Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Sâm-banh

của Anton Chekhov

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 11.621 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Cái năm câu chuyện của tôi bắt đầu, tôi…
  2. 3:44Vợ tôi cầm cốc của mình lên, đưa đôi…
  3. 4:16Cô ấy không nhấp lấy một ngụm, đi ra…
  4. 5:55Ngoài thất bại và tai ương ra, mình chẳng…
  5. 8:29Ở bậc cửa, vợ tôi ra đón. Đôi mắt…
  6. 8:54Chắc tôi đã cau mày, vì vợ tôi làm…
  7. 10:33Bữa tối lại bắt đầu. Nút chai thứ hai…
  8. 11:09Hẳn ta đã gặp em

Cái năm câu chuyện của tôi bắt đầu, tôi làm trưởng một ga xép trên một tuyến đường sắt miền tây nam nước ta. Sống ở ga xép ấy vui hay buồn thì các ông cứ xét qua điều này: quanh đấy hai mươi dặm không có lấy một mái nhà có người ở, không một bóng đàn bà, không một quán rượu tử tế, mà tôi hồi ấy lại trẻ, khoẻ, nóng nảy, gàn dở và ngu ngốc. Trò giải trí duy nhất chỉ có những ô cửa sổ của các đoàn tàu khách và thứ rượu vốt-ca tồi tệ mà bọn bán rượu pha cà độc dược vào. Có khi, ở ô cửa toa tàu, thoáng hiện một mái đầu đàn bà, thế là mình đứng sững như pho tượng, nín thở mà nhìn, nhìn mãi cho đến khi đoàn tàu chỉ còn là một chấm nhỏ khó thấy. Hoặc uống cho đến lúc không nhét thêm được nữa thứ vốt-ca ghê tởm ấy, đờ đẫn ra, và không còn cảm thấy những giờ, những ngày dài dằng dặc trôi qua. Với tôi, một người sinh ra ở miền bắc, thảo nguyên tác động như cảnh một nghĩa địa bỏ hoang của người Tác-ta. Mùa hè, với cái tĩnh lặng trang nghiêm của nó, với tiếng châu chấu kêu đều đều, với ánh trăng trong suốt chẳng biết trốn vào đâu cho khỏi, nó gợi lên trong tôi một nỗi buồn ủ ê. Còn mùa đông, cái trắng tinh không một vết của thảo nguyên, khoảng xa lạnh lẽo, những đêm dài và tiếng sói tru đè lên tôi như một cơn ác mộng nặng nề.

Ở ga xép có mấy người: tôi với vợ, một anh điện báo viên điếc và lở loét, cùng ba người gác. Người phụ tá của tôi, một chàng trai trẻ mắc bệnh lao, lên tỉnh chữa bệnh, ở đó hàng tháng trời, để lại cho tôi các nhiệm vụ của anh ta, kèm luôn quyền hưởng lương của anh ta. Tôi không có con, khách khứa thì có lấy bánh ngọt ra dụ cũng chẳng ai đến, còn chính tôi chỉ có thể đi thăm các bạn đồng nghiệp dọc tuyến, mà cũng chẳng quá một lần mỗi tháng. Nói chung là một cuộc sống buồn tẻ hết chỗ nói.

Tôi nhớ, tôi cùng vợ đón giao thừa. Chúng tôi ngồi bên bàn, uể oải nhai, nghe anh điện báo viên điếc ở phòng bên gõ đều đều trên máy của anh ta. Tôi đã uống chừng năm ly vốt-ca pha cà độc dược, và lấy nắm tay chống lấy cái đầu nặng trĩu, tôi nghĩ về nỗi buồn chán không gì thắng nổi, không lối thoát của mình. Còn vợ tôi ngồi bên cạnh, không rời mắt khỏi mặt tôi. Cô ấy nhìn tôi như chỉ một người đàn bà trên đời chẳng có gì ngoài một ông chồng đẹp trai mới có thể nhìn như thế. Cô ấy yêu tôi điên cuồng, như một kẻ nô lệ, và yêu không chỉ vẻ đẹp hay tâm hồn tôi, mà yêu cả những tội lỗi của tôi, sự cay độc và buồn chán của tôi, thậm chí cả sự tàn nhẫn của tôi, khi tôi say mềm, cuồng lên, không biết trút giận vào ai, đã hành hạ cô ấy bằng những lời trách móc.

Mặc dù nỗi buồn chán đang gặm nhấm tôi, chúng tôi vẫn chuẩn bị đón năm mới một cách trang trọng khác thường, và chờ nửa đêm với đôi chút sốt ruột. Chuyện là chúng tôi có để dành hai chai sâm-banh, sâm-banh thứ thiệt, có nhãn hiệu bà goá Cli-cô. Thứ của báu ấy tôi thắng cược được của ông trưởng đoạn đường từ hồi mùa thu, trong lúc chè chén ở nhà ông ta nhân lễ rửa tội con. Có khi, trong giờ toán, khi đến không khí cũng đông cứng vì buồn chán, một con bướm từ ngoài sân bay vào lớp. Bọn trẻ lắc đầu tỉnh lại, tò mò dõi theo đường bay của nó, như thể trước mặt chúng không phải một con bướm, mà là một cái gì mới lạ, kỳ quặc. Cũng y như thế, thứ sâm-banh bình thường, tình cờ lạc đến cái ga xép buồn tẻ của chúng tôi, làm chúng tôi thích thú. Chúng tôi im lặng, chốc chốc lại nhìn đồng hồ, rồi nhìn hai cái chai.

Khi kim đồng hồ chỉ mười hai giờ kém năm, tôi bắt đầu chậm rãi mở nút chai. Chẳng biết vì vốt-ca làm tôi yếu tay, hay vì cái chai ướt quá, chỉ nhớ là khi nút chai nổ đánh bốp, bay lên trần, thì cái chai tuột khỏi tay tôi, rơi xuống sàn. Rượu đổ ra không quá một cốc, vì tôi kịp chụp lấy cái chai và lấy ngón tay bịt cái cổ chai đang sủi bọt xì xì.

- Nào, chúc mừng năm mới, chúc hạnh phúc mới! - tôi nói, rót ra hai cốc. - Uống đi!

Vợ tôi cầm cốc của mình lên, đưa đôi mắt hoảng sợ nhìn tôi. Mặt cô ấy tái đi, đầy vẻ kinh hoàng.

- Anh đánh rơi cái chai à? - cô ấy hỏi.

- Ừ, đánh rơi. Thì sao?

- Không hay rồi, - cô ấy nói, đặt cốc xuống, mặt càng tái hơn. - Điềm xấu. Thế nghĩa là năm nay sẽ có chuyện gì không hay xảy ra với chúng ta.

- Em đúng là đàn bà! - tôi thở dài. - Một người đàn bà thông minh mà lại nói mê như bà vú già. Uống đi.

- Lạy Chúa cho em chỉ là nói mê, nhưng... nhất định sẽ có chuyện gì đó! Rồi anh xem!

Cô ấy không nhấp lấy một ngụm, đi ra một góc ngồi nghĩ ngợi. Tôi nói mấy câu cũ rích về chuyện mê tín, uống hết nửa chai, đi tới đi lui từ góc này sang góc kia, rồi bước ra ngoài.

Ngoài trời là một đêm băng giá tĩnh lặng, với tất cả vẻ đẹp lạnh lùng, khó gần của nó. Vầng trăng và hai đám mây trắng bông xốp bên cạnh treo bất động, như bị dán vào, trên cao ngay trên đầu ga xép, như đang chờ đợi điều gì. Từ chúng toả ra một thứ ánh sáng nhẹ, trong suốt, dịu dàng chạm vào mặt đất trắng, như sợ làm tổn thương sự e thẹn của nó, soi sáng mọi thứ: những đống tuyết, bờ đường ray... Trời im lặng.

Tôi đi dọc bờ đường ray.

"Người đàn bà ngốc nghếch! - tôi nghĩ, nhìn bầu trời đầy sao sáng. - Cứ cho là điềm báo đôi khi nói đúng đi, thì còn chuyện gì xấu có thể xảy ra với chúng ta nữa? Những bất hạnh đã nếm trải và đang sờ sờ trước mắt đã lớn đến mức khó nghĩ ra cái gì tệ hơn nữa. Còn có thể gây thêm điều ác gì cho một con cá đã bị bắt, đã bị rán và đã được dọn lên bàn kèm nước sốt?"

Cây dương cao, phủ sương giá, hiện ra trong màn sương xanh nhạt như một gã khổng lồ khoác tấm vải liệm. Nó nhìn tôi nghiêm nghị và buồn bã, như thể nó cũng như tôi, hiểu sự cô đơn của mình. Tôi nhìn nó rất lâu.

"Tuổi trẻ của mình đã mất toi chẳng được một xu, như một mẩu thuốc lá vứt đi, - tôi nghĩ tiếp. - Bố mẹ mình mất khi mình còn nhỏ, mình bị đuổi khỏi trường trung học. Mình sinh ra trong một gia đình quý tộc, nhưng chẳng được dạy dỗ, chẳng được học hành, hiểu biết chẳng hơn gì một gã bôi dầu toa xe. Mình không có chốn nương thân, không có người thân, không bạn bè, không một công việc yêu thích. Mình chẳng làm được gì, đang độ sung sức nhất mà chỉ đáng để người ta lấy ra nhét vào chỗ trưởng ga xép.

Ngoài thất bại và tai ương ra, mình chẳng biết gì khác trong đời. Thì còn chuyện gì xấu có thể xảy ra nữa?"

Đằng xa hiện ra những ngọn đèn đỏ. Một đoàn tàu đang chạy về phía tôi. Thảo nguyên đang ngủ lắng nghe tiếng ầm ầm của nó. Ý nghĩ của tôi cay đắng đến nỗi tôi tưởng mình đang nghĩ thành lời, rằng tiếng rên của dây điện báo và tiếng ầm ầm của đoàn tàu đang truyền đi những ý nghĩ của tôi.

"Còn chuyện gì xấu có thể xảy ra nữa? Mất vợ chăng? - tôi tự hỏi. - Cái ấy cũng chẳng đáng sợ. Không thể trốn tránh lương tâm mình: mình không yêu vợ! Mình cưới cô ấy khi còn là một thằng nhóc. Bây giờ mình trẻ, khoẻ, còn cô ấy thì hốc hác, già đi, ngốc đi, từ đầu đến chân nhồi đầy những điều mê tín. Có gì hay trong cái tình yêu ngọt lợ của cô ấy, trong bộ ngực lép, trong ánh mắt uể oải ấy? Mình chịu đựng cô ấy, nhưng không yêu. Thì còn chuyện gì có thể xảy ra? Tuổi trẻ của mình đang mất đi, như người ta nói, chẳng đáng một nhúm thuốc lá. Đàn bà chỉ thoáng hiện trước mắt mình trong những ô cửa toa tàu, như những ngôi sao băng. Tình yêu thì chưa có và không có. Lòng can đảm, sự táo bạo, tấm lòng nồng hậu của mình đang lụi tàn... Tất cả lụi tàn như rác rưởi, và của cải của mình ở đây, giữa thảo nguyên, chẳng đáng một đồng xu."

Đoàn tàu ầm ầm lao vụt qua tôi, thờ ơ soi lên tôi những ô cửa sổ đỏ của nó. Tôi thấy nó dừng lại bên những ngọn đèn xanh của ga xép, đứng một phút rồi lăn bánh đi tiếp. Đi được chừng hai dặm, tôi quay về. Những ý nghĩ buồn bã không rời tôi. Dù cay đắng đến đâu, tôi nhớ là hình như tôi còn cố cho những ý nghĩ của mình buồn hơn, u ám hơn nữa. Các ông biết đấy, những người hẹp hòi và hay tự ái có những lúc mà ý thức mình bất hạnh lại đem đến cho họ đôi chút khoái cảm, và họ thậm chí còn làm duyên với chính mình bằng những đau khổ của mình. Trong những ý nghĩ của tôi có nhiều điều đúng, nhưng cũng có nhiều điều vô lý, khoác lác, và trong câu hỏi của tôi, "Thì còn chuyện gì xấu có thể xảy ra?", có cái gì đó thách thức kiểu trẻ con.

"Phải, còn chuyện gì xảy ra nữa? - tôi tự hỏi trên đường về. - Hình như mình đã trải qua hết rồi. Mình đã ốm, đã mất tiền, ngày nào cũng bị cấp trên khiển trách, đã chịu đói, đã có lần một con sói dại chạy vào sân ga. Còn gì nữa? Mình đã bị lăng mạ, bị làm nhục... và trong đời mình cũng đã lăng mạ người khác. Chỉ có mỗi việc là chưa bao giờ phạm tội, nhưng hình như mình không có khả năng phạm tội, còn toà án thì mình chẳng sợ."

Hai đám mây đã rời khỏi vầng trăng, đứng xa xa với vẻ như đang thì thầm với nhau một điều gì mà vầng trăng không được biết. Một làn gió nhẹ chạy qua thảo nguyên, mang theo tiếng ầm ầm trầm đục của đoàn tàu đã đi xa.

Ở bậc cửa, vợ tôi ra đón. Đôi mắt cô ấy cười vui vẻ, cả khuôn mặt toát lên vẻ hài lòng.

- Nhà mình có tin mới! - cô ấy thì thầm. - Anh vào phòng nhanh lên, mặc cái áo khoác mới vào: nhà mình có khách!

- Khách nào?

- Dì Na-ta-li-a Pê-tơ-rốp-na vừa đi tàu đến.

- Na-ta-li-a Pê-tơ-rốp-na nào?

- Vợ chú Xê-miôn Phi-ô-đô-rứt của em. Anh không biết dì đâu. Dì tốt bụng và dễ thương lắm...

Chắc tôi đã cau mày, vì vợ tôi làm ra vẻ mặt nghiêm trang, thì thầm thật nhanh:

- Dĩ nhiên, dì đến thế này cũng lạ, nhưng anh Ni-cô-lai, anh đừng giận, hãy rộng lượng một chút. Dì bất hạnh lắm. Chú Xê-miôn Phi-ô-đô-rứt quả là một kẻ độc đoán và ác, sống với chú khó lắm. Dì bảo dì chỉ ở với nhà mình ba ngày thôi, cho đến khi nhận được thư của anh trai dì.

Vợ tôi còn thì thầm với tôi một lúc lâu những chuyện vớ vẩn gì đó về ông chú độc đoán, về sự yếu đuối của con người nói chung và của những người vợ trẻ nói riêng, về bổn phận của chúng tôi là phải cho mọi người nương náu, kể cả những kẻ tội lỗi nặng nề, và vân vân. Chẳng hiểu gì sất, tôi mặc chiếc áo khoác mới vào rồi đi ra làm quen với "dì".

Bên bàn là một người đàn bà nhỏ nhắn với đôi mắt đen to. Cái bàn của tôi, những bức tường xám, chiếc đi-văng đẽo vụng về... hình như mọi thứ, đến từng hạt bụi nhỏ nhất, đều trẻ lại, vui lên trước sự có mặt của sinh vật này, mới mẻ, trẻ trung, toả ra một mùi hương khó tả, xinh đẹp và hư hỏng. Còn việc người khách là kẻ hư hỏng, tôi hiểu ngay qua nụ cười, qua mùi hương, qua cái kiểu nhìn và đùa nghịch với hàng mi, qua giọng nói của cô ta với vợ tôi, một người đàn bà đứng đắn... Cô ta chẳng cần kể với tôi rằng cô ta đã bỏ trốn khỏi chồng, rằng chồng cô ta già và độc đoán, rằng cô ta tốt bụng và vui tính. Tôi hiểu hết ngay từ cái nhìn đầu tiên, mà có lẽ ở châu Âu chẳng còn người đàn ông nào không biết nhận ra ngay từ cái nhìn đầu tiên một người đàn bà có tính khí như thế.

- Thế mà tôi không biết mình có một anh cháu to lớn thế này! - bà dì nói, chìa tay cho tôi và mỉm cười.

- Thế mà tôi không biết mình có một bà dì xinh xắn thế này! - tôi nói.

Bữa tối lại bắt đầu. Nút chai thứ hai nổ đánh bốp, và bà dì của tôi uống một hơi cạn nửa cốc. Còn khi vợ tôi ra ngoài đâu đó một phút, bà dì chẳng còn khách sáo, uống cạn cả một cốc đầy. Tôi say, vì rượu và vì sự có mặt của người đàn bà. Các ông còn nhớ bài tình ca ấy chứ?

Đôi mắt đen huyền, đôi mắt đắm say,

Đôi mắt rực cháy, đôi mắt đẹp thay,

Ta yêu biết mấy,

Ta sợ biết mấy!

Tôi không nhớ sau đó ra sao. Ai muốn biết tình yêu bắt đầu thế nào thì cứ đọc tiểu thuyết và truyện dài, còn tôi chỉ xin nói vài lời, bằng chính những lời của bài tình ca ngốc nghếch ấy:

Hẳn ta đã gặp em

Vào một giờ chẳng lành...

Mọi thứ đảo lộn tùng phèo, rơi tuốt xuống địa ngục. Tôi nhớ có một cơn lốc khủng khiếp, điên cuồng, cuốn tôi đi như một cái lông chim. Nó cuốn rất lâu, và xoá sạch khỏi mặt đất cả vợ tôi, cả chính bà dì, cả sức lực của tôi. Từ cái ga xép giữa thảo nguyên, như các ông thấy đấy, nó đã quăng tôi đến con phố tối tăm này.

Giờ thì các ông nói đi: còn chuyện gì xấu có thể xảy ra với tôi nữa?

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1887
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Шампанское, 1887
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →