát là tấm chăn vo tròn, nhăn nhúm. Chiếc gối bọc vải hoa, cũng nhàu nát lắm, nằm lăn lóc dưới sàn. Trên chiếc bàn nhỏ trước giường có một chiếc đồng hồ bạc và một đồng bạc hai hào. Cũng ở đó có mấy que diêm lưu huỳnh. Ngoài chiếc giường, chiếc bàn nhỏ và chiếc ghế duy nhất, trong phòng ngủ chẳng còn đồ đạc gì khác. Ngó xuống gầm giường, viên cảnh sát trưởng thấy vài chục cái chai rỗng, một chiếc mũ rơm cũ và một bình vốt-ca lớn. Dưới gầm bàn lăn lóc một chiếc ủng phủ đầy bụi. Đưa mắt nhìn khắp căn phòng, ông dự thẩm cau mày và đỏ mặt.

— Đồ khốn nạn! ông lẩm bẩm, nắm chặt nắm đấm.

— Thế ông Mác I-va-nứt đâu rồi? Điu-cốp-xki khẽ hỏi.

— Xin anh đừng xen vào! Chu-bi-cốp nói với anh ta một cách thô bạo. Anh đi mà khám xét sàn nhà! Đây là vụ thứ hai như thế trong đời làm nghề của tôi, ông Ép-graph Cu-dơ-mích ạ, ông quay sang viên cảnh sát trưởng, hạ giọng. Năm 1870 tôi cũng gặp một vụ như thế. Chắc ông còn nhớ… Vụ giết ông lái buôn Poóc-trê-tốp. Ở đấy cũng thế. Bọn khốn giết người rồi lôi xác qua cửa sổ…

Chu-bi-cốp đi tới bên cửa sổ, kéo tấm rèm sang một bên và thận trọng đẩy cánh cửa sổ. Cửa sổ mở ra.

— Mở được, nghĩa là không cài… Hừm!… Có dấu vết trên bậu cửa sổ. Thấy không? Đây là dấu đầu gối… Có ai đã trèo từ ngoài vào… Phải khám xét cửa sổ cho thật kỹ mới được.

— Trên sàn chẳng thấy gì đặc biệt, Điu-cốp-xki nói. Không có vết bẩn, không có vết cào. Chỉ tìm thấy một que diêm Thuỵ Điển đã cháy. Nó đây! Theo tôi nhớ thì ông Mác I-va-nứt không hút thuốc; còn trong sinh hoạt hằng ngày ông ấy dùng diêm lưu huỳnh, tuyệt nhiên không dùng diêm Thuỵ Điển. Que diêm này có thể làm tang vật…

— Ôi… thôi im đi cho, xin anh đấy! ông dự thẩm khoát tay. Lại xông vào với que diêm của anh! Tôi không chịu nổi những cái đầu nóng! Đi tìm diêm thì anh khám cái giường đi còn hơn!

Khám xong cái giường, Điu-cốp-xki báo cáo:

— Không có vết máu, cũng không có vết bẩn nào khác… Cũng không có chỗ rách mới. Trên gối có vết răng. Tấm chăn bị đổ một thứ chất lỏng có mùi bia và vị cũng của bia… Toàn cảnh chiếc giường cho phép nghĩ rằng đã có một cuộc vật lộn trên đó.

— Không cần anh tôi cũng biết là có vật lộn! Người ta đâu hỏi anh về vật lộn. Đi tìm vật lộn thì anh nên…

— Một chiếc ủng ở đây, còn chiếc kia thì không thấy.

— Thế thì đã sao?

— Thì là ông ấy bị bóp cổ khi đang cởi ủng. Ông ấy chưa kịp cởi chiếc ủng kia thì…

— Lại nói nhăng!… Mà sao anh biết ông ấy bị bóp cổ?

— Trên gối có vết răng. Bản thân cái gối bị nhàu nát dữ dội và bị quăng cách giường gần hai mét.

— Lại huyên thuyên, cái đồ ba hoa! Ra vườn đi thì hơn. Anh ra vườn mà xem xét thì hơn là bới bới ở đây… Việc này không cần anh tôi cũng làm được.

Ra đến vườn, cuộc điều tra trước tiên khám xét đám cỏ. Cỏ dưới cửa sổ bị giẫm nát. Bụi ngưu bàng dưới cửa sổ sát chân tường cũng bị giẫm nát. Điu-cốp-xki tìm được trên đó mấy cành nhỏ bị gãy và một mẩu bông. Trên những cái đầu quả gai phía trên tìm thấy mấy sợi lông mảnh bằng len màu xanh sẫm.

— Bộ quần áo cuối cùng của ông ấy màu gì? Điu-cốp-xki hỏi Pxê-cốp.

— Màu vàng, bằng vải buồm.

— Tuyệt. Thế nghĩa là bọn chúng mặc đồ xanh.

Mấy cái đầu quả gai được cắt ra và cẩn thận gói vào giấy. Lúc ấy ông cảnh sát huyện Ác-xư-ba-sép Xvi-xta-cốp-xki và bác sĩ Tiu-tiu-ép tới. Ông cảnh sát huyện chào hỏi rồi lập tức bắt tay vào thoả mãn trí tò mò của mình; còn ông bác sĩ, một người cao lớn và gầy đét đến cùng cực, mắt sâu hoắm, mũi dài, cằm nhọn, chẳng chào ai, chẳng hỏi gì, ngồi xuống một gốc cây, thở dài và nói:

— Bọn Xéc-bi lại nhốn nháo rồi! Chúng nó cần gì không biết! Ôi, nước Áo, nước Áo! Toàn là trò của mày cả!

Khám xét cửa sổ từ bên ngoài chẳng đem lại gì cả; còn khám xét đám cỏ và những bụi cây gần cửa sổ thì cho cuộc điều tra nhiều manh mối có ích. Chẳng hạn, Điu-cốp-xki đã lần theo được trên cỏ một vệt dài sẫm màu, gồm những đốm loang lổ, kéo dài từ cửa sổ sâu vào trong vườn vài sải tay. Vệt ấy kết thúc dưới một bụi tử đinh hương bằng một vết lớn màu nâu sẫm. Dưới chính bụi cây ấy tìm thấy một chiếc ủng, hoá ra là chiếc cùng đôi với chiếc ủng tìm thấy trong phòng ngủ.

— Đây là máu đã lâu! Điu-cốp-xki nói, xem xét những vết loang.

Nghe đến chữ «máu», ông bác sĩ đứng dậy, uể oải liếc qua mấy vết loang.

— Phải, máu, ông lẩm bẩm.

— Thế nghĩa là không bị bóp cổ, nếu có máu! Chu-bi-cốp nói, nhìn Điu-cốp-xki đầy mỉa mai.

— Trong phòng ngủ ông ấy bị bóp cổ, còn ở đây, sợ ông ấy sống lại, chúng đã đâm ông ấy bằng một vật gì sắc nhọn. Vết loang dưới bụi cây cho thấy ông ấy đã nằm đó một thời gian tương đối lâu, trong khi chúng tìm cách xem mang ông ấy ra khỏi vườn bằng gì và thế nào.

— Thế còn chiếc ủng?

— Chiếc ủng này càng khẳng định ý tôi rằng ông ấy bị giết khi đang cởi ủng trước lúc đi ngủ. Một chiếc ông ấy đã cởi ra, còn chiếc kia, tức là chiếc này, ông ấy mới kịp cởi được một nửa. Chiếc ủng cởi dở ấy trong lúc bị lắc và ngã đã tự tuột ra…

— Ra cái điều sáng dạ nhỉ! Chu-bi-cốp cười khẩy. Cứ thế mà phang, cứ thế mà phang! Bao giờ anh mới bỏ được cái thói xông vào với những suy luận của mình? Suy luận thì anh lấy một ít cỏ dính máu đem đi phân tích còn hơn!

Khám xét xong và vẽ sơ đồ hiện trường, đoàn điều tra sang chỗ người quản lý để viết biên bản và ăn sáng. Trong bữa ăn, mọi người trò chuyện.

— Đồng hồ, tiền bạc và các thứ khác… còn nguyên cả, Chu-bi-cốp mở đầu câu chuyện. Rõ như hai với hai là bốn, vụ giết người không vì mục đích tư lợi.

— Do một người có học thức gây ra, Điu-cốp-xki chen vào.

— Anh lấy đâu ra kết luận ấy?

— Tôi có que diêm Thuỵ Điển trong tay, thứ mà nông dân vùng này còn chưa biết dùng. Loại diêm ấy chỉ có các ông địa chủ dùng, mà cũng không phải ai cũng dùng. Nhân tiện nói luôn, kẻ giết người không phải một, mà ít nhất là ba: hai đứa giữ, còn đứa thứ ba bóp cổ. Ông Clia-u-dốp khoẻ, và bọn giết người hẳn phải biết điều đó.

— Sức khoẻ thì có ích gì cho ông ấy, nếu, chẳng hạn, ông ấy đang ngủ?

— Bọn giết người bắt gặp ông ấy đang cởi ủng. Đang cởi ủng, tức là không ngủ.

— Đừng có bịa đặt! Ăn đi thì hơn!

— Theo thiển ý của tôi, bẩm quan lớn, bác làm vườn Ê-phrem nói, đặt ấm xa-mô-va lên bàn, cái trò bẩn thỉu này chẳng phải ai khác làm, mà chính là thằng Ni-cô-la-sca.

— Rất có thể, Pxê-cốp nói.

— Thế Ni-cô-la-sca là ai?

— Là người hầu phòng của ông chủ, bẩm quan lớn, Ê-phrem đáp. Không phải nó thì còn ai vào đây? Một thằng cướp, bẩm quan lớn! Bợm rượu và trác táng đến mức lạy Đức Bà trên trời tránh cho! Rượu cho ông chủ bao giờ cũng do nó mang lên, ông chủ đi ngủ cũng do nó đặt lên giường… Không phải nó thì còn ai? Lại nữa, con xin mạo muội thưa quan lớn, có lần cái thằng ranh con ấy khoe ở quán rượu là nó sẽ giết ông chủ. Tất cả là vì con A-cun-ca, vì một mụ đàn bà… Nó có một mụ vợ lính như thế… Ông chủ ưng mụ ấy, ông chủ cho mụ lại gần mình, thế là thằng kia… dĩ nhiên, nổi cáu… Giờ nó đang say khướt nằm lăn trong bếp kia. Khóc lóc… Nói dối là thương ông chủ…

— Mà quả thật, vì A-cun-ca thì cũng đáng nổi cáu, Pxê-cốp nói. Chị ta là vợ lính, là đàn bà nhà quê, nhưng mà… Chẳng phải tự nhiên mà ông Mác I-va-nứt đặt cho chị ta biệt danh là Na-na. Ở chị ta có cái gì đó gợi nhớ đến nàng Na-na trong tiểu thuyết… quyến rũ…

— Đã thấy rồi… Biết rồi… ông dự thẩm nói, hỉ mũi vào chiếc khăn tay đỏ.

Điu-cốp-xki đỏ mặt và cụp mắt xuống. Viên cảnh sát trưởng gõ ngón tay lên cái đĩa nhỏ. Ông cảnh sát huyện ho khục khặc và chẳng biết để làm gì lục lọi trong cặp tài liệu. Xem chừng chỉ có mỗi ông bác sĩ là không bị chút ảnh hưởng nào khi nghe nhắc đến A-cun-ca và Na-na. Ông dự thẩm ra lệnh dẫn Ni-cô-la-sca tới. Ni-cô-la-sca, một gã trai trẻ cao lêu nghêu, mũi dài rỗ, ngực lép, mặc chiếc áo vét-tông của ông chủ thải ra, bước vào phòng Pxê-cốp và cúi rạp xuống chân ông dự thẩm. Mặt gã ngái ngủ và đẫm nước mắt. Gã say mèm, đứng không vững.

— Ông chủ đâu? Chu-bi-cốp hỏi gã.

— Bị giết rồi, bẩm quan lớn.

Nói xong câu ấy, Ni-cô-la-sca chớp chớp mắt rồi khóc.

— Biết là bị giết rồi. Nhưng bây giờ ông ấy ở đâu? Xác ông ấy ở đâu?

— Nghe nói người ta lôi qua cửa sổ rồi chôn ngoài vườn.

— Hừm!… Kết quả điều tra dưới bếp đã biết cả rồi… Tệ thật. Này anh bạn, đêm ông chủ bị giết anh ở đâu? Tức là đêm thứ Bảy ấy?

Ni-cô-la-sca ngẩng đầu lên, vươn cổ ra và nghĩ ngợi.

— Con không biết được, bẩm quan lớn, gã nói. Con có uống rượu, nên không nhớ.

— Không có chứng cứ ngoại phạm! Điu-cốp-xki thì thầm, cười khẩy và xoa hai tay vào nhau.

— Thế ạ. Thế còn vì sao dưới cửa sổ phòng ông chủ lại có máu?

Ni-cô-la-sca ngửa đầu lên và nghĩ ngợi.

— Nghĩ nhanh lên! ông cảnh sát huyện nói.

— Ngay đây ạ. Máu ấy là từ chuyện vặt thôi, bẩm quan lớn. Con cắt tiết con gà. Con cắt tiết nó rất bình thường, như mọi khi, thế mà nó lại vùng ra khỏi tay, lại chạy biến đi… Máu là từ đấy đấy ạ.

Ê-phrem khai rằng quả thật tối nào Ni-cô-la-sca cũng cắt tiết gà, và ở nhiều chỗ khác nhau, nhưng chưa ai thấy con gà cắt tiết dở nào chạy khắp vườn cả, tuy vậy cũng không thể hoàn toàn bác bỏ chuyện đó.

— Không có chứng cứ ngoại phạm, Điu-cốp-xki cười khẩy. Mà lời chối mới ngu ngốc làm sao!

— Anh có dan díu với A-cun-ca không?

— Có tội ấy ạ.

— Thế ông chủ có dụ dỗ mất chị ta của anh không?

— Bẩm không ạ. A-cun-ca bị cướp khỏi tay con là do ông đây, ông Pxê-cốp, ông I-van Mi-khai-lích ạ, còn ông chủ thì cướp từ tay ông I-van Mi-khai-lích. Chuyện là như thế.

Pxê-cốp bối rối và bắt đầu dụi dụi mắt trái. Điu-cốp-xki xoáy mắt vào anh ta, đọc thấy vẻ bối rối, và giật nảy mình. Trên người viên quản lý, anh nhìn thấy chiếc quần dài màu xanh lam, thứ trước đó anh không để ý. Chiếc quần làm anh nhớ đến những sợi lông xanh tìm thấy trên bụi ngưu bàng. Đến lượt Chu-bi-cốp cũng nhìn Pxê-cốp đầy nghi ngờ.

— Đi ra! ông bảo Ni-cô-la-sca. Còn bây giờ, xin cho phép tôi hỏi ông một câu, ông Pxê-cốp. Đêm thứ Bảy rạng Chủ nhật, dĩ nhiên ông ở đây chứ?

— Vâng, mười giờ tôi ăn tối với ông Mác I-va-nứt.

— Thế rồi sau đó?

Pxê-cốp bối rối và đứng dậy khỏi bàn.

— Sau đó… sau đó… Thật tình, tôi không nhớ, anh ta lắp bắp. Hôm ấy tôi uống nhiều quá… Không nhớ ngủ ở đâu và lúc nào… Sao mọi người nhìn tôi như thế? Cứ như tôi giết người không bằng!

— Ông thức dậy ở đâu?

— Tôi thức dậy trên bệ lò sưởi trong bếp của gia nhân… Ai cũng có thể xác nhận. Làm sao tôi lên được bệ lò, tôi không biết…

— Ông đừng hồi hộp… Ông có biết A-cu-li-na không?

— Có gì đặc biệt đâu…

— Chị ta từ chỗ ông chuyển sang ông Clia-u-dốp phải không?

— Vâng… Bác Ê-phrem, cho thêm nấm đi! Ông dùng trà nhé, ông Ép-graph Cu-dơ-mích?

Im lặng bao trùm, một sự im lặng nặng nề, rờn rợn, kéo dài chừng năm phút. Điu-cốp-xki im lặng và không rời đôi mắt sắc như dao khỏi gương mặt tái nhợt của Pxê-cốp. Ông dự thẩm phá vỡ im lặng.

— Phải sang ngôi nhà lớn, ông nói, nói chuyện ở đó với em gái người quá cố, cô Ma-ri-a I-va-nốp-na. Biết đâu cô ấy cho chúng ta manh mối gì đó.

Chu-bi-cốp và người phụ tá cảm ơn bữa sáng rồi sang nhà chủ. Họ gặp em gái ông Clia-u-dốp, cô Ma-ri-a I-va-nốp-na, một bà cô bốn mươi lăm tuổi chưa chồng, đang cầu nguyện trước khám thờ cao lớn của gia đình. Thấy trong tay khách những chiếc cặp tài liệu và những chiếc mũ có huy hiệu, cô tái mặt.

— Trước hết tôi xin lỗi vì đã làm phiền, có thể nói như vậy, tâm trạng cầu nguyện của cô, Chu-bi-cốp lịch thiệp mở đầu, chân lùi lại cúi chào. Chúng tôi đến có việc nhờ cô. Hẳn cô đã nghe… Có nghi vấn rằng anh trai cô, theo một cách nào đó, đã bị giết. Ý Chúa, cô biết đấy… Chẳng ai tránh khỏi cái chết, vua chúa cũng như người cày ruộng. Cô có thể giúp chúng tôi một manh mối, một lời giải thích nào đó không…

— Ôi, đừng hỏi tôi! Ma-ri-a I-va-nốp-na nói, càng tái mặt hơn và lấy hai tay che mặt. Tôi chẳng thể nói gì với các ông được! Chẳng gì cả! Tôi van các ông! Tôi chẳng… Tôi làm được gì? Ôi, không, không… không một lời nào về anh tôi! Có chết tôi cũng không nói!

Ma-ri-a I-va-nốp-na oà khóc và đi sang phòng khác. Hai nhà điều tra nhìn nhau, nhún vai rồi rút lui.

— Mụ đàn bà quỷ quái! Điu-cốp-xki rủa khi ra khỏi ngôi nhà lớn. Xem chừng mụ biết điều gì đó và đang giấu. Cả trên mặt cô hầu phòng cũng như có viết chữ gì… Khoan đã, lũ quỷ các người! Tôi sẽ làm rõ tất cả!

— Hết chương 1 —

Mục lục Que diêm Thuỵ Điển

  1. 1Vụ án trong phòng ngủ khoá trái17 phút
  2. 2Người đàn bà thứ tưĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1884
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Шведская спичка, 1884
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →