Truyện Đỉnh

🔍 Truyện trinh thám

Lời mời quá hời

Sơ-lốc Hôm: Anh thư ký nhà môi giới chứng khoán · Chương 1/2 · của Arthur Conan Doyle

⏱ 18 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 19.439 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Ít lâu sau khi lấy vợ, tôi mua lại…
  2. 2:12Tuần trước tôi bị cảm nặng, phải nằm nhà…
  3. 3:29Đi liền.
  4. 7:11Và bây giờ mới đến phần kỳ quặc. Tôi…
  5. 8:37Còn Hợp nhất Niu Di-lân?
  6. 10:14Năm trăm bảng một năm! tôi hét lên.
  7. 11:56Đó lại chính là điều tôi không muốn cậu…
  8. 15:11Rốt cuộc ông sẽ quản lý cái kho lớn…

Chương 1: Lời mời quá hời

Ít lâu sau khi lấy vợ, tôi mua lại một phòng mạch ở khu Pát-đinh-tơn. Ông Pha-cơ già, người bán lại cho tôi, đã có thời làm ăn rất phát đạt. Nhưng tuổi tác, cộng thêm một chứng bệnh run giật chân tay, đã làm khách của ông thưa thớt hẳn đi. Thiên hạ vẫn tin, mà cũng chẳng lạ, rằng kẻ muốn chữa cho người khác thì trước hết bản thân phải lành lặn. Họ ngờ vực tài chữa bệnh của một ông thầy mà chính bệnh của mình, thuốc của mình cũng đành bó tay. Vậy nên ông Pha-cơ càng yếu thì phòng mạch càng sa sút. Đến lúc tôi mua lại, thu nhập của nó đã tụt từ một nghìn hai trăm bảng một năm xuống còn hơn ba trăm bảng một chút. Nhưng tôi tin vào sức trẻ và nghị lực của mình, và tin chắc chỉ vài năm nữa thôi, phòng mạch sẽ lại đông khách như xưa.

Suốt ba tháng đầu tiếp quản phòng mạch, tôi bận tối mắt tối mũi, và hầu như chẳng gặp người bạn của tôi là Sơ-lốc Hôm. Tôi thì bận quá không ghé được phố Bây-cơ, còn anh thì ít khi đi đâu, trừ những lúc đi vì công việc. Bởi thế tôi rất ngạc nhiên khi một buổi sáng tháng Sáu, đang ngồi đọc tờ tạp chí y khoa sau bữa điểm tâm, tôi nghe tiếng chuông cửa, rồi ngay sau đó là giọng nói cao, hơi the thé của người bạn cũ.

— A, Oát-xơn thân mến, anh vừa nói vừa sải bước vào phòng, gặp anh tôi mừng quá! Tôi mong là bà Oát-xơn đã hoàn toàn hồi phục sau mấy phen hồi hộp trong cái vụ Dấu bộ tứ của chúng ta.

— Cảm ơn anh, cả hai chúng tôi đều khoẻ, tôi đáp, bắt tay anh thật chặt.

— Tôi cũng mong, anh nói tiếp, ngồi xuống chiếc ghế xích đu, rằng những lo toan nghề thuốc chưa làm anh quên hẳn cái thú mà anh từng dành cho những bài toán suy luận nho nhỏ của chúng ta.

— Trái lại là đằng khác, tôi đáp. Mới tối qua tôi còn lật xem lại những ghi chép cũ, xếp loại các vụ mà chúng ta đã làm.

— Tôi mong là anh không coi bộ sưu tập của mình đã khép lại.

— Hoàn toàn không. Tôi chẳng mong gì hơn là được trải qua thêm vài chuyện như thế.

— Chẳng hạn ngay hôm nay?

— Phải, hôm nay cũng được, nếu anh muốn.

— Và đi xa tận Bơ-minh-hem?

— Được chứ, nếu anh cần.

— Còn phòng mạch thì sao?

— Mỗi khi ông hàng xóm đi vắng, tôi vẫn trông phòng mạch giúp ông ấy. Ông ấy lúc nào cũng sẵn lòng trả lại món nợ ấy.

— Ha! Thế thì còn gì bằng, Hôm nói, ngả người ra ghế và nhìn tôi chăm chú qua đôi mi khép hờ. Tôi thấy dạo này anh có ốm. Cảm lạnh mùa hè bao giờ cũng hơi khó chịu.

— Tuần trước tôi bị cảm nặng, phải nằm nhà ba ngày. Nhưng tôi tưởng mình đã khỏi hẳn rồi chứ.

— Anh khỏi thật. Trông anh khoẻ khoắn lắm.

— Vậy sao anh biết?

— Anh bạn thân mến, anh biết phương pháp của tôi mà.

— Vậy là anh suy ra?

— Dĩ nhiên.

— Từ cái gì?

— Từ đôi dép đi trong nhà của anh.

Tôi cúi nhìn đôi dép da bóng mới tinh đang đi dưới chân.

— Làm sao mà... tôi vừa mở miệng, nhưng Hôm đã trả lời trước khi tôi kịp hỏi.

— Dép của anh còn mới, anh nói. Anh mua chưa được mấy tuần. Đế dép mà anh đang chĩa về phía tôi đây hơi bị cháy sém. Thoạt tiên tôi nghĩ có lẽ nó bị ướt rồi bị hơ khô quá tay. Nhưng gần chỗ mu bàn chân còn một mẩu giấy tròn nhỏ có ký hiệu của người bán hàng. Nếu bị ướt thì mẩu giấy ấy đã bong mất rồi. Vậy là anh đã ngồi duỗi chân hơ lửa. Mà một người đang khoẻ mạnh thì khó mà làm thế, kể cả trong một tháng Sáu ẩm ướt như năm nay.

Cũng như mọi lập luận khác của Hôm, khi đã được giải thích thì chuyện ấy nghe thật giản dị. Anh đọc được ý nghĩ ấy trên nét mặt tôi, và nụ cười của anh thoáng chút cay đắng.

— Tôi e là cứ giải thích ra thì tôi lại tự hạ giá mình, anh nói. Kết quả mà không kèm nguyên nhân thì gây ấn tượng hơn nhiều. Vậy anh sẵn sàng đi Bơ-minh-hem chứ?

— Dĩ nhiên. Vụ gì vậy?

— Lên tàu anh sẽ được nghe đầy đủ. Thân chủ của tôi đang ngồi chờ ngoài xe ngựa. Anh đi ngay được không?

— Đi liền.

Tôi viết vội mấy chữ gửi ông hàng xóm, chạy lên lầu nói qua với vợ, rồi ra bậc cửa gặp Hôm.

— Ông hàng xóm của anh cũng là bác sĩ, anh nói, hất đầu về phía tấm biển đồng.

— Phải. Ông ấy cũng mua lại phòng mạch như tôi.

— Một phòng mạch lâu đời?

— Y như của tôi. Cả hai đều có từ hồi mới xây nhà.

— A! Vậy là anh đã chọn được cái tốt hơn trong hai cái.

— Tôi nghĩ vậy. Nhưng sao anh biết?

— Nhờ bậc thềm, anh bạn ạ. Bậc thềm nhà anh mòn sâu hơn nhà bên những bảy phân rưỡi. Còn quý ông ngồi trong xe kia là thân chủ của tôi, ông Hôn Pai-crốp. Để tôi giới thiệu anh với ông ấy. Này bác xà ích, quất ngựa đi nhanh lên, chúng tôi chỉ vừa kịp chuyến tàu thôi.

Người đàn ông ngồi đối diện tôi là một chàng trai trẻ, vạm vỡ, da dẻ hồng hào, gương mặt cởi mở, thật thà, và một bộ ria vàng ngắn, cứng. Anh đội chiếc mũ chóp cao bóng lộn và mặc một bộ com-lê đen giản dị, gọn gàng. Trông anh đúng là một chàng thư ký trẻ lanh lợi ở khu tài chính Luân Đôn, thuộc lớp người hay bị chê là dân phố chợ, nhưng chính lớp người ấy lại cung cấp cho ta những trung đoàn tình nguyện cừ khôi nhất, và sản sinh ra nhiều nhà thể thao giỏi hơn bất cứ tầng lớp nào trên quần đảo này. Gương mặt tròn, đỏ hây hây của anh vốn đầy vẻ vui tươi, nhưng hai khoé miệng tôi thấy cứ trễ xuống, trong một vẻ phiền muộn nửa như buồn cười. Phải đến khi cả ba đã yên vị trong toa hạng nhất và tàu đã chạy được một quãng về phía Bơ-minh-hem, tôi mới biết được chuyện gì đã đẩy anh tới tìm Sơ-lốc Hôm.

— Chúng ta có bảy mươi phút đi một mạch không dừng, Hôm nói. Thưa ông Hôn Pai-crốp, tôi muốn ông kể lại cho bạn tôi nghe câu chuyện rất thú vị của ông, đúng y như đã kể với tôi, hoặc chi tiết hơn nếu được. Nghe lại diễn biến một lần nữa cũng có ích cho tôi. Oát-xơn ạ, vụ này có thể hoá ra có chuyện, mà cũng có thể chẳng có gì. Nhưng ít ra nó cũng có những nét kỳ quặc, khác thường, thứ mà anh cũng như tôi đều mê. Nào, ông Pai-crốp, tôi sẽ không ngắt lời ông nữa.

Người bạn đồng hành trẻ tuổi nhìn tôi, mắt ánh lên tinh nghịch.

— Cái dở nhất của câu chuyện, anh nói, là nó cho thấy tôi ngốc không chịu được. Dĩ nhiên rồi mọi chuyện có thể vẫn ổn, và tôi cũng không thấy mình có thể làm khác được. Nhưng nếu tôi mất chỗ làm mà chẳng được gì bù lại, thì tôi sẽ thấy mình đúng là một gã khờ. Tôi kể chuyện không giỏi đâu, bác sĩ Oát-xơn, nhưng chuyện của tôi là thế này.

Tôi vốn có một chân làm ở hãng Cốc-xơn và Út-hao, trong khu vườn Đrây-pơ. Nhưng đầu mùa xuân, như hẳn ông còn nhớ, hãng bị sa lầy vào vụ cho nước Vê-nê-du-ê-la vay tiền, và đổ vỡ thảm hại. Tôi đã làm ở đó năm năm, và khi hãng sụp, cụ Cốc-xơn có viết cho tôi một lá thư giới thiệu cực tốt. Nhưng tất nhiên đám thư ký chúng tôi, cả thảy hai mươi bảy người, đều bị đuổi ra đường. Tôi gõ cửa chỗ này, gõ cửa chỗ kia, nhưng có cả đống người cùng cảnh như tôi, và trong một thời gian dài tôi chẳng xin được việc gì. Ở hãng Cốc-xơn tôi được ba bảng một tuần, và tôi dành dụm được chừng bảy mươi bảng. Nhưng chẳng mấy chốc tiêu hết sạch. Cuối cùng tôi cùng đường thật sự, đến tiền mua tem để trả lời các mẩu rao vặt, hay phong bì để dán tem, cũng chẳng còn. Tôi đã đi mòn cả giày vì leo cầu thang các văn phòng, mà việc làm thì vẫn xa vời như cũ.

Cuối cùng tôi thấy một chỗ trống ở hãng Mo-xơn và Uy-li-am, hãng môi giới chứng khoán lớn ở phố Lôm-bát. Có lẽ khu tài chính không phải chỗ ông hay lui tới, nhưng tôi có thể nói với ông rằng đây là một trong những hãng giàu nhất Luân Đôn. Mẩu rao vặt bảo chỉ được ứng tuyển bằng thư. Tôi gửi thư giới thiệu và đơn xin việc, mà chẳng dám hy vọng gì. Thế mà thư trả lời đến ngay chuyến bưu điện sau, bảo rằng nếu thứ Hai tới tôi đến trình diện thì có thể nhận việc ngay, miễn là ngoại hình của tôi được chấp nhận. Chẳng ai biết những chuyện như vậy được quyết thế nào. Có người bảo ông quản lý cứ thọc tay vào đống đơn rồi rút lá đầu tiên. Dù sao thì lần ấy cũng đến lượt tôi gặp may, và chưa bao giờ tôi sướng đến thế. Lương cao hơn một bảng mỗi tuần, mà công việc thì cũng y như ở hãng Cốc-xơn.

Và bây giờ mới đến phần kỳ quặc. Tôi trọ ở mạn Hem-xtét, số 17 dãy nhà Pót-tơ. Chính tối hôm được hứa nhận việc, tôi đang ngồi hút thuốc thì bà chủ nhà mang lên một tấm danh thiếp có in dòng chữ: Ác-thơ Pin-nơ, đại lý tài chính. Tôi chưa nghe cái tên ấy bao giờ và cũng không đoán nổi ông ta cần gì ở tôi. Nhưng dĩ nhiên tôi bảo bà mời ông ta lên. Ông ta bước vào, người tầm thước, tóc đen, mắt đen, râu đen, mũi hơi khoằm. Ông ta có dáng nhanh nhẹn và nói năng gọn lỏn, như một người biết giá trị của thời gian.

— Ông là ông Hôn Pai-crốp, phải không? ông ta hỏi.

— Vâng, thưa ông, tôi đáp, đẩy một chiếc ghế về phía ông ta.

— Mới làm ở hãng Cốc-xơn và Út-hao?

— Vâng.

— Và giờ thuộc biên chế hãng Mo-xơn?

— Đúng vậy.

— Thế này, ông ta nói, chẳng là tôi đã nghe nhiều chuyện thật phi thường về tài năng tài chính của ông. Ông còn nhớ Pác-cơ, người từng làm quản lý ở hãng Cốc-xơn chứ? Ông ấy khen ông không tiếc lời.

Dĩ nhiên tôi rất khoái khi nghe thế. Ở văn phòng tôi vẫn luôn khá lanh lợi, nhưng chưa bao giờ tôi mơ rằng mình lại được người ta bàn tán ở khu tài chính như vậy.

— Trí nhớ ông tốt chứ? ông ta hỏi.

— Cũng khá, tôi khiêm tốn đáp.

— Trong thời gian thất nghiệp, ông có còn theo dõi thị trường không?

— Có. Sáng nào tôi cũng đọc bảng giá của Sở Giao dịch Chứng khoán.

— Đấy mới là chuyên cần thật sự! ông ta reo lên. Muốn phát đạt thì phải thế! Ông không phiền nếu tôi thử ông một chút chứ? Để xem nào. Cổ phiếu Ê-sơ giá bao nhiêu?

— Từ một trăm lẻ sáu và một phần tư, đến một trăm lẻ năm và bảy phần tám.

— Còn Hợp nhất Niu Di-lân?

— Một trăm lẻ bốn.

— Còn mỏ Brô-kơn Hin của Anh?

— Từ bảy đến bảy rưỡi.

— Tuyệt vời! ông ta kêu lên, giơ cả hai tay. Đúng y như những gì tôi đã nghe. Cậu ơi là cậu, cậu giỏi quá, làm thư ký ở hãng Mo-xơn thì phí lắm!

Ông có thể hình dung tôi ngạc nhiên thế nào trước cơn hứng khởi ấy.

— Chà, tôi nói, người khác không đánh giá tôi cao như ông đâu, ông Pin-nơ ạ. Tôi đã vật lộn khá vất vả mới kiếm được chỗ này, và tôi rất mừng vì có nó.

— Xì, anh bạn, cậu phải bay cao hơn thế. Đó không phải chỗ của cậu. Bây giờ tôi nói cậu nghe tình hình bên tôi. Những gì tôi đưa ra thì so với tài năng của cậu cũng chẳng thấm vào đâu, nhưng so với hãng Mo-xơn thì khác nhau một trời một vực. Để xem. Khi nào cậu đến hãng Mo-xơn?

— Thứ Hai.

— Ha ha! Tôi dám đánh cược một chút là cậu sẽ chẳng đến đó đâu.

— Không đến hãng Mo-xơn ư?

— Không. Đến hôm ấy cậu sẽ là giám đốc kinh doanh của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đồ ngũ kim Pháp – Miền Trung, với một trăm ba mươi tư chi nhánh ở các thành phố và làng mạc nước Pháp, chưa kể một chi nhánh ở Bruy-xen và một ở San Rê-mô.

Tôi nghe mà nghẹt thở.

— Tôi chưa từng nghe nói đến công ty ấy, tôi bảo.

— Có lẽ vậy. Nó được giữ rất kín, vì vốn đều do người trong góp riêng, làm ăn tốt quá nên chẳng dại gì để thiên hạ nhảy vào. Em tôi là Ha-ri Pin-nơ đứng ra sáng lập, và sau khi chia cổ phần xong sẽ vào hội đồng quản trị làm giám đốc điều hành. Nó biết tôi rành giới làm ăn ở đây, nên nhờ tôi tìm giúp một người giỏi mà rẻ. Một người trẻ, xông xáo, nhanh nhạy. Pác-cơ có nhắc đến cậu, vì thế tối nay tôi mới tới đây. Chúng tôi chỉ trả được khởi điểm có năm trăm bảng còm thôi.

— Năm trăm bảng một năm! tôi hét lên.

— Mới đầu thì chỉ thế. Nhưng cậu còn được hưởng thêm một phần trăm hoa hồng trên mọi phi vụ mà các đại lý của cậu làm được, và cậu cứ tin tôi đi, khoản ấy sẽ nhiều hơn tiền lương.

— Nhưng tôi chẳng biết gì về đồ ngũ kim cả.

— Chậc, anh bạn, cậu biết về con số là được.

Đầu tôi ong ong, tôi ngồi không yên trên ghế. Nhưng bỗng nhiên một chút ngờ vực lạnh lẽo len vào.

— Tôi phải nói thật với ông, tôi bảo. Hãng Mo-xơn chỉ trả tôi hai trăm, nhưng hãng Mo-xơn chắc chắn. Còn công ty của ông thì tôi biết ít quá, nên...

— A, khôn lắm, khôn lắm! ông ta reo lên như sung sướng tột độ. Cậu đúng là người chúng tôi cần. Không dễ bị dụ, mà thế là phải lắm. Này, đây là tờ ngân phiếu một trăm bảng. Nếu cậu thấy chúng ta có thể làm ăn với nhau thì cứ bỏ túi, coi như tạm ứng lương.

— Ông thật hào phóng, tôi nói. Khi nào tôi bắt đầu nhận việc mới?

— Một giờ trưa mai có mặt ở Bơ-minh-hem, ông ta nói. Trong túi tôi có sẵn một lá thư, cậu mang đến cho em tôi. Cậu sẽ gặp nó ở số 126B phố Coóc-po-rê-sân, văn phòng tạm thời của công ty. Dĩ nhiên nó phải xác nhận việc tuyển cậu, nhưng nói riêng giữa chúng ta, mọi sự sẽ ổn cả.

— Thật tình tôi không biết nói sao cho hết lòng biết ơn, ông Pin-nơ, tôi nói.

— Có gì đâu, anh bạn. Cậu chỉ nhận đúng phần mình đáng được hưởng. Còn một hai việc nhỏ, chỉ là thủ tục thôi, tôi phải thu xếp với cậu. Cạnh cậu có tờ giấy kia. Phiền cậu viết vào đó: Tôi hoàn toàn đồng ý làm giám đốc kinh doanh cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đồ ngũ kim Pháp – Miền Trung, với mức lương tối thiểu năm trăm bảng.

Tôi làm theo, và ông ta bỏ tờ giấy vào túi.

— Còn một chi tiết nữa, ông ta nói. Cậu định làm gì với hãng Mo-xơn?

Mừng quá tôi quên bẵng hãng Mo-xơn.

— Tôi sẽ viết thư xin thôi, tôi nói.

— Đó lại chính là điều tôi không muốn cậu làm. Tôi đã cãi nhau một trận với ông quản lý hãng Mo-xơn vì cậu. Tôi đến hỏi ông ta về cậu, và ông ta hỗn hào hết sức. Ông ta buộc tội tôi dụ dỗ cậu bỏ hãng, đại loại thế. Cuối cùng tôi nổi nóng thật sự. Tôi bảo: Muốn có người giỏi thì phải trả giá cho xứng. Ông ta đáp: Cậu ấy thà nhận đồng lương nhỏ của chúng tôi còn hơn đồng lương to của ông. Tôi bảo: Tôi cược với ông năm bảng, rằng một khi cậu ấy nhận lời của tôi, ông sẽ chẳng bao giờ nghe tin cậu ấy nữa. Ông ta đáp: Được, cược! Chúng tôi đã vớt cậu ta từ rãnh nước lên, cậu ta không bỏ chúng tôi dễ thế đâu. Đúng nguyên văn lời ông ta đấy.

— Đồ khốn láo xược! tôi kêu lên. Tôi còn chưa gặp mặt ông ta lần nào. Cớ gì tôi phải nể nang ông ta? Nếu ông không muốn thì tôi nhất định sẽ không viết thư.

— Tốt! Thế là hứa rồi nhé, ông ta nói, đứng dậy. Chà, tôi mừng vì đã kiếm được một người giỏi như vậy cho em tôi. Đây là một trăm bảng tạm ứng, còn đây là lá thư. Cậu ghi lấy địa chỉ, số 126B phố Coóc-po-rê-sân, và nhớ hẹn một giờ trưa mai. Chúc cậu ngủ ngon, và mong cậu gặp mọi vận may xứng đáng!

Đại khái giữa chúng tôi chỉ có chừng ấy, theo như tôi nhớ được. Ông có thể hình dung tôi vui sướng thế nào trước vận may phi thường ấy, bác sĩ Oát-xơn. Tôi thức gần nửa đêm, cứ tự mình hớn hở mãi. Hôm sau tôi lên đường đi Bơ-minh-hem bằng một chuyến tàu đến nơi còn dư thời gian. Tôi gửi đồ ở một khách sạn trên phố Niu, rồi đi tìm địa chỉ đã được cho.

Tôi đến sớm mười lăm phút, nhưng nghĩ thế cũng chẳng sao. Số 126B là một lối đi nhỏ giữa hai cửa hiệu lớn, dẫn tới một cầu thang đá xoắn ốc, dọc cầu thang có nhiều tầng nhà cho các công ty hay những người hành nghề tự do thuê làm văn phòng. Tên những người thuê được sơn trên tường ở chân cầu thang, nhưng chẳng có cái tên nào là Công ty Đồ ngũ kim Pháp – Miền Trung cả. Tôi đứng đó vài phút, tim rơi xuống tận gót chân, tự hỏi phải chăng cả chuyện này chỉ là một trò lừa công phu. Đúng lúc ấy có một người đàn ông đi tới và bắt chuyện với tôi. Ông ta trông rất giống người tôi gặp tối hôm trước, cùng dáng người, cùng giọng nói, nhưng mặt cạo nhẵn và tóc nhạt màu hơn.

— Ông là ông Hôn Pai-crốp phải không? ông ta hỏi.

— Vâng, tôi đáp.

— Ồ! Tôi đang đợi ông, nhưng ông đến hơi sớm. Sáng nay tôi nhận được thư của anh tôi, anh ấy khen ông hết lời.

— Tôi đang tìm văn phòng thì ông tới.

— Chúng tôi chưa kịp kẻ tên, vì mới thuê được chỗ tạm này từ tuần trước. Ông lên với tôi, ta bàn chuyện.

Tôi theo ông ta lên tận đỉnh một cầu thang cao ngất. Ở đó, ngay dưới mái ngói, có hai căn phòng nhỏ trống trơn, đầy bụi, không thảm, không rèm. Ông ta dẫn tôi vào. Tôi vốn hình dung ra một văn phòng lớn với những chiếc bàn bóng loáng và những dãy thư ký ngồi hàng hàng lớp lớp như tôi vẫn quen. Và có lẽ tôi đã nhìn trân trân vào hai chiếc ghế gỗ thông và một chiếc bàn nhỏ, những thứ cùng với một cuốn sổ cái và một sọt giấy vụn là toàn bộ đồ đạc ở đây.

— Đừng nản lòng, ông Pai-crốp, người quen mới của tôi nói khi thấy mặt tôi dài ra. Thành La Mã đâu phải xây trong một ngày. Sau lưng chúng tôi có rất nhiều tiền, dù chưa phô trương mấy về văn phòng. Mời ông ngồi, và đưa tôi lá thư.

Tôi đưa thư, và ông ta đọc rất kỹ.

— Ông có vẻ đã gây ấn tượng mạnh với anh Ác-thơ của tôi, ông ta nói. Mà tôi biết anh ấy là người nhìn người khá tinh. Anh ấy thì tin vào Luân Đôn, còn tôi thì tin vào Bơ-minh-hem. Nhưng lần này tôi sẽ nghe lời anh ấy. Xin ông coi như đã được chính thức tuyển dụng.

— Nhiệm vụ của tôi là gì? tôi hỏi.

— Rốt cuộc ông sẽ quản lý cái kho lớn ở Pa-ri, nơi sẽ tuôn ra cả một dòng thác đồ sành sứ của nước Anh vào cửa hàng của một trăm ba mươi tư đại lý ở Pháp. Một tuần nữa thì việc mua bán sẽ xong. Trong lúc đó ông cứ ở lại Bơ-minh-hem và làm việc có ích.

— Làm gì ạ?

Thay cho câu trả lời, ông ta lấy trong ngăn kéo ra một cuốn sổ to bìa đỏ.

— Đây là danh bạ thành phố Pa-ri, ông ta nói, sau tên mỗi người có ghi nghề nghiệp. Tôi muốn ông mang nó về, đánh dấu lại tất cả những người bán đồ ngũ kim kèm địa chỉ của họ. Có được danh sách ấy thì tôi được việc vô cùng.

— Chắc là đã có sẵn danh mục phân loại rồi chứ? tôi gợi ý.

— Chẳng đáng tin đâu. Cách xếp của họ khác của ta. Ông cứ chịu khó làm, và nộp danh sách cho tôi vào mười hai giờ trưa thứ Hai. Chào ông Pai-crốp. Nếu ông tiếp tục tỏ ra nhiệt tình và thông minh, ông sẽ thấy công ty là một ông chủ tốt.

Tôi quay về khách sạn, cuốn sổ to kẹp dưới nách, lòng ngổn ngang trăm mối. Một mặt, tôi đã chắc chắn được tuyển và có một trăm bảng trong túi. Mặt khác, cái vẻ của văn phòng, chuyện không có tên trên tường, và những điểm khác mà người làm ăn nào cũng để ý, đã để lại trong tôi một ấn tượng xấu về những ông chủ mới. Nhưng dẫu thế nào thì tiền cũng đã ở trong túi tôi, nên tôi ngồi xuống làm việc. Suốt ngày Chủ nhật tôi cắm cúi làm, vậy mà đến thứ Hai mới chỉ tới vần H. Tôi đến gặp ông chủ, thấy ông ta vẫn ở trong căn phòng trống trơn như cũ, và được bảo cứ tiếp tục đến thứ Tư thì quay lại. Đến thứ Tư vẫn chưa xong, tôi lại cặm cụi tới thứ Sáu, tức là hôm qua. Rồi tôi mang đến nộp cho ông Ha-ri Pin-nơ.

— Cảm ơn ông nhiều lắm, ông ta nói. Tôi e là đã đánh giá thấp độ khó của công việc. Danh sách này sẽ giúp tôi rất nhiều.

— Cũng mất khá nhiều thời gian, tôi nói.

— Và bây giờ, ông ta nói, tôi muốn ông lập một danh sách các cửa hàng đồ gỗ, vì chỗ nào cũng bán đồ sành sứ.

— Vâng.

— Tối mai, bảy giờ, ông lên đây cho tôi biết công việc tới đâu. Đừng làm quá sức. Buổi tối đi xem hát vài giờ ở nhà hát ca vũ nhạc Đây sau những giờ vất vả thì cũng chẳng hại gì.

Ông ta vừa nói vừa cười. Và tôi rùng mình khi thấy chiếc răng thứ hai bên trái của ông ta được trám vàng rất vụng.

Sơ-lốc Hôm xoa tay khoái chí, còn tôi thì kinh ngạc nhìn thân chủ của chúng tôi.

— Ông ngạc nhiên cũng phải, bác sĩ Oát-xơn, nhưng chuyện là thế này, Pai-crốp nói. Hồi nói chuyện với cái gã ở Luân Đôn, lúc gã cười vì tôi sẽ không đến hãng Mo-xơn nữa, tôi tình cờ để ý thấy răng gã cũng được trám y hệt như vậy. Ông hiểu không, cả hai lần tôi đều bị cái ánh vàng ấy đập vào mắt. Khi tôi ghép chuyện đó với giọng nói và dáng người giống nhau, chỉ những gì có thể đổi bằng dao cạo hay bộ tóc giả là khác, thì tôi không còn ngờ gì nữa, đó chính là một người. Dĩ nhiên hai anh em thì giống nhau, nhưng làm gì có chuyện cùng một cái răng lại được trám cùng một kiểu. Ông ta tiễn tôi ra, và tôi thấy mình đứng ngoài phố, đầu óc quay cuồng chẳng biết đâu là đâu. Tôi về khách sạn, nhúng đầu vào chậu nước lạnh, và cố nghĩ cho ra lẽ. Tại sao ông ta lại phái tôi từ Luân Đôn lên Bơ-minh-hem? Tại sao ông ta lại tới đó trước tôi? Và tại sao ông ta lại tự viết thư cho chính mình? Thật quá sức tôi, tôi chẳng hiểu nổi chút nào. Rồi bỗng nhiên tôi chợt nghĩ, cái điều tối tăm với tôi có khi lại sáng rõ với ông Sơ-lốc Hôm. Tôi vừa kịp đáp chuyến tàu đêm về Luân Đôn để sáng nay gặp ông ấy, và đưa cả hai ông theo tôi trở lại Bơ-minh-hem.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơ-lốc Hôm: Anh thư ký nhà môi giới chứng khoán

  1. 1Lời mời quá hời18 phút
  2. 2Căn phòng trên tầng nămĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảArthur Conan Doyle (1859 – 1930)
Năm mất1930
Xuất bản lần đầu1893
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Stockbroker's Clerk, trong tập The Memoirs of Sherlock Holmes, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →