– Ông hàng xóm uống thử cái này đi, rồi ông cho tôi biết ý kiến.
Rồi từng giọt từng giọt, cẩn thận tỉ mỉ như người thợ ngọc đếm hạt trai, cha xứ làng Gờ-ra-vơ-xông rót cho tôi hai ngón tay một thứ rượu màu xanh lục ánh vàng, nồng ấm, lấp lánh, tuyệt hảo… Cả dạ dày tôi như ngập nắng.
Ông cha xứ tốt bụng nói với vẻ đắc thắng:
– Đó là rượu thuốc của cha Gô-se, niềm vui và sức khoẻ của xứ Pờ-rô-văng-xơ chúng tôi. Người ta làm nó ở tu viện dòng Pờ-rê-mông-tơ, cách cối xay của ông hai dặm… Ông thấy có đáng giá bằng tất cả các thứ rượu thuốc của các thầy dòng khác trên đời không?… Mà giá ông biết chuyện về thứ rượu này ngộ nghĩnh đến thế nào! Ông nghe đây…
Thế là, hết sức hồn nhiên, chẳng có chút ác ý nào, trong căn phòng ăn của nhà xứ trong trẻo và yên tĩnh biết bao, với những bức tranh nhỏ vẽ Đường Thánh giá và những tấm rèm sáng màu hồ cứng như áo lễ, ông cha xứ bắt đầu kể cho tôi một câu chuyện nhỏ hơi hoài nghi và hơi bất kính, kiểu những truyện cười của các nhà văn trào phúng ngày xưa.
– Cách đây hai mươi năm, các cha dòng Pờ-rê-mông-tơ, hay đúng hơn là các cha Áo Trắng, như dân Pờ-rô-văng-xơ chúng tôi vẫn gọi, đã lâm vào cảnh nghèo khốn cùng. Giá ông được thấy tu viện của họ hồi ấy, hẳn ông cũng phải đau lòng.
Bức tường lớn, ngọn tháp Pa-côm vỡ ra từng mảng. Quanh hành lang tu viện cỏ mọc đầy, những cột nhỏ nứt toác, các vị thánh bằng đá đổ sụp trong khám. Không một ô cửa kính nào còn nguyên, không một cánh cửa nào còn đứng vững. Trong sân, trong các nhà nguyện, gió sông Rôn thổi như ở đồng Ca-mác, làm tắt nến, làm gãy khung chì của cửa kính, hắt nước ra khỏi bình nước thánh. Nhưng buồn nhất là tháp chuông của tu viện, im lìm như một chuồng bồ câu bỏ trống, và các cha, vì không có tiền mua chuông, phải gõ những cái phách bằng gỗ hạnh đào để báo giờ kinh sáng!…
Tội nghiệp các cha Áo Trắng! Tôi như còn thấy họ trong cuộc rước lễ Mình Thánh Chúa, buồn bã đi thành hàng trong những chiếc áo choàng vá víu, xanh xao, gầy gò, ăn toàn dưa gang dưa hấu, và sau họ là đức cha bề trên, cúi đầu bước đi, xấu hổ vì phải phơi ra dưới nắng cây gậy mục tử đã tróc hết vàng và chiếc mũ lễ bằng len trắng bị mối mọt ăn. Các bà trong hội đoàn đứng trong hàng mà khóc vì thương, còn mấy ông cầm cờ to béo thì khẽ cười khẩy với nhau, chỉ trỏ những thầy tu nghèo khổ:
– Sáo sậu mà bay thành đàn thì con nào cũng gầy.
Sự thật là chính các cha Áo Trắng bất hạnh cũng đã đến mức tự hỏi có nên bay đi khắp thiên hạ, mỗi người tự kiếm ăn một phương thì hơn không.
Thế rồi một hôm, giữa lúc vấn đề hệ trọng ấy đang được bàn trong hội đồng tu viện, có người vào báo với cha bề trên rằng thầy Gô-se xin được trình bày trước hội đồng… Xin thưa để ông biết, thầy Gô-se ấy là người chăn bò của tu viện. Nghĩa là suốt ngày thầy lăn từ vòm này sang vòm khác trong hành lang tu viện, lùa trước mặt hai con bò gầy giơ xương đi tìm cỏ trong khe đá lát. Được một bà già điên ở vùng Bô nuôi tới năm mười hai tuổi, người ta gọi bà là dì Bê-gông, rồi sau đó được các thầy tu đón về, anh chăn bò khốn khổ chẳng bao giờ học được gì ngoài việc lùa bò và đọc kinh Lạy Cha, mà còn đọc bằng tiếng địa phương nữa, vì đầu óc thầy cứng như đá, trí khôn thì sắc như con dao găm bằng chì. Dẫu sao thầy cũng là một tín đồ nhiệt thành, tuy hơi hay mơ màng thấy chuyện thần thánh, mặc áo nhặm ngứa rất thoải mái, và tự đánh mình bằng roi với một niềm tin vững chắc, mà lại với đôi cánh tay ra trò!…
Khi thấy thầy bước vào phòng hội đồng, chất phác và vụng về, cúi chào cả hội nghị, một chân đưa ra sau, thì cha bề trên, các cha kinh sĩ, thầy thủ quỹ, ai nấy đều phá lên cười. Đi đến đâu, khuôn mặt hiền lành lốm đốm tóc bạc với chòm râu dê và đôi mắt hơi điên ấy cũng gây ra hiệu quả như thế, nên thầy Gô-se chẳng hề bối rối.
Thầy vừa nói bằng giọng chân chất, vừa vân vê chuỗi tràng hạt làm bằng hột ô liu:
– Thưa các cha, người ta nói thùng rỗng thì kêu to quả chẳng sai. Các cha thử nghĩ xem, nhờ cứ đào mãi cái đầu óc vốn đã rỗng tuếch của con, con tin là con đã tìm ra cách giúp tất cả chúng ta thoát khỏi cảnh khốn khó.
Thế này ạ. Các cha biết dì Bê-gông, cái bà tốt bụng trông con hồi con còn nhỏ ấy. Cầu Chúa cho linh hồn bà, mụ già tinh quái! Uống rượu vào là bà hát những bài hát chẳng ra gì. Con xin thưa các cha, dì Bê-gông lúc sinh thời am hiểu các loại cỏ trên núi chẳng kém, mà còn hơn cả một con sáo già xứ Coóc-xơ. Hơn nữa, về cuối đời, bà đã chế ra được một thứ rượu thuốc tuyệt vời bằng cách pha trộn năm sáu thứ cây thuốc mà hai dì cháu thường cùng nhau đi hái trên dãy núi An-pi-y. Chuyện đã lâu lắm rồi. Nhưng con nghĩ là với sự phù hộ của Thánh Au-gu-xtinh và sự cho phép của cha bề trên, nếu chịu khó tìm, con có thể tìm lại được công thức của thứ rượu thuốc bí ẩn ấy. Khi đó, chúng ta chỉ còn việc đóng chai, bán hơi đắt một chút, thế là cộng đoàn sẽ giàu lên từ từ, như các anh em của chúng ta ở dòng Tờ-ráp và dòng Cờ-răng…
Thầy không kịp nói hết. Cha bề trên đã đứng lên ôm chầm lấy cổ thầy. Các cha kinh sĩ nắm lấy tay thầy. Thầy thủ quỹ, còn cảm động hơn tất cả, kính cẩn hôn vào gấu áo trùm đầu tua tủa của thầy… Rồi ai nấy trở về ghế mình để bàn bạc, và ngay tại chỗ, hội đồng quyết định giao đàn bò cho thầy Tờ-ra-di-bun, để thầy Gô-se có thể dành trọn thời gian chế rượu thuốc.
Thầy tu tốt bụng tìm lại được công thức của dì Bê-gông bằng cách nào? Phải bỏ ra bao nhiêu công sức? Bao nhiêu đêm thức trắng? Sử sách không nói. Chỉ có điều chắc chắn là sau sáu tháng, rượu thuốc của các cha Áo Trắng đã nổi tiếng khắp nơi. Khắp vùng Công-ta, khắp xứ Ác-lơ, không một trang trại, không một kho thóc nào mà dưới đáy chạn, giữa những chai rượu nấu và những vò ô liu muối, lại không có một chai nhỏ bằng đất nung nâu, gắn xi in huy hiệu xứ Pờ-rô-văng-xơ, với hình một thầy tu đang ngây ngất trên chiếc nhãn bạc. Nhờ rượu thuốc đắt hàng, tu viện dòng Pờ-rê-mông-tơ giàu lên rất nhanh. Người ta xây lại tháp Pa-côm. Cha bề trên có mũ lễ mới, nhà thờ có những ô kính màu chạm trổ xinh đẹp. Và trên những đường ren tinh xảo của tháp chuông, vào một buổi sáng Phục sinh đẹp trời, cả một đàn chuông lớn chuông nhỏ đã bay về đậu, ngân nga rộn rã vang lừng.
Còn thầy Gô-se, cái thầy tu giúp việc tội nghiệp có những trò quê mùa từng làm cả hội đồng cười nghiêng ngả ấy, thì trong tu viện không ai nhắc tới nữa. Từ nay, người ta chỉ biết có cha Gô-se đáng kính, một người có đầu óc và hiểu biết uyên thâm, sống hoàn toàn tách biệt khỏi những công việc vụn vặt và lắm thứ của tu viện, suốt ngày nhốt mình trong xưởng nấu rượu, trong khi ba mươi thầy tu lùng khắp núi để hái cỏ thơm cho cha… Cái xưởng nấu rượu ấy, nơi không ai, kể cả cha bề trên, được phép bước vào, là một nhà nguyện cũ bỏ hoang ở tận cuối vườn của các cha kinh sĩ. Sự chất phác của các cha tốt bụng đã biến nó thành một cái gì đó bí ẩn và đáng sợ. Và nếu tình cờ có một chú thầy tu nhỏ nào gan dạ và tò mò, bám vào những dây nho leo, trèo lên được tới ô cửa sổ tròn trên cổng, thì chú vội vàng tụt xuống ngay, hoảng hồn vì đã thấy cha Gô-se với chòm râu như của thầy phù thuỷ, cúi xuống bên những bếp lò, tay cầm cái ống đo độ rượu. Rồi xung quanh là những bình cổ cong bằng sành hồng, những nồi chưng cất khổng lồ, những ống xoắn bằng pha lê, cả một mớ đồ đạc kỳ quái bừa bộn, rực lên như bị bỏ bùa trong ánh đỏ của những ô kính màu…
Lúc ngày tàn, khi chuông Truyền tin cuối cùng vang lên, cánh cửa của nơi bí ẩn ấy kín đáo mở ra, và cha đáng kính đi sang nhà thờ dự kinh chiều. Phải thấy cha được đón tiếp thế nào khi đi qua tu viện! Các thầy đứng thành hai hàng hai bên lối đi. Người ta bảo nhau:
– Suỵt!… Cha nắm bí quyết đấy!…
Thầy thủ quỹ đi theo cha, cúi đầu thưa chuyện… Giữa những lời tâng bốc ấy, cha vừa đi vừa lau trán, chiếc mũ ba sừng vành rộng đội lệch ra sau như một vầng hào quang, hài lòng nhìn quanh những cái sân rộng trồng cam, những mái nhà xanh có chong chóng gió mới đang quay, và trong hành lang tu viện trắng chói lọi, giữa những hàng cột nhỏ thanh lịch và hoa lá, các cha kinh sĩ mặc áo mới tinh đi từng đôi một với vẻ mặt thư thái.
Cha đáng kính tự nhủ: “Tất cả những thứ này họ đều nhờ ở ta!” Và mỗi lần nghĩ thế, lòng kiêu hãnh lại bốc lên trong cha từng đợt.
Con người tội nghiệp đã bị trừng phạt đích đáng. Rồi ông sẽ thấy…
Ông thử hình dung, một buổi tối, đang giờ kinh, cha đến nhà thờ trong một trạng thái bồn chồn khác thường. Mặt đỏ gay, thở hổn hển, mũ trùm đầu lệch sang một bên, và bối rối đến nỗi lúc chấm nước thánh, cha nhúng cả tay áo vào tới khuỷu. Lúc đầu người ta tưởng là vì cha cuống lên do đến muộn. Nhưng khi thấy cha cúi chào thật sâu cây đàn ống và những hàng ghế trên gác thay vì chào bàn thờ chính, rồi đi băng qua nhà thờ như cơn gió, lang thang trong gian cung thánh năm phút để tìm ghế của mình, rồi khi đã ngồi, lại nghiêng bên phải bên trái mỉm cười với vẻ ngây ngất, thì một tràng xì xào kinh ngạc chạy khắp ba gian nhà thờ. Người ta thì thầm từ cuốn sách kinh này sang cuốn sách kinh kia:
– Cha Gô-se của chúng ta làm sao thế?… Cha Gô-se của chúng ta làm sao thế?
Hai lần, cha bề trên mất kiên nhẫn, gõ gậy xuống nền đá để bắt im lặng… Đằng kia, cuối gian cung thánh, các bài thánh vịnh vẫn tiếp tục, nhưng những câu đáp thì thiếu hăng hái…
Bỗng, đúng giữa bài kinh kính Mình Thánh, cha Gô-se của chúng ta ngả người ra sau ghế, cất giọng oang oang hát:
Ở Pa-ri có một cha Áo Trắng,
Pa-ta-tanh, pa-ta-tăng, ta-ra-banh, ta-ra-băng…
Mọi người sững sờ. Ai nấy đứng bật dậy. Người ta kêu lên:
– Khiêng ông ấy ra… Ông ấy bị quỷ ám rồi!
Các cha kinh sĩ làm dấu thánh giá. Cây gậy của đức cha bề trên khua loạn xạ… Nhưng cha Gô-se chẳng thấy gì, chẳng nghe gì. Và hai thầy tu lực lưỡng phải lôi cha ra qua cánh cửa nhỏ của gian cung thánh, cha giãy giụa như người đang bị trừ tà và càng hát to hơn những câu pa-ta-tanh, ta-ra-băng của mình.
Sáng hôm sau, lúc tinh mơ, con người khốn khổ quỳ trong phòng nguyện của cha bề trên, nước mắt ròng ròng, xưng tội của mình.
Cha vừa đấm ngực vừa nói:
– Tại rượu thuốc, thưa Đức cha, tại rượu thuốc nó bất ngờ quật ngã con.
Thấy cha buồn rầu, ăn năn đến thế, chính cha bề trên tốt bụng cũng xúc động.
– Thôi nào, thôi nào, cha Gô-se, bình tĩnh lại đi, rồi mọi chuyện sẽ khô đi như sương dưới nắng… Dẫu sao thì vụ tai tiếng cũng không đến nỗi lớn như cha nghĩ. Có bài hát thì hơi… e hèm!… Thôi thì mong là các thầy tập sinh không nghe thấy… Bây giờ, xem nào, cha kể cho tôi nghe rõ xem chuyện xảy ra thế nào… Lúc nếm thử rượu thuốc phải không? Chắc cha rót tay hơi nặng… Phải, phải, tôi hiểu rồi… Cũng như thầy Sơ-va, người phát minh ra thuốc súng ấy, cha là nạn nhân của chính phát minh của mình… Mà này, người bạn tốt của tôi, có nhất thiết cha phải tự mình nếm thử thứ rượu thuốc khủng khiếp ấy không?
– Khốn thay, có đấy, thưa Đức cha… Cái ống đo thì cho con biết sức mạnh và độ của rượu, nhưng về cái độ êm, độ mượt, con chỉ tin vào cái lưỡi của con thôi…
– À, được lắm… Nhưng cha nghe tôi hỏi thêm chút nữa… Khi cha nếm rượu thuốc như thế vì bắt buộc, cha có thấy ngon không? Cha có thích thú không?…
Cha khốn khổ đỏ mặt lên, thưa:
– Than ôi, có ạ, thưa Đức cha… Hai tối nay con thấy nó có một hương thơm, một mùi vị!… Chắc chắn là quỷ sứ đã chơi khăm con… Vì thế con quyết từ nay chỉ dùng cái ống đo thôi. Rượu có kém tinh tế, có kém sủi tăm cũng mặc…
Cha bề trên vội ngắt lời:
– Đừng có làm thế. Không được để khách hàng phật ý… Bây giờ đã được báo trước rồi, cha chỉ cần đề phòng cẩn thận là được… Xem nào, cha cần bao nhiêu để nhận biết?… Mười lăm hay hai mươi giọt, phải không?… Ta cứ cho là hai mươi giọt… Quỷ có tinh ranh lắm mới bắt được cha bằng hai mươi giọt… Vả lại, để phòng mọi sự cố, từ nay tôi miễn cho cha khỏi phải đến nhà thờ. Cha sẽ đọc kinh chiều ngay trong xưởng nấu rượu… Bây giờ, cha đáng kính, cha hãy đi bình an, và nhất là… nhớ đếm kỹ số giọt.
Than ôi! Cha đáng kính tội nghiệp đếm giọt cũng vô ích… Quỷ đã nắm được cha, và không buông ra nữa.
Cái xưởng nấu rượu đã được nghe những buổi kinh lạ lùng!
Ban ngày thì còn ổn. Cha khá bình tĩnh. Cha chuẩn bị bếp, nồi chưng cất, cẩn thận lựa cỏ, toàn cỏ xứ Pờ-rô-văng-xơ, mảnh mai, xám bạc, lá có răng cưa, cháy nắng và đẫm hương… Nhưng buổi tối, khi cây thuốc đã ngâm xong và rượu thuốc đang nguội dần trong những chậu lớn bằng đồng đỏ, thì cực hình của con người tội nghiệp bắt đầu.
– … Mười bảy… mười tám… mười chín… hai mươi!…
Những giọt rượu từ ống nhỏ rơi vào cái cốc mạ vàng. Hai mươi giọt ấy, cha nuốt một hơi, gần như chẳng thấy thú vị gì. Chỉ có giọt thứ hai mươi mốt mới làm cha thèm. Ôi, cái giọt thứ hai mươi mốt ấy!… Thế là để thoát khỏi cám dỗ, cha đi ra tận cuối phòng, quỳ xuống, đắm mình trong kinh nguyện. Nhưng từ thứ rượu còn ấm bốc lên một làn khói nhỏ đượm hương, lượn quanh cha và, dù muốn dù không, lại kéo cha về phía những cái chậu… Rượu có một màu xanh lục ánh vàng tuyệt đẹp… Cúi xuống trên đó, cánh mũi phập phồng, cha khẽ khuấy bằng ống nhỏ, và trong những vẩy nhỏ lấp lánh mà dòng ngọc bích cuốn theo, cha tưởng như thấy đôi mắt của dì Bê-gông đang cười và lấp lánh nhìn mình…
– Thôi nào! Thêm một giọt nữa!
Và giọt này đến giọt khác, con người bất hạnh rốt cuộc có cả một cốc đầy tới miệng. Bấy giờ, kiệt sức, cha buông mình xuống một chiếc ghế bành lớn, thân thể rã rời, mi mắt khép hờ, nhấm nháp tội lỗi của mình từng ngụm nhỏ, vừa thì thầm với một nỗi ăn năn ngọt ngào:
– Ôi, ta tự đày mình vào hoả ngục… ta tự đày mình vào hoả ngục…
Khủng khiếp nhất là dưới đáy thứ rượu thuốc của quỷ ấy, nhờ một thứ bùa phép nào đó, cha lại tìm thấy tất cả những bài hát chẳng ra gì của dì Bê-gông: “Có ba bà cô lắm chuyện, rủ nhau mở tiệc linh đình…” hoặc: “Cô bé chăn cừu nhà bác An-đơ-rê, một mình vào rừng…”, và lúc nào cũng có bài hát nổi tiếng về cha Áo Trắng: “Pa-ta-tanh, pa-ta-tăng”.
Ông thử nghĩ xem hôm sau cha xấu hổ thế nào, khi những người ở phòng bên cạnh nói với cha bằng giọng tinh quái:
– Ê hê! Cha Gô-se ơi, tối qua lúc đi ngủ trong đầu cha có cả bầy ve sầu đấy.
Thế là nước mắt, là tuyệt vọng, là ăn chay, là áo nhặm, là roi vọt. Nhưng chẳng gì chống lại được con quỷ rượu thuốc. Và tối nào cũng vậy, đúng giờ ấy, cơn quỷ ám lại bắt đầu.
Trong khi ấy, đơn đặt hàng đổ về tu viện như mưa, thật là phúc lộc. Có đơn từ Nim, từ Ếch, từ A-vi-nhông, từ Mác-xây… Ngày qua ngày, tu viện mang dáng dấp một nhà máy. Có các thầy đóng hòm, các thầy dán nhãn, các thầy khác lo sổ sách, các thầy khác nữa lo chở hàng. Việc thờ phượng Chúa thỉnh thoảng có mất đi vài hồi chuông, nhưng dân nghèo trong vùng thì chẳng mất gì, tôi dám chắc với ông như thế…
Và thế là vào một buổi sáng chủ nhật đẹp trời, giữa lúc thầy thủ quỹ đang đọc bản kiểm kê cuối năm trước toàn thể hội đồng, và các cha kinh sĩ tốt bụng đang nghe, mắt sáng ngời, môi nở nụ cười, thì cha Gô-se lao vào giữa cuộc họp, kêu lên:
– Thôi hết rồi… Con không làm nữa… Trả bò lại cho con.
Cha bề trên, vốn cũng đoán được phần nào chuyện gì, hỏi:
– Có chuyện gì thế, cha Gô-se?
– Chuyện gì ư, thưa Đức cha?… Chuyện là con đang tự chuẩn bị cho mình cả một cõi vĩnh hằng tuyệt đẹp toàn lửa và chĩa đâm… Chuyện là con uống, con uống như một kẻ khốn nạn…
– Nhưng tôi đã bảo cha đếm số giọt rồi cơ mà.
– Ôi, phải rồi, đếm giọt! Bây giờ phải đếm bằng cốc mới đúng… Vâng, thưa các cha, con đến nước ấy rồi đấy. Mỗi tối ba chai… Các cha hiểu cho, chuyện này không thể kéo dài được… Vì thế các cha muốn ai làm rượu thuốc thì cứ việc… Lửa trời thiêu con đi nếu con còn dính vào nữa!
Bấy giờ thì hội đồng hết cười.
Thầy thủ quỹ vung vẩy cuốn sổ cái, kêu lên:
– Nhưng con người khốn khổ kia, cha làm chúng tôi phá sản mất!
– Thế thầy muốn tôi phải vào hoả ngục à?
Lúc ấy, cha bề trên đứng dậy.
Ngài dang bàn tay trắng đẹp có chiếc nhẫn mục tử lấp lánh, nói:
– Thưa các cha, có cách thu xếp được mọi sự… Quỷ cám dỗ con vào buổi tối phải không, con yêu quý của ta?…
– Vâng, thưa cha bề trên, đều đặn tối nào cũng thế… Bởi vậy bây giờ, hễ thấy đêm xuống là, xin lỗi các cha, con lại toát mồ hôi, như con lừa của bác Ca-pi-tu mỗi lần thấy người ta mang yên đến.
– Thế thì con yên tâm… Từ nay, tối nào trong giờ kinh, chúng ta cũng sẽ đọc kinh Thánh Au-gu-xtinh cầu cho con, kinh ấy có kèm ơn đại xá… Có cái ấy rồi, dù có chuyện gì xảy ra, con cũng được che chở… Đó là được tha tội ngay trong lúc đang phạm tội.
– Ồ, thế thì cảm ơn cha bề trên!
Rồi chẳng đòi hỏi gì thêm, cha Gô-se quay về với những nồi chưng cất của mình, nhẹ nhõm như một con chim sơn ca.
Quả thật, từ lúc ấy trở đi, tối nào cũng vậy, cuối giờ kinh tối, vị chủ lễ không bao giờ quên nói:
– Chúng ta hãy cầu nguyện cho cha Gô-se tội nghiệp của chúng ta, người đã hy sinh linh hồn mình vì lợi ích của cộng đoàn… Lạy Chúa, chúng con cầu xin…
Và trong khi lời kinh lướt rì rào trên tất cả những chiếc mũ trùm trắng đang cúi rạp trong bóng tối các gian nhà thờ, như một làn gió bấc nhẹ thoảng trên tuyết, thì đằng kia, tận cuối tu viện, sau những ô kính rực lửa của xưởng nấu rượu, người ta nghe cha Gô-se đang hát vang:
Ở Pa-ri có một cha Áo Trắng,
Pa-ta-tanh, pa-ta-tăng, ta-ra-băng, ta-ra-banh;
Ở Pa-ri có một cha Áo Trắng
Cho các bà xơ nhỏ nhảy múa,
Tranh, tranh, tranh, trong vườn xanh;
Cho các bà xơ nhỏ…
… Đến đây, ông cha xứ tốt bụng dừng lại, kinh hãi:
– Lạy Chúa thương xót! Giáo dân của tôi mà nghe thấy thì chết!
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn