Chương 1: Phần một. Mụ già cưỡi lên lưng
Vi là tên dân gian xứ U-crai-na gọi vị chúa của lũ quỷ lùn, mi mắt sụp dài chấm đất. Câu chuyện này là một truyện kể dân gian.
Mỗi buổi sáng ở Ki-ép, hễ tiếng chuông khá vang của trường dòng, treo ở cổng tu viện Huynh Đệ, vừa đánh lên, là học trò từ khắp thành phố đã lũ lượt đổ về. Học trò lớp ngữ pháp, lớp tu từ, lớp triết học, lớp thần học, kẹp vở dưới nách, lững thững đến lớp.
Học trò lớp ngữ pháp còn rất nhỏ. Vừa đi chúng vừa xô đẩy nhau, chửi nhau bằng giọng kim mảnh nhất. Gần như đứa nào cũng mặc quần áo rách tươm hoặc bẩn thỉu, túi lúc nào cũng nhét đầy đủ thứ linh tinh: xương chơi đánh khăng, còi làm bằng lông chim, bánh ăn dở, đôi khi cả chim sẻ con. Có lần một con chim bỗng chiêm chiếp giữa lúc lớp học im phăng phắc, khiến cậu chủ của nó lãnh đủ một trận thước kẻ vào cả hai lòng bàn tay, có khi cả roi anh đào.
Học trò lớp tu từ đi đứng đường hoàng hơn. Quần áo của chúng thường còn lành lặn, nhưng bù lại trên mặt hầu như lúc nào cũng có một thứ trang sức nào đó, kiểu như một hình thái tu từ: khi thì một con mắt sưng híp lên tận trán, khi thì cả cái môi thành một bong bóng, hoặc một dấu vết gì khác. Bọn này nói chuyện và thề thốt với nhau bằng giọng nam cao.
Học trò lớp triết học thì xuống thấp hơn cả một quãng tám. Trong túi chúng chẳng có gì ngoài những rễ thuốc lá thật nặng. Chúng chẳng để dành gì, gặp gì ăn nấy ngay. Mùi tẩu thuốc và mùi rượu mạnh trên người chúng bay xa đến nỗi người thợ thủ công đi ngang qua còn dừng lại, khịt mũi ngửi không khí hồi lâu như con chó săn.
Giờ ấy chợ thường vừa bắt đầu nhộn nhịp. Mấy bà bán bánh vòng, bánh mì, hạt dưa và bánh hạt anh túc cứ níu lấy vạt áo của những ai có vạt áo bằng dạ mịn hay vải bông.
– Các cậu ơi! Các cậu ơi! Lại đây! Lại đây! Họ gọi từ khắp phía. Bánh vòng đây, bánh hạt anh túc đây, bánh xoắn đây, bánh mì ngon đây! Có Chúa chứng giám, ngon lắm! Nướng bằng mật ong! Tự tay tôi nướng đấy!
Một bà khác giơ lên một thứ gì dài dài xoắn bằng bột, kêu:
– Bánh que đây! Các cậu ơi, mua bánh que đi!
– Đừng mua gì của mụ ấy: xem kìa, mụ xấu xí thế, mũi chẳng ra mũi, tay lại bẩn nữa…
Nhưng học trò lớp triết học và lớp thần học thì các bà không dám động đến, vì bọn này bao giờ cũng thích chỉ lấy ăn thử, mà lấy hẳn cả một vốc.
Đến trường, cả đám đông tản về các lớp, nằm trong những gian phòng thấp nhưng khá rộng rãi, cửa sổ nhỏ, cửa ra vào rộng, những dãy ghế dài bẩn thỉu. Lớp học bỗng đầy những tiếng vo ve đủ giọng. Các trưởng nhóm nghe học trò của mình trả bài. Giọng kim lanh lảnh của một cậu ngữ pháp vang đúng vào tần âm của tấm kính lắp trên khung cửa nhỏ, và tấm kính đáp lại gần y một tiếng như thế. Trong góc, một cậu tu từ ồ ồ, cái miệng và cặp môi dày của cậu đáng ra ít nhất phải thuộc về lớp triết học. Cậu ồ ồ giọng trầm, từ xa chỉ nghe thấy: bu, bu, bu, bu… Các trưởng nhóm vừa nghe bài, vừa đưa một mắt nhìn xuống gầm ghế, nơi trong túi cậu học trò dưới quyền mình ló ra một chiếc bánh mì, hay cái bánh bao, hay mấy hạt bí ngô.
Khi cả đám học trò ấy kịp đến sớm hơn đôi chút, hoặc khi biết các thầy sẽ đến muộn hơn thường lệ, thì cả bọn đồng lòng bày ra một trận đánh nhau. Trận này ai cũng phải tham gia, kể cả các giám thị, những người có bổn phận trông coi trật tự và đạo đức của toàn bộ giới học trò. Hai học trò lớp thần học thường quyết định trận đánh sẽ diễn ra thế nào: mỗi lớp tự đứng riêng một phe, hay tất cả chia làm hai nửa, trường dòng nội trú một bên, chủng viện một bên.
Dù thế nào thì lớp ngữ pháp cũng bao giờ cũng mở màn trước tiên. Lớp tu từ vừa nhảy vào là bọn ngữ pháp đã bỏ chạy, leo lên chỗ cao đứng xem. Rồi lớp triết học với bộ ria đen dài xông vào, cuối cùng là lớp thần học, quần ống rộng khủng khiếp, cổ to bè. Thường thì kết thúc bằng việc lớp thần học đánh bại tất cả, còn lớp triết học xoa sườn, bị dồn về lớp, nằm nghỉ trên ghế dài.
Ông thầy bước vào lớp, chính ông ngày xưa cũng từng dự những trận đánh như thế, chỉ nhìn những khuôn mặt đỏ bừng của học trò là biết ngay trận đánh không tồi. Thế là trong khi ông lấy roi quất vào ngón tay lớp tu từ, thì ở lớp bên, một ông thầy khác lấy thước gỗ phết vào tay lớp triết học. Còn với lớp thần học thì đối xử hoàn toàn khác: theo lời ông thầy dạy thần học, họ được đong cho mỗi người một đấu "đậu Hà Lan hạt to", tức là mấy roi da ngắn.
Vào những ngày long trọng và ngày lễ, học trò mang những sân khấu múa rối Giáng sinh đi diễn từng nhà. Đôi khi họ diễn kịch, và trong trường hợp ấy bao giờ cũng nổi bật một cậu thần học nào đó, cao chẳng thua tháp chuông Ki-ép là mấy, đóng vai nàng Hê-rô-đi-a hay vai vợ viên quan triều đình Ai Cập. Phần thưởng họ nhận được là một tấm vải lanh, hay một bao kê, hay nửa con ngỗng luộc, và những thứ tương tự.
Cả đám người có học ấy, cả chủng viện lẫn trường dòng nội trú, vốn ngấm ngầm mang một mối thù truyền kiếp với nhau, đều cực kỳ nghèo, chẳng có gì mà ăn, lại háu ăn lạ thường. Đến nỗi đếm xem mỗi người trong bữa tối nốc được bao nhiêu viên bánh trôi là hoàn toàn không thể. Vì thế lòng hảo tâm của các chủ nhà giàu có chẳng sao đủ.
Bấy giờ "viện nguyên lão", gồm các triết gia và thần học, cử lớp ngữ pháp và lớp tu từ, dưới sự chỉ huy của một triết gia, đôi khi chính viện nguyên lão cũng nhập bọn, vác bao trên vai đi vét sạch vườn rau của người khác. Thế là trong trường dòng xuất hiện món cháo bí ngô. Các vị nguyên lão ăn nhiều dưa hấu dưa gang đến nỗi hôm sau các trưởng nhóm nghe từ họ không phải một mà hai bài học: một từ miệng, một ùng ục trong bụng vị nguyên lão.
Sự kiện long trọng nhất với chủng viện là kỳ nghỉ, từ tháng sáu, khi trường dòng thường cho học trò về nhà. Bấy giờ khắp đường cái lớn rải rác học trò ngữ pháp, triết học, thần học. Ai không có chỗ về thì đến nhà một bạn nào đó. Các triết gia và thần học đi làm gia sư, tức là nhận dạy dỗ hay luyện thi cho con nhà khá giả, mỗi năm được trả một đôi ủng mới, có khi thêm tiền may áo choàng.
Cả đám kéo nhau đi chung như một đoàn du mục. Họ nấu cháo ăn, ngủ đêm ngoài đồng. Mỗi người kéo theo một cái bao, trong có một chiếc áo sơ mi và một đôi xà cạp. Học trò thần học đặc biệt tằn tiện, cẩn thận: để khỏi mòn ủng, họ cởi ra, treo vào gậy, vác trên vai, nhất là khi đường lầy lội. Bấy giờ họ xắn quần lên tận gối, mạnh dạn lội bì bõm qua các vũng nước.
Hễ thấy xa xa một trang trại, là họ rẽ ngay khỏi đường cái. Đến gần túp nhà nào tươm tất hơn cả, họ đứng thành hàng trước cửa sổ, há to miệng bắt đầu hát thánh ca. Ông chủ nhà, một ông già Cô-dắc làm ruộng nào đó, chống hai tay lên má mà nghe rất lâu, rồi khóc nức nở, quay sang vợ nói: "Bà nó ơi! Cái bọn học trò hát kia chắc là thứ gì khôn ngoan lắm. Mang cho chúng nó ít mỡ lợn và chút gì nhà mình có!" Thế là cả một bát bánh bao lăn vào bao. Một miếng mỡ kha khá, vài ổ bánh mì tròn, có khi cả một con gà trói chân cũng nằm chung trong đó. Lấy lại sức nhờ món dự trữ ấy, học trò ngữ pháp, tu từ, triết học, thần học lại lên đường.
Nhưng càng đi xa, đám đông càng thưa dần. Gần như ai cũng tản về nhà mình, chỉ còn lại những người có tổ ấm cha mẹ ở xa hơn cả.
Một lần, trong một chuyến đi như thế, ba học trò trường dòng rẽ khỏi đường cái, định vào trang trại đầu tiên gặp được để kiếm lương thực, vì bao của họ đã rỗng từ lâu. Đó là học trò thần học Kha-li-a-va, triết gia Khô-ma Brút và học trò tu từ Ti-bê-ri Gô-rô-bét.
Học trò thần học là một gã to cao, vai rộng, tính khí cực kỳ lạ lùng: bất cứ thứ gì nằm cạnh hắn, hắn nhất định ăn cắp. Ngoài ra tính hắn cực kỳ u ám, và khi say khướt thì hắn trốn vào bụi cỏ dại, nhà trường phải vất vả lắm mới tìm ra hắn ở đó.
Triết gia Khô-ma Brút thì tính vui vẻ. Anh rất thích nằm và hút tẩu. Còn hễ uống rượu thì nhất định thuê nhạc công đến rồi nhảy điệu múa dân gian tưng bừng. Anh hay được nếm món "đậu Hà Lan hạt to", nhưng với vẻ dửng dưng hoàn toàn triết học, bảo rằng cái gì phải đến thì sẽ đến.
Học trò tu từ Ti-bê-ri Gô-rô-bét thì chưa có quyền để ria, uống rượu mạnh và hút tẩu. Cậu chỉ để một chỏm tóc trên đỉnh đầu, nên tính cách hồi ấy chưa phát triển mấy. Nhưng xét những cục u to trên trán mà cậu hay mang đến lớp, có thể đoán cậu sẽ thành một chiến binh giỏi. Học trò thần học Kha-li-a-va và triết gia Khô-ma hay túm chỏm tóc cậu mà giật để tỏ lòng che chở, và sai cậu làm sứ giả.
Trời đã tối khi họ rẽ khỏi đường cái. Mặt trời vừa lặn, hơi ấm ban ngày vẫn còn trong không khí. Học trò thần học và triết gia lặng lẽ đi, hút tẩu. Học trò tu từ Ti-bê-ri Gô-rô-bét lấy gậy chém những bông ké mọc hai bên đường. Con đường đi giữa những cụm sồi và phỉ rải rác khắp đồng cỏ. Những sườn dốc thoai thoải và những quả đồi nhỏ, xanh và tròn như những mái vòm, thỉnh thoảng cắt ngang cánh đồng. Hai chỗ có ruộng lúa mạch đen đang chín cho biết sắp tới sẽ có một làng nào đó. Nhưng đã hơn một tiếng kể từ khi đi qua những dải ruộng lúa, vẫn chẳng gặp nhà cửa nào. Hoàng hôn đã phủ tối bầu trời, chỉ còn phía tây nhợt dần chút ánh đỏ thắm sót lại.
– Quỷ thật! Triết gia Khô-ma Brút nói. Cứ tưởng như sắp tới trang trại đến nơi.
Học trò thần học im lặng, nhìn quanh, rồi lại ngậm tẩu vào miệng, và cả bọn tiếp tục đi.
– Có Chúa chứng giám! Triết gia lại dừng lại, nói. Chẳng thấy cái quái gì cả.
– Có khi đi xa hơn sẽ gặp trang trại nào đó, học trò thần học nói, không bỏ tẩu ra.
Nhưng trong lúc ấy trời đã thành đêm, mà là đêm khá tối. Những đám mây nhỏ làm bóng tối thêm dày, và xét mọi dấu hiệu thì chẳng thể chờ trăng sao gì. Đám học trò nhận ra họ đã lạc đường, từ lâu không còn đi trên đường nữa.
Triết gia dò dẫm chân khắp bốn phía, cuối cùng nói cộc lốc:
– Thế đường đâu rồi?
Học trò thần học im lặng, nghĩ ngợi một lúc rồi nói thêm:
– Phải, đêm tối thật.
Học trò tu từ đi sang một bên, bò lần tìm đường, nhưng tay cậu chỉ chạm vào hang cáo. Khắp nơi chỉ toàn thảo nguyên, hình như chưa từng có ai đi qua. Ba người lữ khách cố đi thêm một đoạn nữa, nhưng đâu đâu cũng hoang vu y như thế. Triết gia thử cất tiếng gọi, nhưng giọng anh tắt lịm hẳn khắp bốn phía, không gặp tiếng đáp nào. Mãi một lúc sau mới nghe một tiếng rên yếu ớt, giống tiếng sói tru.
– Xem kìa, làm gì bây giờ? Triết gia nói.
– Làm gì à? Ở lại ngủ ngoài đồng chứ sao! Học trò thần học nói, rồi thò tay vào túi lấy đá lửa, châm lại tẩu.
Nhưng triết gia không đồng ý được. Anh vẫn có thói quen tối nào cũng giấu sẵn một mẩu bánh mì nửa pút với chừng bốn cân mỡ lợn, nên lần này trong bụng anh thấy một nỗi cô đơn không chịu nổi. Thêm nữa, dù vui tính, triết gia vẫn hơi sợ sói.
– Không, Kha-li-a-va, không được đâu, anh nói. Sao lại chẳng ăn uống gì mà nằm duỗi ra như con chó thế được? Thử đi tiếp xem, biết đâu lại gặp nhà nào, mà chẳng uống được chén rượu mạnh trong đêm.
Nghe hai chữ "rượu mạnh", học trò thần học nhổ toẹt sang bên, nói thêm:
– Ừ thì, ở lại ngoài đồng cũng chẳng để làm gì.
Đám học trò đi tiếp, và họ mừng rỡ vô cùng khi nghe như có tiếng chó sủa ở xa. Lắng nghe xem từ phía nào, họ hăng hái đi về phía ấy, và đi một đoạn thì thấy một đốm lửa.
– Trang trại! Có Chúa chứng giám, trang trại! Triết gia nói.
Anh đoán không lầm. Một lúc sau họ thấy quả nhiên có một trang trại nhỏ, chỉ có hai túp nhà chung một sân. Trong cửa sổ có ánh lửa. Chục cây mận chĩa lên dưới hàng rào. Nhìn qua cánh cổng ván thưa, đám học trò thấy cái sân đậu đầy những xe bò của dân buôn muối. Lúc ấy đây đó trên trời đã ló ra vài vì sao.
– Coi chừng đấy, anh em, đừng tụt lại! Bằng mọi giá phải kiếm được chỗ ngủ!
Ba vị học giả hùng hổ đập cổng, hét:
– Mở cửa!
Cửa một túp nhà kêu kẽo kẹt, và một phút sau đám học trò thấy trước mặt một mụ già mặc áo lông cừu trần.
– Ai đấy? Mụ hét lên, ho khục khặc.
– Bà ơi, cho chúng cháu ngủ nhờ một đêm. Chúng cháu lạc đường. Ngoài đồng khổ như bụng đói ấy.
– Thế các anh là hạng người gì?
– Hạng người chẳng làm hại ai đâu bà ạ: học trò thần học Kha-li-a-va, triết gia Brút và học trò tu từ Gô-rô-bét.
– Không được, mụ già càu nhàu. Sân tôi chật người, góc nào trong nhà cũng có người nằm rồi. Tôi biết để các anh vào đâu? Mà lại toàn những gã to cao khoẻ mạnh thế này! Nhét các anh vào thì nhà tôi sập mất. Tôi biết cái bọn triết gia với thần học này. Mà chứa những tên bợm rượu ấy thì chẳng mấy chốc chẳng còn cái sân nào. Đi đi! Đi đi! Chỗ này không có chỗ cho các anh.
– Bà làm phúc đi, bà ơi! Sao lại để những linh hồn Ki-tô hữu chết oan chết uổng thế được? Bà cho chúng cháu nằm đâu cũng được. Mà nếu chúng cháu có làm gì, có làm cái gì cái ấy, thì cứ cho tay chúng cháu khô quắt đi, cho chúng cháu gặp chuyện gì mà chỉ Chúa mới biết. Thế đấy!
Mụ già hình như mềm lòng đôi chút.
– Thôi được, mụ nói như đang suy tính, tôi cho các anh vào. Có điều tôi sẽ cho mỗi người nằm một chỗ. Chứ để các anh nằm chung thì lòng tôi không yên.
– Tuỳ bà thôi, chúng cháu không cãi đâu, đám học trò đáp.
Cánh cổng kẽo kẹt, và họ bước vào sân.
– Này bà ơi, triết gia vừa đi theo mụ già vừa nói, giá mà được như người ta nói… Có Chúa chứng giám, trong bụng cháu như có ai đánh xe lăn bánh ấy. Từ sáng đến giờ chưa có lấy một mẩu dăm trong miệng.
– Xem nó đòi gì kìa! Mụ già nói. Tôi chẳng có, chẳng có gì như thế cả, hôm nay lò cũng chẳng nhóm.
– Còn chúng cháu thì mai sẽ trả bà đâu ra đấy, triết gia nói tiếp, bằng tiền mặt hẳn hoi. Ừ, anh khẽ nói tiếp, có mà quỷ mới trả cho mụ!
– Đi đi, đi đi! Người ta cho gì thì bằng lòng với cái đó. Quỷ đưa đâu tới mấy cậu ấm õng ẹo thế này!
Nghe những lời ấy, triết gia Khô-ma hoàn toàn chán nản. Nhưng bỗng mũi anh ngửi thấy mùi cá khô. Anh liếc nhìn cái quần ống rộng của học trò thần học đang đi cạnh mình, thấy từ túi hắn thò ra một cái đuôi cá to tướng: học trò thần học đã kịp xoáy trên xe bò cả một con cá diếc. Và vì hắn làm thế chẳng phải vì tham lam gì, mà chỉ do thói quen, lại hoàn toàn quên mất con cá diếc của mình, đang ngó nghiêng xem còn gì xoáy được nữa, không định bỏ qua ngay cả một cái bánh xe gãy, nên triết gia Khô-ma thò tay vào túi hắn như vào túi mình, lôi con cá diếc ra.
Mụ già xếp chỗ cho đám học trò: học trò tu từ nằm trong nhà, học trò thần học bị khoá trong cái buồng kho trống, còn triết gia thì được chỉ cho một cái chuồng cừu cũng trống.
Còn lại một mình, triết gia ăn sạch con cá diếc trong một phút, ngắm những bức tường đan bằng phên của chuồng, đạp chân vào mõm một con lợn tò mò thò từ chuồng bên sang, rồi trở mình định ngủ say như chết. Bỗng cánh cửa thấp mở ra, và mụ già cúi người bước vào chuồng.
– Gì thế bà ơi, bà cần gì? Triết gia nói.
Nhưng mụ già đi thẳng đến chỗ anh, hai tay dang rộng.
"Ê hê!" Triết gia nghĩ. "Không được đâu, bà ơi! Bà già quá rồi."
Anh nhích ra xa hơn một chút, nhưng mụ già chẳng khách sáo gì, lại tiến đến gần anh.
– Nghe này, bà ơi! Triết gia nói. Giờ đang mùa chay. Mà cháu là người có cho nghìn đồng vàng cũng không chịu phá chay đâu.
Nhưng mụ già cứ dang tay ra, chộp lấy anh, không nói một lời.
Triết gia thấy sợ, nhất là khi anh nhận ra mắt mụ loé lên một tia sáng lạ thường.
– Bà ơi! Bà làm sao thế? Đi đi, đi đi với Chúa! Anh hét lên.
Nhưng mụ già không nói một lời, cứ lấy tay chộp lấy anh. Anh bật dậy, định bỏ chạy, nhưng mụ già đứng chặn ở cửa, dán đôi mắt rực sáng vào anh, rồi lại bắt đầu tiến đến.
Triết gia muốn lấy tay đẩy mụ ra, nhưng kinh ngạc nhận thấy tay mình không nhấc lên nổi, chân không cử động được. Và anh kinh hoàng thấy rằng ngay cả giọng mình cũng không thoát ra khỏi miệng: lời nói mấp máy trên môi mà không thành tiếng. Anh chỉ nghe tim mình đập. Anh thấy mụ già đến gần, bẻ quặt hai tay anh lại, ấn đầu anh cúi xuống, nhanh như mèo nhảy phốc lên lưng anh, lấy cây chổi quất vào sườn anh. Và anh, nhảy chồm chồm như con ngựa cưỡi, cõng mụ trên vai mà phi đi.
Mọi chuyện xảy ra nhanh đến nỗi triết gia gần như không kịp định thần. Anh lấy cả hai tay nắm chặt lấy đầu gối mình, muốn giữ chân lại. Nhưng anh kinh ngạc tột độ thấy chân mình cứ nhấc lên trái với ý muốn, nhảy những bước nhanh hơn cả con ngựa đua Tréc-kéc. Chỉ khi đã qua khỏi trang trại, trước mặt mở ra một thung lũng bằng phẳng, và một bên trải dài khu rừng đen như than, anh mới tự nhủ: "Ê, đây là phù thuỷ rồi."
Vầng trăng khuyết lộn ngược sáng trên trời. Ánh sáng nửa đêm rụt rè như một tấm khăn voan mỏng, nhẹ nhàng phủ xuống, toả khói trên mặt đất. Rừng, đồng cỏ, bầu trời, thung lũng, tất cả như đang ngủ mà mắt vẫn mở. Gió không hề thổi lấy một lần. Trong cái mát của đêm có một cái gì ẩm ẩm, âm ấm. Bóng cây, bóng bụi như những ngôi sao chổi đổ những vệt nhọn xuống cánh đồng thoai thoải. Đêm ấy là như thế, khi triết gia Khô-ma Brút phi đi với một kẻ cưỡi không sao hiểu nổi trên lưng.
Anh cảm thấy một cảm giác mệt mỏi, khó chịu mà lại ngọt ngào đang dâng lên trong tim. Anh cúi đầu nhìn xuống, và thấy đám cỏ gần như ngay dưới chân mình dường như mọc ở rất sâu, rất xa. Phía trên đám cỏ có một làn nước trong như suối nguồn trên núi, và đám cỏ như là đáy của một vùng biển sáng ngời, trong suốt đến tận đáy. Ít ra thì anh thấy rõ mình in bóng trong đó cùng với mụ già ngồi trên lưng. Anh thấy ở dưới đó, thay cho mặt trăng, có một mặt trời nào đó đang chiếu sáng. Anh nghe những bông hoa chuông xanh nghiêng đầu mà ngân lên.
Anh thấy từ sau đám cói, một nàng tiên cá bơi ra, thấp thoáng tấm lưng và bắp chân căng tròn, đầy đặn, toàn làm bằng ánh sáng và rung động. Nàng quay về phía anh, và kìa khuôn mặt nàng, với đôi mắt sáng, lấp lánh, sắc lẻm, như vừa hát vừa xuyên vào tâm hồn, đã đến gần anh, đã lên đến mặt nước, rồi run lên một tràng cười lấp lánh, lại lùi xa. Và kìa nàng ngửa người ra, bộ ngực như mây của nàng, mờ đục như sứ chưa tráng men, ánh lên trước mặt trời ở viền tròn trắng muốt, mềm mại. Nước như những hạt cườm nhỏ phủ lên đó. Nàng run rẩy và cười trong làn nước…
Anh có thấy điều đó hay không thấy? Là tỉnh hay là mơ? Nhưng kia là cái gì? Gió hay tiếng nhạc: ngân lên, ngân lên, xoắn lại, tiến đến gần, rồi đâm xuyên vào tâm hồn bằng một tiếng láy không sao chịu nổi…
"Cái gì thế này?" Triết gia Khô-ma Brút nghĩ, nhìn xuống, vẫn phi hết tốc lực. Mồ hôi anh đổ như mưa. Anh cảm thấy một cảm giác ngọt ngào như quỷ ám, một khoái cảm xuyên thấu, mệt mỏi mà khủng khiếp. Nhiều lúc anh tưởng như mình không còn tim nữa, sợ hãi đưa tay chộp lấy ngực. Kiệt sức, rối bời, anh bắt đầu nhớ lại mọi lời cầu nguyện mình biết. Anh nhắc lại mọi câu thần chú trừ tà, và bỗng thấy như tỉnh lại đôi chút. Anh cảm thấy bước chân mình bắt đầu chậm lại, mụ phù thuỷ bám trên lưng anh như yếu đi. Cỏ dày chạm vào người anh, và anh không còn thấy gì khác thường trong đó nữa. Vầng trăng khuyết sáng trên trời.
"Được lắm!" Triết gia Khô-ma nghĩ thầm, rồi bắt đầu đọc thần chú gần như thành tiếng. Cuối cùng, nhanh như chớp, anh vọt ra khỏi gầm mụ già, rồi đến lượt mình nhảy lên lưng mụ. Mụ già chạy những bước nhỏ, lật đật, nhanh đến nỗi người cưỡi gần như không thở nổi. Mặt đất chỉ loang loáng dưới chân. Mọi thứ đều rõ dưới ánh trăng dù trăng không tròn. Thung lũng phẳng lì, nhưng vì nhanh quá nên mọi thứ đều loang loáng mờ mịt, lẫn lộn trước mắt anh.
Anh vớ lấy một khúc củi nằm trên đường, bắt đầu dùng hết sức nện vào mụ già. Mụ rú lên những tiếng hoang dại. Lúc đầu đó là những tiếng rú giận dữ, đe doạ. Rồi chúng yếu dần, dễ nghe hơn, dồn dập hơn. Rồi chỉ còn khe khẽ, gần như không vang nữa, như những chiếc chuông bạc mảnh, và rơi vào tâm hồn anh. Bất giác trong đầu anh thoáng một ý nghĩ: đây có thật là mụ già không?
– Ôi, ta không chịu nổi nữa! Mụ thốt lên, kiệt sức, rồi ngã xuống đất.
Anh đứng dậy, nhìn vào mắt mụ. Bình minh đang rực lên, và xa xa lấp lánh những mái vòm vàng của các nhà thờ Ki-ép. Trước mặt anh là một người con gái đẹp, bím tóc dày lộng lẫy rối tung, hàng mi dài như những mũi tên. Nàng bất tỉnh buông thõng hai cánh tay trắng trần sang hai bên, rên rỉ, đôi mắt đẫm lệ ngước lên trời.
Khô-ma run lên như chiếc lá. Lòng thương xót, một nỗi xao xuyến lạ lùng, và một sự rụt rè mà chính anh không hiểu nổi xâm chiếm anh. Anh co cẳng chạy hết sức. Dọc đường, tim anh đập bồn chồn, và anh không sao giải thích được cái cảm xúc mới lạ, kỳ quặc gì đã xâm chiếm mình. Anh không muốn đến các trang trại nữa, mà vội về Ki-ép, suốt dọc đường nghĩ mãi về chuyện khó hiểu ấy.
Trong thành phố gần như chẳng còn học trò trường dòng nào. Tất cả đã tản về các trang trại, hoặc đi làm gia sư, hoặc chẳng làm gia sư gì cả, vì ở các trang trại xứ U-crai-na người ta được ăn bánh trôi, pho mát, kem chua và những cái bánh bao to bằng cái mũ mà chẳng mất một xu. Ngôi nhà to rộng, tường đã nứt toác, nơi đặt trường dòng, hoàn toàn trống trơn. Triết gia lục lọi khắp các góc, sờ cả mọi lỗ hổng, mọi ngóc ngách trên mái, cũng chẳng tìm được miếng mỡ nào, hay ít ra một ổ bánh mì cũ, những thứ mà học trò trường dòng vẫn thường giấu.
Nhưng triết gia chẳng mấy chốc đã nghĩ ra cách chữa nỗi khổ của mình. Anh huýt sáo đi ba vòng quanh chợ, đến tận cuối chợ thì nháy mắt với một goá phụ trẻ đội mũ vàng, bán ruy băng, đạn súng săn và bánh xe. Và ngay hôm ấy anh đã được đãi bánh bao bột mì trắng, thịt gà… nói tóm lại không sao kể hết những gì được bày lên chiếc bàn trong ngôi nhà đất nhỏ giữa vườn anh đào. Ngay tối hôm ấy, người ta thấy triết gia trong quán rượu. Anh nằm trên ghế dài, như thường lệ hút tẩu, và trước mặt mọi người ném cho ông chủ quán nửa đồng vàng. Trước mặt anh đặt một vại rượu. Anh nhìn những người ra vào bằng đôi mắt điềm tĩnh, mãn nguyện, và chẳng còn nghĩ gì đến chuyện lạ lùng đã xảy ra với mình.
— Hết chương 1 —
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ