Đó là một đêm trăng rằm đầu tháng Phan-gun. Mùa xuân trẻ trung đang gửi đi khắp nơi những làn gió ngát hương hoa xoài. Tiếng hót du dương không biết mỏi của một chú chim pa-pi-a, loài chim hót hay nhất xứ Bengal, ẩn trong vòm lá dày của cây vải già bên bờ ao, lọt vào một phòng ngủ không ai ngủ của nhà Mu-kơ-ji. Trong phòng, Hê-man-ta bồn chồn, lúc quấn một lọn tóc của vợ quanh ngón tay, lúc gõ chiếc vòng tay của nàng vào chiếc vòng khác cho nó kêu leng keng, lúc lại kéo vòng hoa trên đầu nàng, để nó rủ xuống mặt nàng. Tâm trạng chàng như làn gió chiều đùa quanh một khóm hoa yêu dấu, khẽ lay nó lúc bên này lúc bên kia, mong làm cho nó tỉnh dậy.
Nhưng Ku-xum ngồi bất động, nhìn ra khung cửa sổ mở, đôi mắt chìm trong chiều sâu ngập ánh trăng của khoảng không vô tận phía xa. Những cử chỉ âu yếm của chồng chẳng chạm được tới nàng.
Cuối cùng Hê-man-ta nắm cả hai tay vợ, khẽ lắc lắc, mà nói:
— Ku-xum, em đâu rồi? Phải kiên nhẫn soi kính viễn vọng thật to mới thấy em, mà cũng chỉ là một chấm nhỏ thôi. Em như đã lùi ra tận đâu xa lắm. Ôi, lại gần anh đi em. Nhìn xem đêm nay đẹp chưa này.
Ku-xum rời mắt khỏi khoảng không, quay sang nhìn chồng, chậm rãi nói:
— Em biết một câu thần chú có thể làm cho đêm xuân này và cả vầng trăng kia vỡ tan thành từng mảnh trong chớp mắt.
Hê-man-ta cười:
— Nếu thế thì xin em đừng đọc. Còn nếu em có câu thần chú nào làm cho mỗi tuần có ba bốn ngày thứ Bảy, và kéo đêm dài tới tận năm giờ chiều hôm sau, thì em cứ đọc.
Nói rồi chàng cố kéo vợ lại gần mình hơn một chút. Ku-xum gỡ mình ra khỏi vòng tay chồng, nói:
— Anh có biết không, đêm nay em thấy khao khát được nói với anh cái điều em đã định chỉ nói ra lúc sắp chết. Đêm nay em thấy mình có thể chịu được bất cứ hình phạt nào anh giáng xuống.
Hê-man-ta đang toan đọc một câu thơ của Gia-y-a-đê-va để đùa chuyện hình phạt, thì có tiếng một đôi dép giận dữ đang dồn dập đi tới. Đó là tiếng bước chân quen thuộc của cha chàng, ông Ha-ri-ha Mu-kơ-ji. Chẳng hiểu chuyện gì, Hê-man-ta cuống quýt cả lên.
Đứng ngoài cửa, ông Ha-ri-ha quát lên:
— Hê-man-ta, đuổi vợ mày ra khỏi nhà ngay lập tức!
Hê-man-ta nhìn vợ, chẳng thấy nét mặt nàng có chút ngạc nhiên nào. Nàng chỉ úp mặt vào hai lòng bàn tay, và với tất cả sức mạnh và nỗi khắc khoải của linh hồn, nàng ước gì ngay giờ phút ấy mình có thể tan biến vào hư không. Vẫn chú chim pa-pi-a ấy, tiếng hót vẫn theo gió nam lọt vào phòng, mà chẳng còn ai nghe thấy. Vẻ đẹp của trần gian thì vô tận, nhưng than ôi, mọi thứ dễ bị bẻ cong méo mó biết bao.
Ở ngoài vào, Hê-man-ta hỏi vợ:
— Có thật không?
Ku-xum đáp:
— Thật.
— Sao em không nói với anh từ lâu?
— Em đã nhiều lần định nói, mà lần nào cũng không nói được. Em là đứa đàn bà khốn nạn.
— Thế thì bây giờ nói hết cho anh nghe đi.
Ku-xum nghiêm trang kể lại câu chuyện của mình, giọng chắc chắn, không run. Nàng như đi chân trần qua lửa, từng bước chậm rãi không chùn, và không ai biết nàng bị bỏng tới mức nào. Nghe tới hết, Hê-man-ta đứng dậy bước ra ngoài.
Ku-xum nghĩ chồng đã đi, sẽ chẳng bao giờ trở lại với mình nữa. Nàng không thấy thế là lạ. Nàng đón nhận điều ấy tự nhiên như mọi chuyện thường ngày khác, vì chỉ trong mấy khoảnh khắc vừa qua, lòng nàng đã khô khốc và trơ lì tới thế. Chỉ có thế gian và tình yêu là hiện ra với nàng như một khoảng trống rỗng, một trò giả vờ từ đầu tới cuối. Ngay cả ký ức về những lời thề yêu thương chồng từng nói với nàng ngày trước cũng chỉ đem lại trên môi nàng một nụ cười khô khốc, cứng đờ, không chút vui, như một lưỡi dao sắc tàn nhẫn đã cứa ngang tim nàng. Có lẽ nàng đang nghĩ: thứ tình yêu tưởng như lấp đầy cả cuộc đời người ta, kéo theo bao âu yếm và sâu nặng, khiến một phút xa nhau cũng đau đớn cùng cực, một phút gần nhau cũng ngọt ngào khôn tả, tưởng như rộng không bờ, dài không hết, tới mức có đầu thai bao kiếp sau cũng không hình dung nổi nó sẽ dứt, thì ra tình yêu ấy là thế này! Chỗ dựa của nó mong manh tới thế! Đám thầy tư tế vừa chạm vào là thứ tình yêu "vĩnh cửu" của anh đã vụn ra thành một nắm bụi! Mới đây thôi Hê-man-ta còn thì thầm với nàng: "Đêm đẹp quá!" Cũng đêm ấy, chưa hết, cũng con chim pa-pi-a ấy vẫn còn líu lo, cũng ngọn gió nam ấy vẫn thổi vào phòng làm tấm màn giường run rẩy, cũng ánh trăng ấy vẫn nằm trên giường cạnh cửa sổ mở, ngủ say như một nàng con gái xinh đẹp mỏi mệt sau cuộc vui. Tất cả đều không thật! Tình yêu còn giả dối, khéo che đậy hơn cả chính nàng!
Sáng hôm sau, Hê-man-ta, rã rời sau một đêm không ngủ, trông như người mất trí, tới nhà ông Pi-a-ri San-ka Gô-san.
Ông Pi-a-ri San-ka chào chàng:
— Có tin gì thế, con trai?
Hê-man-ta bùng lên như một đám cháy lớn, giọng run run:
— Ông đã làm ô uế đẳng cấp của chúng tôi. Ông đã đem tai hoạ tới cho chúng tôi. Rồi ông sẽ phải trả giá.
Chàng không nói được thêm nữa, cổ họng như nghẹn lại.
Ông Pi-a-ri San-ka nói, miệng hơi nhếch cười mỉa:
— Thế còn các người thì đã giữ gìn đẳng cấp cho tôi, đã ngăn cho tôi khỏi bị đuổi ra khỏi cộng đồng, và đã vỗ lưng tôi trìu mến lắm cơ đấy!
Hê-man-ta ước gì cơn thịnh nộ của người Bà-la-môn trong chàng có thể đốt ông Pi-a-ri San-ka thành tro ngay tức khắc, nhưng cơn giận chỉ thiêu đốt chính chàng. Ông Pi-a-ri San-ka vẫn ngồi trước mặt chàng, chẳng sứt mẻ gì, khoẻ mạnh như thường.
Hê-man-ta hỏi, giọng đứt quãng:
— Tôi đã bao giờ làm gì hại ông chưa?
Ông Pi-a-ri San-ka nói:
— Để tôi hỏi anh một câu. Con gái tôi, đứa con độc nhất của tôi, nó đã làm gì hại cha anh? Hồi ấy anh còn bé lắm, chắc chẳng bao giờ được nghe. Vậy thì nghe đây. Này, đừng nóng. Chuyện tôi sắp kể buồn cười lắm.
— Anh còn bé tí khi thằng con rể tôi là Na-ba-kan-ta lấy trộm nữ trang của con gái tôi rồi trốn sang Anh. Có lẽ anh còn nhớ cả làng náo động thế nào khi năm năm sau nó trở về, đã thành luật sư. Mà cũng có khi anh không biết, vì hồi ấy anh đang đi học ở Calcutta. Cha anh tự xưng là người đứng đầu cộng đồng, tuyên bố rằng nếu tôi cho con gái về nhà chồng, thì tôi phải từ nó vĩnh viễn, không bao giờ được cho nó bước qua ngưỡng cửa nhà tôi nữa. Tôi quỳ dưới chân cha anh mà van xin: "Anh ơi, cứu tôi lần này thôi. Tôi sẽ bắt thằng bé nuốt phân bò, làm lễ sám hối cho sạch tội. Xin anh cho nó trở lại đẳng cấp." Nhưng cha anh vẫn khăng khăng không chịu. Còn tôi, tôi không thể từ bỏ đứa con duy nhất của mình, nên đành từ biệt làng xóm họ hàng mà lên Calcutta. Ở đó tai hoạ vẫn bám theo tôi. Khi tôi đã lo liệu xong xuôi mọi việc cho đám cưới của thằng cháu, thì cha anh xúi bên nhà gái, và họ bãi đám ấy đi. Thế là tôi long trọng thề rằng, nếu trong huyết quản tôi còn một giọt máu Bà-la-môn, thì tôi sẽ báo thù. Giờ thì anh cũng hiểu đôi chút câu chuyện rồi chứ? Nhưng gượm đã. Tôi kể hết thì anh sẽ thích lắm, chuyện hay lắm.
— Hồi anh học cao đẳng, có một người tên là Bi-pra-đát Chát-tơ-ji ở ngay sát nhà trọ của anh. Ông già tội nghiệp ấy giờ chết rồi. Trong nhà ông có một cô gái goá chồng từ thuở còn bé, tên là Ku-xum, đứa con mồ côi không nơi nương tựa của một nhà thuộc đẳng cấp Ka-y-át-tha, thấp hơn Bà-la-môn. Con bé xinh lắm, và ông già Bà-la-môn muốn che chắn nó khỏi những cặp mắt thèm thuồng của đám sinh viên. Nhưng một cô gái trẻ muốn qua mặt ông già giám hộ thì đâu có khó gì. Cô hay lên mái nhà phơi quần áo, còn anh thì, tôi đoán, thấy mái nhà mình là nơi học bài thích nhất. Hai người có nói gì với nhau khi mỗi người đứng trên mái nhà mình không, thì tôi không biết. Nhưng cách cư xử của con bé làm ông già sinh nghi. Nó hay làm lẫn làm sai việc nhà, và cũng như nữ thần Pác-va-ti khi mải mê tu niệm, nó dần dần bỏ ăn bỏ ngủ. Có những tối nó bỗng oà khóc trước mặt ông già, chẳng vì cớ gì.
— Cuối cùng ông phát hiện ra hai người hay nhìn thấy nhau từ trên mái nhà, và anh còn tới mức bỏ học, cầm cuốn sách ngồi trên mái nhà giữa trưa, anh bỗng ham học một mình tới thế. Ông Bi-pra-đát tới hỏi ý tôi, kể hết mọi chuyện. Tôi bảo ông: "Chú ơi, lâu nay chú vẫn mong đi hành hương Bê-na-rét. Chú đi ngay bây giờ là phải đấy, cứ để con bé lại cho tôi. Tôi sẽ trông nom nó."
— Thế là ông đi. Tôi cho con bé tới ở nhà ông Sri-pa-ti Chát-tơ-ji, nói rằng ông là cha nó. Chuyện về sau thì anh biết rồi. Hôm nay tôi thấy nhẹ cả người, đã kể hết cho anh nghe từ đầu. Nghe như tiểu thuyết ấy nhỉ? Tôi đang tính viết nó thành sách, cho in. Nhưng tôi thì đâu phải người cầm bút. Nghe nói thằng cháu tôi có chút khiếu viết lách, tôi sẽ nhờ nó viết hộ. Nhưng tốt nhất là anh viết chung với nó, vì phần kết thì tôi không rõ lắm.
Chẳng mấy để ý tới mấy câu cuối của ông Pi-a-ri San-ka, Hê-man-ta hỏi:
— Ku-xum không phản đối cuộc hôn nhân này à?
Ông Pi-a-ri San-ka đáp:
— Chà, cái đó khó đoán lắm. Anh biết đấy, con trai ạ, lòng dạ đàn bà con gái là thế nào. Họ nói "không" tức là "có". Mấy ngày đầu sau khi dọn sang chỗ mới, không được thấy anh, con bé gần như phát điên. Anh thì hình như cũng tìm ra được chỗ ở mới của nó bằng cách nào đấy, vì anh cứ ra khỏi nhà đi học là lạc đường, lảng vảng trước nhà ông Sri-pa-ti. Đôi mắt anh có vẻ không đi tìm trường Cao đẳng Thủ hiến cho lắm, vì nó cứ hướng về mấy khung cửa sổ có chấn song của một ngôi nhà riêng, nơi chỉ có sâu bọ và trái tim những anh chàng mê muội mới lọt vào được. Tôi thấy thương cho cả hai anh chị. Tôi thấy việc học của anh bị dở dang trầm trọng, còn tình cảnh con bé cũng đáng thương lắm.
— Một hôm tôi gọi Ku-xum tới, bảo: "Nghe ta nói này, con gái. Ta già rồi, con chẳng việc gì phải ngại ngùng với ta. Ta biết lòng con mong ai. Cậu trai kia cũng đang tuyệt vọng lắm. Ta ước gì có thể cho hai đứa được thành đôi." Nghe thế Ku-xum bỗng oà khóc, chạy biến. Sau đó nhiều tối tôi tới nhà ông Sri-pa-ti, gọi Ku-xum ra, chuyện trò với nó những điều về anh, và thế là dần dần nó bớt ngượng. Cuối cùng, khi tôi bảo tôi sẽ cố lo cho hai đứa lấy nhau, nó hỏi: "Làm sao được ạ?" Tôi bảo: "Không sao. Ta sẽ nói con là con gái nhà Bà-la-môn." Sau một hồi bàn cãi, nó van tôi hỏi xem anh có bằng lòng không. Tôi đáp: "Nói gì vớ vẩn thế. Thằng bé gần như phát rồ rồi, kể hết những chuyện rắc rối ấy cho nó nghe thì được gì? Cứ để lễ cưới trót lọt đã, rồi thì đâu sẽ vào đấy. Nhất là chuyện này chẳng có chút nguy cơ nào bị lộ, thì việc gì phải cất công làm cho một người khổ cả đời?"
— Tôi chẳng biết Ku-xum có ưng kế ấy hay không. Có lúc nó khóc, có lúc nó im lặng. Tôi mà bảo: "Thế thì thôi vậy", là nó lại bồn chồn cả lên. Việc đang thế thì tôi cho ông Sri-pa-ti tới gặp anh, ngỏ lời gả con gái. Anh nhận lời chẳng chút đắn đo. Mọi chuyện thế là xong.
— Ít lâu trước ngày cưới, Ku-xum bướng bỉnh tới mức tôi phải vất vả lắm mới khuyên được nó xuôi lại. Nó cứ nói mãi với tôi: "Thôi bác ơi, bỏ đi bác." Tôi mắng nó: "Con bé dại dột này, con nói gì thế? Mọi việc đã định rồi, giờ rút lui sao được?"
— Nó van nài: "Bác cứ đồn là con chết rồi. Bác gửi con đi đâu đó cũng được."
— Tôi bảo: "Thế còn cậu trai kia thì sao? Giờ nó đang sướng như lên tầng trời thứ bảy, chờ tới mai được toại nguyện điều nó ấp ủ bấy lâu, mà hôm nay con lại muốn ta báo tin con chết cho nó. Thế thì mai ta lại phải mang tin nó chết tới cho con, rồi ngay tối hôm ấy người ta lại báo cho ta tin con chết. Con tưởng tuổi này ta còn đủ sức gây ra cùng lúc một tội giết con gái và một tội giết người Bà-la-môn sao?"
— Rốt cuộc đám cưới hạnh phúc đã cử hành đúng giờ lành, và tôi thấy nhẹ nhõm vì đã làm xong một bổn phận nặng nề đối với chính mình. Chuyện về sau thì anh biết rõ hơn ai hết.
Im lặng một lúc, Hê-man-ta bật lên:
— Ông đã gây cho chúng tôi một tai hoạ không gì bù đắp được, sao ông không dừng ở đó? Sao bây giờ ông lại nói ra điều bí mật?
Ông Pi-a-ri San-ka bình thản hết sức đáp:
— Khi thấy mọi việc đã sắp đặt đâu vào đấy cho đám cưới của em gái anh, tôi tự nhủ: "Chà, ta đã làm ô uế đẳng cấp của một người Bà-la-môn, nhưng đó chỉ là vì bổn phận. Giờ lại có đẳng cấp của một người Bà-la-môn khác đang lâm nguy, và lần này bổn phận rõ ràng của ta là phải ngăn lại." Thế là tôi viết thư cho bên ấy, nói rằng tôi có đủ bằng chứng anh đã lấy con gái một nhà đẳng cấp thấp làm vợ.
Gắng hết sức để tự kiềm chế, Hê-man-ta nói:
— Người con gái tôi sắp phải bỏ đi đây rồi sẽ ra sao? Ông có cho cô ấy ăn, cho cô ấy chỗ ở không?
Ông Pi-a-ri San-ka bình thản đáp:
— Phần việc của tôi thì tôi đã làm. Lo cho những người vợ bị người khác ruồng bỏ đâu phải bổn phận của tôi. Có ai đấy không? Mang cho cậu Hê-man-ta một cốc nước dừa có đá. Với ít trầu nữa.
Hê-man-ta đứng dậy ra về, chẳng đợi thứ hiếu khách xa hoa ấy.
Đó là đêm thứ năm trăng khuyết, và trời tối đen. Không có chim nào hót. Cây vải bên ao trông như một vệt mực trên nền chỉ nhạt hơn một chút. Gió nam lang thang mù quáng trong bóng tối như một người mộng du. Những vì sao trên trời mở to đôi mắt thức canh, không chớp, cố nhìn xuyên bóng tối, như muốn dò thấu một điều bí ẩn sâu xa nào đó.
Phòng ngủ không một ánh đèn. Hê-man-ta ngồi ở mép giường cạnh cửa sổ mở, nhìn đăm đăm vào bóng tối trước mặt. Ku-xum nằm dưới sàn, hai tay ôm lấy chân chồng, mặt áp lên đó. Thời gian đứng lặng như một đại dương đã nín thở. Trên nền đêm vĩnh cửu, Số Phận như đã vẽ một bức tranh duy nhất này cho tới muôn đời: bốn bề là huỷ diệt, ở giữa là người phán xử, và kẻ có tội nằm dưới chân.
Lại có tiếng dép. Tới gần cửa, ông Ha-ri-ha Mu-kơ-ji nói:
— Cho mày thế là đủ thời gian rồi, ta không cho thêm được nữa. Đuổi con bé ra khỏi nhà.
Nghe thế, Ku-xum ôm chặt đôi chân chồng bằng tất cả nồng nàn của một đời người, hôn lên đó khắp cả, rồi cung kính đặt trán chạm vào, và buông ra.
Hê-man-ta đứng dậy, bước ra cửa, nói:
— Thưa cha, con sẽ không bỏ vợ con.
Ông Ha-ri-ha gầm lên:
— Cái gì! Mày muốn mất đẳng cấp hả?
Hê-man-ta bình thản đáp:
— Con không cần đẳng cấp.
Ông Ha-ri-ha nói:
— Thế thì cả mày, ta cũng từ.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn