Chương 1: Giấc ngủ trên núi Ca-xkin
Câu chuyện sau đây được tìm thấy trong đống giấy tờ của ông Đít-rích Níc-cơ-bốc-cơ quá cố, một quý ông già ở Niu Oóc, rất tò mò về lịch sử người Hà Lan trong vùng và phong tục của con cháu những người khai hoang đầu tiên. Có điều, ông tìm tòi lịch sử không phải trong sách vở mà ở giữa người đời. Bởi vì về những đề tài ông ưa thích, sách vở thì nghèo nàn đến đáng thương, còn những ông thị dân già, và hơn nữa là vợ của họ, lại giàu có những truyền thuyết vô giá cho lịch sử đích thực. Vì thế, hễ gặp được một gia đình Hà Lan chính cống, ấm cúng trong ngôi nhà trại mái thấp dưới gốc cây sung dâu xoè tán rộng, là ông coi nó như một cuốn sách cổ nhỏ có khoá cài, và nghiền ngẫm nó với lòng say mê của một con mọt sách.
Kết quả của mọi cuộc tìm tòi ấy là một cuốn sử về vùng này dưới thời các quan thống đốc người Hà Lan, mà ông đã cho in cách đây ít năm. Người ta có nhiều ý kiến khác nhau về giá trị văn chương của tác phẩm ấy, và nói thật, nó chẳng hay hơn mức nó đáng có chút nào. Giá trị chủ yếu của nó là sự chính xác tỉ mỉ, điều mà lúc mới ra đời thì quả có bị nghi ngờ đôi chút, nhưng về sau đã được khẳng định hoàn toàn. Giờ đây nó được đưa vào mọi bộ sưu tập sử học, như một cuốn sách có uy tín không ai bàn cãi.
Ông già mất ít lâu sau khi cho in tác phẩm của mình. Giờ ông đã khuất núi, nói rằng lẽ ra ông có thể dùng thời gian của mình vào những công việc hệ trọng hơn thì cũng chẳng hại gì mấy cho tiếng tăm của ông. Có điều ông vẫn hay cưỡi con ngựa sở thích của mình theo cách riêng của mình. Và tuy thỉnh thoảng nó có tung chút bụi vào mắt hàng xóm, có làm buồn lòng vài người bạn mà ông hết lòng kính trọng và yêu mến, nhưng người ta nhắc tới những sai lầm và những điều dở hơi của ông với nỗi buồn nhiều hơn là giận. Và người ta bắt đầu ngờ rằng ông chưa bao giờ có ý làm hại hay xúc phạm ai. Dù giới phê bình đánh giá ông thế nào, ông vẫn được nhiều người quý mến, những người mà được họ quý là điều rất đáng giá. Nhất là mấy bác thợ làm bánh quy, họ còn in cả hình ông lên bánh Tết, và nhờ thế cho ông một cơ hội bất tử gần ngang với được dập hình lên huân chương hay lên đồng xu.
Hễ ai đã từng đi thuyền ngược dòng sông Hớt-xơn, chắc hẳn đều nhớ dãy núi Ca-xkin. Đó là một nhánh tách ra của đại gia đình núi A-pa-lát, nằm xa về phía tây con sông, nhô lên tới một độ cao kiêu hãnh và ngự trị cả vùng xung quanh. Mỗi lần đổi mùa, mỗi lần đổi tiết, mà thật ra mỗi giờ trong ngày đều làm thay đổi phần nào màu sắc và hình dáng huyền ảo của dãy núi ấy. Các bà nội trợ gần xa đều coi chúng như những chiếc phong vũ biểu hoàn hảo. Khi trời đẹp và yên ổn, núi khoác áo xanh lam và tím, in những đường nét mạnh mẽ của mình lên nền trời chiều trong vắt. Nhưng đôi khi, lúc cả vùng không gợn một đám mây, đỉnh núi lại trùm một chiếc mũ hơi sương xám, và dưới những tia nắng cuối cùng của mặt trời lặn, chiếc mũ ấy rực sáng lên như một vương miện vinh quang.
Dưới chân dãy núi thần tiên ấy, người lữ khách có thể đã trông thấy làn khói mỏng cuộn lên từ một ngôi làng, những mái lợp ván gỗ lấp lánh giữa hàng cây, đúng chỗ màu xanh lam của vùng cao tan vào màu xanh tươi của cảnh vật gần hơn. Đó là một ngôi làng nhỏ rất lâu đời, do mấy người khai hoang Hà Lan dựng lên từ thuở ban đầu, khoảng lúc mới bắt đầu thời cai trị của ông Pi-tơ Xtai-vê-xăn hiền hậu, cầu cho ông yên nghỉ. Mới cách đây ít năm, vẫn còn vài ngôi nhà của những người khai hoang đầu tiên, xây bằng những viên gạch vàng nhỏ chở từ Hà Lan sang, cửa sổ có chấn song mắt cáo, mặt tiền đầu hồi trên có gắn con gà chong chóng.
Trong chính ngôi làng ấy, và trong chính một trong những ngôi nhà ấy, nói cho thật đúng thì ngôi nhà đã cũ kỹ và dãi dầu mưa gió lắm rồi, cách đây đã nhiều năm, khi vùng này còn là thuộc địa của nước Anh, có một anh chàng chất phác, tốt bụng, tên là Ríp Van Uyn-cơn. Anh là con cháu nhà Van Uyn-cơn, những người từng lẫy lừng trong thời hiệp sĩ của ông Pi-tơ Xtai-vê-xăn, và đã theo ông đi vây pháo đài Cờ-ri-xti-na. Thế nhưng anh thừa hưởng chẳng được bao nhiêu cái tính nhà binh của tổ tiên. Tôi đã nói anh là người chất phác, tốt bụng. Hơn thế nữa, anh còn là một người hàng xóm tử tế, và một ông chồng sợ vợ, ngoan ngoãn vâng lời. Thật ra có lẽ chính điều sau cùng ấy đã sinh ra cái tính hiền lành khiến ai ai cũng quý anh. Bởi vì những người đàn ông ở nhà bị một bà vợ đanh đá cai quản thì ra ngoài thường hay nhún nhường và dễ chịu. Tính khí của họ hẳn đã được tôi luyện cho mềm dẻo trong cái lò lửa của những nỗi khổ gia đình, và một bài giảng trong màn của bà vợ đáng giá hơn mọi bài thuyết giáo trên đời trong việc dạy đức kiên nhẫn và chịu đựng. Vậy thì một bà vợ chua ngoa, về một vài mặt, có thể coi là một phước lành tạm được. Và nếu đúng thế, thì Ríp Van Uyn-cơn được phước gấp ba.
Chắc chắn là anh được tất cả các bà nội trợ tốt bụng trong làng rất mực yêu quý. Như thường lệ của phái đẹp dễ thương, họ bênh anh trong mọi cuộc cãi cọ trong nhà, và hễ bàn tán những chuyện ấy trong những buổi tán gẫu buổi tối, họ không bao giờ quên đổ hết lỗi cho bà Van Uyn-cơn. Lũ trẻ trong làng cũng reo hò mừng rỡ mỗi khi anh tới gần. Anh nhập bọn với chúng, làm đồ chơi cho chúng, dạy chúng thả diều, bắn bi, và kể cho chúng nghe những câu chuyện dài về ma quỷ, phù thuỷ và người da đỏ. Hễ anh lững thững đi đâu trong làng là có một bầy trẻ vây quanh, đứa níu vạt áo, đứa trèo lên lưng, bày ra cả nghìn trò tinh nghịch với anh mà chẳng sợ gì. Và trong cả vùng không một con chó nào sủa anh.
Cái khuyết điểm lớn trong con người Ríp là anh ghét cay ghét đắng mọi thứ công việc có lợi. Không phải vì anh thiếu chăm chỉ hay thiếu kiên trì. Bởi anh có thể ngồi trên một tảng đá ướt, với cái cần câu dài và nặng như ngọn giáo của người Tác-ta, câu suốt ngày không một lời phàn nàn, dù chẳng có lấy một con cá nào cắn câu cho vui lòng. Anh có thể vác súng săn trên vai hàng mấy giờ liền, lội qua rừng qua đầm, lên đồi xuống thung, chỉ để bắn vài con sóc hay mấy con bồ câu rừng. Anh chẳng bao giờ từ chối giúp hàng xóm, kể cả những việc nặng nhọc nhất, và là người hăng hái nhất trong mọi cuộc vui ở làng như bóc bắp ngô hay xây tường đá. Các bà trong làng cũng hay nhờ anh chạy việc vặt, làm những việc linh tinh mà các ông chồng kém nhiệt tình của họ không chịu làm. Nói tóm lại, Ríp sẵn sàng lo việc của bất cứ ai, trừ việc của mình. Còn làm bổn phận với gia đình và giữ cho trang trại của mình ra hồn thì anh thấy là không thể.
Thật vậy, anh tuyên bố rằng làm việc trên trang trại của mình chẳng ích gì. Đó là mảnh đất tai quái nhất trong cả vùng. Mọi thứ trên đó đều hỏng, dù anh có cố đến đâu. Hàng rào của anh lúc nào cũng đổ sập. Con bò của anh không đi lạc thì cũng lẻn vào ruộng bắp cải. Cỏ dại trên ruộng anh mọc nhanh hơn mọi nơi khác. Hễ anh có việc gì phải làm ngoài trời là y như rằng trời đổ mưa. Thế nên tuy mảnh điền sản cha ông để lại cứ teo dần trong tay anh, từng mẫu một, cho tới khi chỉ còn lại một mảnh nhỏ trồng ngô và khoai tây, thì đó vẫn là trang trại tệ hại nhất trong vùng.
Con cái anh cũng rách rưới và hoang dã như thể chúng chẳng thuộc về ai. Thằng con trai tên là Ríp, giống bố như đúc, hứa hẹn sẽ thừa hưởng cả thói quen lẫn quần áo cũ của bố. Người ta thường thấy nó lẽo đẽo như con ngựa non sau gót mẹ, mặc cái quần ống rộng bố nó bỏ đi, phải vất vả lắm mới lấy một tay giữ cho khỏi tụt, như một quý bà nâng tà váy dài lúc trời xấu.
Thế nhưng Ríp Van Uyn-cơn là một trong những con người sung sướng ấy, tính tình khờ khạo và trơn tru như được bôi dầu, sống dễ dãi với đời, bánh mì trắng hay bánh mì đen, thứ nào kiếm được mà ít phải nghĩ ngợi, ít phải nhọc công nhất thì ăn thứ ấy, và thà chịu đói với một xu còn hơn phải làm việc để kiếm một đồng bảng. Nếu được để mặc, anh sẽ huýt sáo cho qua đời mình trong niềm mãn nguyện trọn vẹn. Nhưng vợ anh cứ không ngớt nhồi vào tai anh chuyện anh lười biếng, anh vô tâm, anh đang đưa cả nhà đến chỗ khánh kiệt. Sáng, trưa, tối, cái lưỡi của bà không lúc nào ngừng, và bất cứ điều gì anh nói hay làm cũng chắc chắn gây ra một trận thao thao bất tuyệt trong nhà. Ríp chỉ có một cách duy nhất để đáp lại mọi bài giảng kiểu ấy, và vì dùng thường xuyên nên đã thành thói quen. Anh nhún vai, lắc đầu, ngước mắt lên trời, nhưng chẳng nói gì. Thế nhưng điều ấy bao giờ cũng khiêu khích một loạt đạn mới của bà vợ, khiến anh đành phải rút quân ra ngoài nhà, cái phía duy nhất mà thật ra thuộc về một ông chồng sợ vợ.
Người duy nhất trong nhà đứng về phe Ríp là con chó Vun của anh, nó cũng bị bà chủ bắt nạt chẳng kém gì ông chủ. Bởi bà Van Uyn-cơn coi chúng là đôi bạn cùng lười, và còn nhìn con Vun bằng con mắt hằn học, coi nó là nguyên nhân khiến chủ nó hay đi lang thang. Thật ra, xét về mọi mặt tinh thần xứng đáng với một con chó đáng trọng, nó là một con vật can đảm chưa từng thấy trong những con từng lùng sục khắp các khu rừng. Nhưng lòng can đảm nào chống lại được những nỗi kinh hoàng vây bủa bốn phía từ cái lưỡi đàn bà? Vừa bước vào nhà là cái mào của con Vun cụp xuống, đuôi nó rủ xuống đất hoặc cuộn vào giữa hai chân, nó lén lút đi quanh như kẻ sắp lên giá treo cổ, liếc trộm bà Van Uyn-cơn mãi. Và hễ thấy cán chổi hay cái muôi khẽ vung lên là nó vội vã ăng ẳng chạy ra cửa.
Những năm hôn nhân trôi qua, đời Ríp Van Uyn-cơn càng lúc càng tệ. Tính khí chua chát chẳng bao giờ dịu đi theo tuổi tác, và cái lưỡi sắc là món đồ có lưỡi duy nhất càng dùng càng bén. Một thời gian dài, mỗi khi bị đuổi ra khỏi nhà, anh tự an ủi bằng cách lui tới một thứ câu lạc bộ thường trực gồm các bậc hiền triết, các nhà hiền giả và những nhân vật nhàn rỗi khác trong làng, họ hội họp trên một chiếc ghế dài trước một quán trọ nhỏ, có treo bức chân dung đỏ au của vua Gioóc Đệ tam. Ở đó họ ngồi dưới bóng mát suốt một ngày hè dài lười nhác, uể oải bàn chuyện tầm phào trong làng, hoặc kể những câu chuyện dài lê thê, buồn ngủ, chẳng về cái gì cả. Nhưng bất cứ chính khách nào cũng sẽ sẵn lòng trả tiền để được nghe những cuộc bàn luận sâu xa đôi khi diễn ra, khi tình cờ có một tờ báo cũ của một người khách đi đường lọt vào tay họ. Họ trang trọng nghe biết bao khi ông giáo Đê-rích Van Bum-mơn đọc nội dung tờ báo bằng cái giọng kéo dài. Ông giáo là một người nhỏ thó, chải chuốt, có học, chẳng hề nao núng trước cái chữ to tướng nhất trong từ điển. Và họ bàn bạc thông thái biết bao về những sự kiện chung đã xảy ra từ mấy tháng trước.
Ý kiến của cái nhóm ấy hoàn toàn do ông Ni-cô-lát Ve-đơ chi phối. Ông là bậc trưởng lão trong làng và là chủ quán trọ. Ông ngồi trước cửa quán từ sáng tới tối, chỉ nhích đi vừa đủ để tránh nắng và ngồi trong bóng một cây to, đến nỗi hàng xóm có thể xem giờ theo những lần ông dịch chỗ, chính xác như xem đồng hồ mặt trời. Quả thật, ít khi người ta nghe ông nói, nhưng ông hút tẩu không ngớt. Thế nhưng những người theo ông, vì vĩ nhân nào cũng có người theo, hiểu ông hoàn toàn, và biết cách nắm được ý kiến của ông. Khi có điều gì được đọc hay kể ra làm ông phật ý, người ta thấy ông rít tẩu dữ dội, phả ra những luồng khói dồn dập, giận dữ. Còn khi bằng lòng, ông hít khói chậm rãi và thư thái, nhả ra những đám khói nhẹ nhàng, êm ả. Và đôi khi, ông bỏ tẩu ra khỏi miệng, để làn khói thơm cuộn quanh mũi, rồi nghiêm trang gật đầu, tỏ ý hoàn toàn tán thành.
Thế mà ngay cả khỏi cái pháo đài ấy, rốt cuộc anh chàng Ríp xui xẻo cũng bị bà vợ đanh đá đánh bật ra. Bà bất thình lình xông vào giữa sự yên tĩnh của cuộc họp mặt, mắng cho cả hội chẳng ra gì. Đến cả nhân vật đáng kính Ni-cô-lát Ve-đơ cũng không thoát khỏi cái lưỡi táo tợn của mụ đàn bà ghê gớm ấy, bà thẳng thừng buộc tội ông khuyến khích chồng bà sinh thói lười biếng.
Rốt cuộc, anh Ríp tội nghiệp gần như tuyệt vọng. Cách duy nhất còn lại để thoát khỏi công việc đồng áng và tiếng la lối của bà vợ là cầm súng lên tay, lang thang vào rừng. Ở đó, có khi anh ngồi xuống dưới gốc cây, chia đồ ăn trong túi cho con Vun, kẻ mà anh cảm thông như một người bạn cùng chịu cảnh bị ức hiếp. Anh bảo nó: “Vun tội nghiệp, bà chủ mày bắt mày sống một cuộc đời khổ như chó. Nhưng mặc kệ, con ạ, chừng nào tao còn sống thì mày chẳng bao giờ thiếu một người bạn đứng về phía mày!” Con Vun vẫy đuôi, nhìn đăm đăm vào mặt chủ, và nếu loài chó biết thương cảm, tôi tin chắc nó cũng đáp lại tình cảm ấy bằng cả tấm lòng.
Trong một chuyến lang thang dài như thế, vào một ngày thu đẹp trời, Ríp đã leo lên một trong những chỗ cao nhất của dãy núi Ca-xkin lúc nào không biết. Anh đang mải mê với thú bắn sóc ưa thích của mình, và những chốn cô tịch lặng lẽ đã vang đi vang lại tiếng súng của anh. Thở hổn hển và mệt nhoài, xế chiều anh nằm vật xuống một mô đất xanh phủ cỏ núi trên mép một vách đá dựng đứng. Qua một khoảng trống giữa hàng cây, anh có thể nhìn bao quát cả vùng thấp bên dưới, hàng mấy dặm rừng cây trù phú. Anh thấy ở xa xa dòng sông Hớt-xơn hùng vĩ, tít tắp bên dưới, đang lặng lẽ mà oai nghiêm trôi đi, đây đó trên mặt nước phẳng như gương phản chiếu một đám mây tím, hay một cánh buồm của chiếc thuyền chậm chạp nằm ngủ yên, rồi cuối cùng dòng sông khuất vào vùng cao nguyên xanh lam.
Ở phía bên kia, anh nhìn xuống một khe núi sâu, hoang vu, quạnh quẽ và rậm rạp, đáy đầy những mảnh đá rơi từ các vách đá treo lơ lửng, chỉ được soi sáng lờ mờ bởi những tia nắng hắt lại của mặt trời đang lặn. Ríp nằm ngẫm nghĩ trước cảnh ấy một lúc. Chiều dần buông. Núi bắt đầu trải những bóng dài xanh lam lên các thung lũng. Anh thấy rằng trời sẽ tối từ lâu trước khi mình về tới làng, và anh thở dài nặng nề khi nghĩ đến chuyện phải đối mặt với những nỗi kinh hoàng mang tên bà Van Uyn-cơn.
Vừa định xuống núi thì anh nghe thấy từ xa có tiếng ai gọi: “Ríp Van Uyn-cơn! Ríp Van Uyn-cơn!” Anh nhìn quanh, nhưng chẳng thấy gì ngoài một con quạ đang bay đơn độc qua núi. Anh nghĩ chắc mình tưởng tượng ra, và lại quay đi định xuống núi, thì lại nghe chính tiếng gọi ấy vang lên trong không khí lặng lẽ của buổi chiều: “Ríp Van Uyn-cơn! Ríp Van Uyn-cơn!” Cùng lúc ấy, con Vun dựng lông trên lưng, gầm gừ khe khẽ, rồi lẩn đến bên chủ, sợ hãi nhìn xuống khe núi. Bấy giờ Ríp cảm thấy một nỗi lo sợ mơ hồ len vào lòng. Anh lo lắng nhìn về phía ấy, và thấy một bóng người kỳ lạ đang chậm chạp leo lên những tảng đá, còng lưng dưới sức nặng của một vật gì đó cõng trên lưng. Anh ngạc nhiên khi thấy có người ở chốn hoang vắng, ít ai lui tới này. Nhưng nghĩ đó là một người nào trong vùng đang cần mình giúp, anh vội vàng xuống đỡ.
Đến gần hơn, anh càng ngạc nhiên hơn trước dáng vẻ kỳ dị của người lạ. Đó là một ông già thấp lùn, vạm vỡ, tóc dày rậm, râu hoa râm. Ông ăn mặc theo lối Hà Lan cổ, một chiếc áo chẽn bằng dạ thắt dây quanh eo, mấy lớp quần ống túm, lớp ngoài cùng rộng thùng thình, hai bên có những hàng khuy, chỗ đầu gối túm lại thành chùm. Trên vai ông vác một cái thùng gỗ chắc chắn, có vẻ đầy rượu, và ông ra hiệu cho Ríp lại gần giúp mình một tay. Tuy hơi rụt rè và không tin lắm người quen mới này, Ríp vẫn nhanh nhảu làm theo như thường lệ. Thay phiên nhau vác, hai người leo lên một cái khe hẹp, trông như lòng khô của một dòng thác núi. Đang leo, thỉnh thoảng Ríp lại nghe những tràng âm thanh dài ầm ì, như tiếng sấm xa, dường như phát ra từ một khe núi sâu, hay đúng hơn là một kẽ nứt giữa những vách đá cao, nơi con đường gồ ghề của họ đang dẫn tới. Anh dừng lại một lát. Nhưng nghĩ đó là tiếng rền của một cơn mưa dông chóng qua vẫn thường xảy ra trên núi cao, anh lại đi tiếp. Qua khỏi khe núi, họ tới một cái thung lõm như một đấu trường vòng tròn nhỏ, bao quanh là những vách đá dựng đứng, trên mép vách có những cây nghiêng mình chĩa cành ra, khiến người ta chỉ thoáng thấy được bầu trời xanh biếc và đám mây chiều rực sáng. Suốt thời gian ấy, Ríp và người bạn đồng hành lặng lẽ cố sức mà đi. Bởi tuy Ríp rất lấy làm lạ không biết vác một thùng rượu lên ngọn núi hoang vu này để làm gì, nhưng ở người lạ có một cái gì đó kỳ quặc, khó hiểu, khiến người ta phải sợ và không dám suồng sã.
Bước vào cái thung lõm ấy, lại có những điều kỳ lạ mới hiện ra. Trên một bãi bằng ở giữa có một nhóm nhân vật trông rất kỳ dị đang lăn ki. Họ ăn mặc theo lối lạ lùng, xa lạ. Có người mặc áo chẽn ngắn, có người mặc áo dạ, giắt dao dài ở thắt lưng, và phần lớn mặc những chiếc quần rộng thùng thình, cùng kiểu với quần của người dẫn đường. Mặt mũi họ cũng khác thường. Một người đầu to, mặt bè, mắt ti hí như mắt lợn. Mặt một người khác dường như chỉ toàn là mũi, trên đội một chiếc mũ trắng hình chóp như khối đường, cắm một chùm lông đuôi gà trống đỏ nhỏ. Ai cũng có râu, đủ hình dạng và màu sắc. Có một người dường như là chỉ huy. Đó là một quý ông già vạm vỡ, nét mặt dãi dầu sương gió. Ông mặc áo chẽn viền đăng ten, thắt lưng rộng đeo gươm ngắn, đội mũ chóp cao cắm lông chim, đi tất đỏ và giày cao gót có đính nơ hoa hồng. Cả nhóm khiến Ríp nhớ tới những nhân vật trong một bức tranh Phờ-lăng cổ treo trong phòng khách của mục sư Van Xcai-cơ trong làng, bức tranh mang từ Hà Lan sang từ hồi mới lập làng.
Điều Ríp thấy đặc biệt lạ lùng là tuy những người này rõ ràng đang vui chơi, thế mà họ giữ vẻ mặt nghiêm trang nhất, im lặng bí ẩn nhất, và nói chung là đám người vui chơi u sầu nhất mà anh từng thấy. Chẳng có gì phá vỡ sự tĩnh lặng của cảnh vật ngoài tiếng những quả bóng gỗ, mỗi khi lăn đi lại vang dội khắp núi như tiếng sấm rền.
Khi Ríp và người bạn đồng hành tới gần, họ bỗng ngừng tay, nhìn anh chằm chằm, bất động như tượng, với những gương mặt kỳ dị, thô kệch, đờ đẫn, khiến tim anh thắt lại và hai đầu gối đập vào nhau. Người bạn đồng hành của anh bấy giờ dốc rượu trong thùng ra những chiếc bình lớn, rồi ra hiệu cho anh rót mời mọi người. Anh run rẩy sợ hãi làm theo. Họ nốc rượu trong im lặng tuyệt đối, rồi lại quay về ván ki của mình.
Dần dần, nỗi sợ hãi và lo âu của Ríp lắng xuống. Thậm chí, khi không có con mắt nào nhìn mình, anh còn liều nếm thử thứ đồ uống ấy, và thấy nó có nhiều hương vị của thứ rượu gin Hà Lan hảo hạng. Bản tính anh vốn hay khát, nên chẳng mấy chốc đã bị cám dỗ uống thêm ngụm nữa. Nếm một ngụm lại thèm ngụm khác. Anh ghé đến cái bình nhiều lần đến nỗi cuối cùng các giác quan của anh bị khuất phục, mắt anh hoa lên, đầu anh gục dần xuống, và anh chìm vào một giấc ngủ say.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn