Chương 1: Đề thi bị động tới
Năm chín mươi lăm, vì một loạt sự việc mà tôi không cần kể ra đây, Sơ-lốc Hôm và tôi phải ở vài tuần tại một trong những thành phố đại học lớn của nước ta. Chính trong thời gian ấy đã xảy ra với chúng tôi chuyện phiêu lưu nho nhỏ nhưng bổ ích mà tôi sắp kể. Hẳn ai cũng thấy rằng nêu ra bất cứ chi tiết nào giúp người đọc nhận ra chính xác ngôi trường hay kẻ có lỗi đều là thiếu khôn ngoan và gây tổn thương. Một vụ tai tiếng đau lòng như thế nên được để cho lặng lẽ chìm đi. Tuy vậy, với sự kín đáo cần thiết, bản thân sự việc vẫn có thể được kể lại, vì nó minh hoạ vài phẩm chất nổi bật của bạn tôi. Trong lời kể của mình, tôi sẽ cố tránh những từ ngữ có thể khoanh sự việc vào một nơi cụ thể, hay gợi ý về những người có liên quan.
Lúc ấy chúng tôi trọ trong một căn nhà có sẵn đồ đạc gần một thư viện, nơi Sơ-lốc Hôm đang theo đuổi những nghiên cứu công phu về các văn bản hiến chương cổ của nước Anh, những nghiên cứu đi tới những kết quả nổi bật tới mức có thể sẽ trở thành đề tài cho một câu chuyện sau này của tôi. Chính tại đó, một buổi tối, chúng tôi được một người quen tới thăm, ông Hin-tơn Xôm, giảng viên kiêm trợ giáo của trường Thánh Lu-ca. Ông Xôm là một người cao gầy, tính khí hay lo lắng, dễ kích động. Tôi vẫn biết ông là người có dáng điệu bồn chồn, nhưng lần này ông bối rối không kìm nổi tới mức rõ ràng đã có chuyện gì đó rất bất thường xảy ra.
— Thưa ông Hôm, tôi mong ông có thể dành cho tôi vài giờ trong quỹ thời gian quý báu của ông. Ở trường Thánh Lu-ca vừa xảy ra một chuyện hết sức đau lòng, và thật tình, nếu không có sự tình cờ may mắn là ông đang ở thành phố này, tôi đã chẳng biết làm gì nữa.
— Hiện tôi đang rất bận, và tôi không muốn bị phân tâm, bạn tôi đáp. Tôi muốn ông nhờ tới cảnh sát hơn.
— Không, không, thưa ông, làm thế là hoàn toàn không thể được. Một khi đã kêu tới pháp luật thì không ngăn lại được nữa, mà đây đúng là một trong những trường hợp, vì danh dự của nhà trường, điều tối cần thiết là phải tránh tai tiếng. Sự kín đáo của ông cũng nổi tiếng như tài năng của ông, và ông là người duy nhất trên đời có thể giúp tôi. Tôi van ông, ông Hôm, xin ông làm những gì có thể.
Từ khi phải xa môi trường dễ chịu ở phố Bây-cơ, tính khí bạn tôi chẳng khá lên chút nào. Không có những cuốn sổ cắt dán, những hoá chất, và cái bừa bộn thân thuộc của mình, anh trở thành một người khó chịu. Anh nhún vai bằng lòng một cách miễn cưỡng, trong khi ông khách vừa nói vội vàng vừa vung tay múa chân kích động, tuôn ra câu chuyện của mình.
— Tôi phải giải thích với ông, ông Hôm, rằng ngày mai là ngày thi đầu tiên của kỳ thi học bổng Phót-tơ-xkiu. Tôi là một trong những giám khảo. Môn của tôi là tiếng Hy Lạp, và bài thi đầu tiên là dịch một đoạn văn Hy Lạp dài mà thí sinh chưa từng thấy. Đoạn văn này được in trên đề thi, và lẽ tự nhiên, nếu thí sinh nào chuẩn bị trước được thì sẽ có lợi thế vô cùng lớn. Vì lý do đó, người ta hết sức cẩn thận giữ bí mật đề thi.
Hôm nay, khoảng ba giờ, bản in thử của đề thi được gửi từ nhà in tới. Bài tập gồm nửa chương sách của sử gia Thu-xi-đít. Tôi phải đọc lại thật kỹ, vì văn bản phải hoàn toàn chính xác. Tới bốn giờ rưỡi tôi vẫn chưa làm xong. Nhưng tôi đã hứa tới uống trà ở phòng một người bạn, nên tôi để bản in thử lại trên bàn. Tôi đi vắng hơn một tiếng một chút.
Ông Hôm ạ, ông biết là cửa phòng ở trường chúng tôi có hai lớp, một cánh bọc dạ xanh ở trong, và một cánh gỗ sồi nặng ở ngoài. Khi tới gần cửa ngoài, tôi sửng sốt thấy có chiếc chìa khoá cắm ở đó. Trong một thoáng tôi tưởng mình đã để quên chìa khoá, nhưng sờ vào túi thì thấy chìa của mình vẫn còn. Chiếc chìa duy nhất khác mà tôi biết là của người hầu của tôi, Ba-ni-xtơ, người đã trông nom phòng tôi mười năm nay, và lòng trung thực của anh ta hoàn toàn không thể nghi ngờ. Tôi thấy đúng là chìa của anh ta. Anh ta đã vào phòng tôi để hỏi xem tôi có muốn dùng trà không, rồi rất vô ý để quên chìa khoá trên cửa khi đi ra. Hẳn anh ta vào phòng tôi chỉ vài phút sau khi tôi đi. Vào bất cứ dịp nào khác thì chuyện quên chìa khoá cũng chẳng quan trọng mấy, nhưng đúng hôm nay nó đã gây ra những hậu quả đáng tiếc nhất.
Vừa nhìn vào bàn, tôi đã biết có người lục lọi giấy tờ của tôi. Bản in thử gồm ba tờ giấy dài. Tôi đã để chúng chung một chỗ. Giờ tôi thấy một tờ nằm dưới sàn, một tờ nằm trên chiếc bàn nhỏ gần cửa sổ, còn tờ thứ ba vẫn ở chỗ cũ.
Lần đầu tiên Hôm nhúc nhích.
— Trang đầu dưới sàn, trang thứ hai bên cửa sổ, trang thứ ba ở chỗ ông để, anh nói.
— Đúng thế, ông Hôm. Ông làm tôi kinh ngạc. Làm sao ông biết được?
— Xin ông kể tiếp câu chuyện rất thú vị của ông.
— Trong một thoáng tôi tưởng Ba-ni-xtơ đã tự tiện xem giấy tờ của tôi, một điều không thể tha thứ. Nhưng anh ta chối hết sức tha thiết, và tôi tin anh ta nói thật. Khả năng còn lại là có ai đó đi ngang qua thấy chìa khoá trên cửa, biết tôi đi vắng, nên vào xem giấy tờ. Chuyện này dính tới cả một món tiền lớn, vì học bổng này rất có giá trị, và một kẻ vô lương tâm hoàn toàn có thể liều lĩnh để giành lợi thế hơn bạn bè.
Ba-ni-xtơ rất bối rối vì chuyện này. Anh ta suýt ngất khi chúng tôi phát hiện chắc chắn là giấy tờ đã bị động tới. Tôi cho anh ta uống một chút rượu mạnh, để anh ta nằm vật ra trên ghế, trong khi tôi xem xét căn phòng hết sức kỹ lưỡng. Tôi sớm thấy kẻ đột nhập còn để lại những dấu vết khác ngoài mấy tờ giấy bị xáo trộn. Trên chiếc bàn bên cửa sổ có mấy vụn gỗ từ một cây bút chì vừa được gọt. Một mẩu ruột chì gãy cũng nằm đó. Rõ ràng tên khốn đã chép đề thi hết sức vội vàng, làm gãy bút chì, và buộc phải gọt lại.
— Tuyệt vời! Hôm nói, anh đang vui vẻ trở lại khi sự chú ý của anh mỗi lúc một bị vụ việc cuốn hút. Vận may đã đứng về phía ông.
— Chưa hết đâu. Tôi có một chiếc bàn viết mới, mặt bọc da đỏ rất đẹp. Tôi sẵn sàng thề, và Ba-ni-xtơ cũng vậy, rằng mặt bàn nhẵn nhụi, không một vết bẩn. Giờ tôi thấy trên đó có một vết cắt gọn dài chừng bảy phân rưỡi, không phải một vết xước thường, mà là một vết cắt thật sự. Không chỉ thế, trên bàn tôi còn thấy một cục nhỏ như bột nhào hay đất sét màu đen, lấm tấm những thứ trông như mùn cưa. Tôi tin chắc những dấu vết này do kẻ lục lọi giấy tờ để lại. Không có dấu chân hay chứng cứ nào khác về danh tính của hắn. Tôi đang cùng đường thì bỗng nảy ra ý nghĩ may mắn là ông đang ở thành phố này, và tôi tới thẳng đây để trao vụ việc vào tay ông. Xin ông giúp tôi, ông Hôm. Ông thấy tình thế khó xử của tôi rồi đấy. Hoặc tôi phải tìm ra kẻ đó, hoặc kỳ thi phải hoãn lại cho tới khi soạn xong đề mới, mà việc này không thể làm mà không giải thích, thế là sẽ nổ ra một vụ tai tiếng ghê gớm, phủ bóng đen không chỉ lên trường mà cả lên trường đại học. Hơn hết mọi điều, tôi muốn giải quyết chuyện này một cách êm thấm và kín đáo.
— Tôi sẵn lòng xem xét và cho ông những lời khuyên có thể, Hôm nói, đứng dậy khoác áo choàng. Vụ này không hẳn là không có gì thú vị. Sau khi nhận đề thi, có ai tới phòng ông không?
— Có, cậu Đô-lát Rát, một sinh viên người Ấn Độ ở cùng dãy cầu thang, tới hỏi tôi vài điều về kỳ thi.
— Cậu ta có dự thi không?
— Có.
— Và lúc ấy giấy tờ nằm trên bàn ông?
— Theo tôi nhớ thì chúng được cuộn lại.
— Nhưng có thể nhận ra là bản in thử?
— Có thể.
— Không còn ai khác vào phòng ông?
— Không.
— Có ai biết bản in thử sẽ ở đó không?
— Không ai cả, trừ nhà in.
— Anh Ba-ni-xtơ này có biết không?
— Không, chắc chắn là không. Không ai biết.
— Giờ Ba-ni-xtơ đang ở đâu?
— Anh ta ốm lắm, tội nghiệp. Tôi để anh ta nằm vật trên ghế. Tôi vội tới gặp ông quá.
— Ông để cửa mở?
— Tôi đã khoá giấy tờ lại trước.
— Vậy thì tóm lại thế này, ông Xôm: trừ phi cậu sinh viên người Ấn Độ nhận ra cuộn giấy là bản in thử, còn không thì kẻ động tới chúng đã tình cờ bắt gặp chúng mà không hề biết chúng ở đó.
— Tôi cũng thấy vậy.
Hôm mỉm cười bí hiểm.
— Thôi được, anh nói, ta đi xem nào. Không phải loại ca bệnh của anh đâu, Oát-xơn, đây là chuyện trí óc chứ không phải thể xác. Thôi được, muốn thì cứ đi. Nào, ông Xôm, tôi sẵn sàng phục vụ ông!
Phòng khách của thân chủ chúng tôi có một ô cửa sổ dài, thấp, có song mắt cáo, nhìn ra khoảnh sân cổ kính rêu phong của ngôi trường lâu đời. Một cánh cửa vòm kiểu Gô-tích dẫn tới một cầu thang đá mòn vẹt. Tầng trệt là phòng của thầy trợ giáo. Phía trên là ba sinh viên, mỗi người một tầng. Khi chúng tôi tới hiện trường của bài toán thì trời đã chạng vạng. Hôm dừng lại nhìn chăm chú vào cửa sổ. Rồi anh tiến lại gần, kiễng chân, vươn cổ nhìn vào phòng.
— Hắn phải vào bằng cửa. Ngoài ô kính kia ra thì không có lối nào cả, người dẫn đường uyên bác của chúng tôi nói.
— Ôi trời! Hôm nói, rồi mỉm cười một cách lạ lùng khi liếc nhìn ông. Chà, nếu ở đây chẳng học được gì thì ta nên vào trong.
Ông giảng viên mở khoá cửa ngoài, mời chúng tôi vào phòng. Chúng tôi đứng ở lối vào trong khi Hôm xem xét tấm thảm.
— Tôi e là ở đây chẳng có dấu vết gì, anh nói. Một ngày khô ráo thế này thì khó mà mong có. Người hầu của ông có vẻ đã khoẻ hẳn rồi. Ông bảo ông để anh ta ngồi trên ghế. Ghế nào?
— Cái cạnh cửa sổ kia.
— Tôi hiểu. Gần chiếc bàn nhỏ này. Giờ các ông vào được rồi. Tôi đã xem xong tấm thảm. Ta xem chiếc bàn nhỏ trước. Dĩ nhiên chuyện xảy ra rất rõ. Gã đàn ông bước vào, lấy từng tờ giấy trên bàn giữa. Hắn mang chúng tới chiếc bàn bên cửa sổ, vì từ đó hắn có thể thấy nếu ông băng qua sân, và có thể kịp tẩu thoát.
— Thật ra thì hắn không thể thấy, Xôm nói, vì tôi vào bằng cửa bên.
— A, hay đấy! Chà, dù sao thì trong đầu hắn đã nghĩ vậy. Cho tôi xem ba tờ giấy. Không có dấu vân tay, không! Chà, hắn mang tờ này sang trước, và chép lại. Hắn mất bao lâu để làm việc đó, dù viết tắt hết mức có thể? Mười lăm phút, không thể ít hơn. Rồi hắn ném nó xuống, chộp lấy tờ tiếp theo. Hắn đang chép dở thì việc ông trở về buộc hắn phải rút lui hết sức vội vàng, rất vội vàng, vì hắn không kịp đặt lại những tờ giấy sẽ cho ông biết là hắn đã vào đây. Lúc bước vào cửa ngoài, ông không nghe thấy tiếng chân hối hả trên cầu thang à?
— Không, tôi không nghe thấy gì.
— Chà, hắn viết như điên tới mức làm gãy bút chì, và như ông thấy, phải gọt lại. Chuyện này đáng chú ý đấy, Oát-xơn. Cây bút chì không phải loại thường. Nó to hơn cỡ thường, ruột mềm, vỏ ngoài màu xanh sẫm, tên hãng sản xuất in chữ bạc, và đoạn còn lại chỉ dài chừng bốn phân. Ông Xôm, cứ tìm cây bút chì như thế là ông tìm ra người của ông. Nếu tôi nói thêm rằng hắn có một con dao to và rất cùn, thì ông lại có thêm một trợ thủ.
Ông Xôm có phần choáng ngợp trước dòng thác thông tin ấy.
— Những điểm khác thì tôi theo được, ông nói, nhưng thật tình, chuyện chiều dài thì...
Hôm chìa ra một mẩu vỏ gỗ nhỏ, trên đó có hai chữ N, sau hai chữ ấy là một khoảng gỗ trơn.
— Ông thấy không?
— Không, tôi e là tới giờ vẫn...
— Oát-xơn, tôi đã luôn bất công với anh. Hoá ra còn có người khác nữa. Hai chữ N này có thể là gì? Nó nằm ở cuối một từ. Các ông biết tên hãng bút chì phổ biến nhất là Giô-han Pha-bơ, mà chữ Giô-han thì kết thúc bằng hai chữ N. Chẳng rõ ràng sao, đoạn bút chì còn lại dài đúng bằng phần thường nằm sau chữ Giô-han?
Anh nghiêng chiếc bàn nhỏ về phía ngọn đèn điện.
— Tôi hy vọng nếu tờ giấy hắn viết lên mỏng, thì có thể còn hằn lại chút dấu vết trên mặt bàn đánh bóng này. Không, tôi chẳng thấy gì. Tôi nghĩ ở đây chẳng còn gì để học thêm. Giờ tới chiếc bàn giữa. Tôi đoán viên nhỏ này là cái khối đen như bột nhào ông nói. Đại khái hình chóp, và lõm ở giữa, tôi thấy vậy. Như ông nói, trong đó hình như có những hạt mùn cưa. Ôi trời, cái này thú vị lắm. Còn vết cắt, một vết rách thật sự, tôi thấy thế. Nó bắt đầu bằng một vết xước mảnh và kết thúc bằng một lỗ thủng nham nhở. Tôi rất cảm ơn ông đã lưu ý tôi tới vụ này, ông Xôm. Cửa kia dẫn đi đâu?
— Vào phòng ngủ của tôi.
— Từ lúc xảy ra chuyện ông đã vào đó chưa?
— Chưa, tôi đi thẳng tới chỗ ông.
— Tôi muốn xem qua một chút. Căn phòng kiểu cổ thật duyên dáng! Phiền ông đợi một phút, để tôi xem sàn nhà. Không, tôi chẳng thấy gì. Còn tấm rèm này thì sao? Ông treo quần áo sau đó. Nếu có ai buộc phải trốn trong phòng này thì hẳn phải trốn ở đó, vì giường thấp quá, tủ áo lại nông quá. Chắc là không có ai ở đó chứ?
Khi Hôm kéo tấm rèm, qua dáng điệu hơi cứng lại và tỉnh táo của anh, tôi biết anh đã sẵn sàng đối phó với bất trắc. Thật ra, tấm rèm kéo ra chẳng để lộ gì ngoài ba bốn bộ quần áo treo trên một hàng móc. Hôm quay đi, rồi bỗng cúi xuống sàn.
— Ơ kìa! Cái gì đây? anh nói.
Đó là một khối nhỏ hình chóp màu đen, như ma-tít, giống hệt khối trên bàn trong phòng làm việc. Hôm đặt nó trên lòng bàn tay mở, giơ ra dưới ánh đèn điện chói chang.
— Vị khách của ông có vẻ đã để lại dấu vết trong phòng ngủ cũng như trong phòng khách, ông Xôm ạ.
— Hắn vào đó làm gì?
— Tôi nghĩ khá rõ. Ông về bằng một lối bất ngờ, nên hắn không được báo trước cho tới khi ông đã tới ngay cửa. Hắn có thể làm gì? Hắn vơ lấy mọi thứ có thể làm lộ mình, rồi lao vào phòng ngủ của ông để trốn.
— Trời đất, ông Hôm, ông định nói với tôi rằng suốt lúc tôi nói chuyện với Ba-ni-xtơ trong phòng này, chúng tôi đã nhốt được hắn mà không hề hay biết sao?
— Tôi hiểu là như vậy.
— Chắc chắn còn một khả năng khác, ông Hôm. Không biết ông có để ý cửa sổ phòng ngủ của tôi không?
— Song mắt cáo, khung chì, ba ô riêng biệt, một ô mở được trên bản lề, và đủ rộng cho một người chui qua.
— Đúng vậy. Và nó nhìn ra một góc sân nên bị khuất một phần. Gã kia có thể đã vào lối ấy, để lại dấu vết khi đi qua phòng ngủ, rồi cuối cùng thấy cửa mở nên tẩu thoát theo đường ấy.
Hôm sốt ruột lắc đầu.
— Ta hãy thực tế, anh nói. Theo tôi hiểu thì ông bảo có ba sinh viên dùng cầu thang này, và thường xuyên đi ngang qua cửa phòng ông?
— Vâng, có.
— Và cả ba đều dự kỳ thi này?
— Vâng.
— Ông có lý do gì để nghi ngờ người nào hơn hai người kia không?
Xôm do dự.
— Đó là một câu hỏi rất tế nhị, ông nói. Chẳng ai muốn đổ ngờ vực cho ai khi không có bằng chứng.
— Ta hãy nghe những ngờ vực. Bằng chứng thì để tôi lo.
— Vậy tôi sẽ nói vắn tắt cho ông nghe tính cách ba người sống trong mấy phòng này. Người ở tầng dưới cùng trong ba người là Ghin-crít, một sinh viên giỏi kiêm vận động viên, chơi trong đội bóng bầu dục và đội cri-kê của trường, được nhận danh hiệu vận động viên của trường đại học ở môn chạy vượt rào và nhảy xa. Cậu ấy là một chàng trai đẹp đẽ, đầy khí phách. Cha cậu là ngài Gia-bê Ghin-crít khét tiếng, người đã khánh kiệt vì cá ngựa. Cậu học trò của tôi bị bỏ lại rất nghèo, nhưng cậu ấy chăm chỉ, cần cù. Cậu ấy sẽ thành đạt.
Tầng thứ hai là Đô-lát Rát, chàng trai người Ấn Độ. Cậu ấy trầm lặng, khó đoán. Cậu học khá, dù tiếng Hy Lạp là môn yếu của cậu. Cậu vững vàng và có phương pháp.
Tầng trên cùng thuộc về Mai-lơ Mắc-la-ren. Cậu ấy là một chàng trai xuất sắc khi chịu học, một trong những bộ óc sáng láng nhất trường đại học. Nhưng cậu ta bướng bỉnh, phóng đãng, chẳng có nguyên tắc gì. Năm đầu cậu ta suýt bị đuổi học vì một vụ tai tiếng bài bạc. Suốt học kỳ này cậu ta lêu lổng, và hẳn đang lo sợ khi kỳ thi tới gần.
— Vậy ông nghi cậu ta?
— Tôi không dám đi xa tới thế. Nhưng trong ba người, có lẽ cậu ta là người dễ làm chuyện ấy nhất.
— Đúng vậy. Giờ, ông Xôm, ta xem người hầu của ông, Ba-ni-xtơ.
Anh ta là một người nhỏ thó, mặt trắng bệch, cạo nhẵn, tóc hoa râm, chừng năm mươi tuổi. Anh ta vẫn còn khổ sở vì nếp sống yên tĩnh của mình bỗng bị đảo lộn. Gương mặt đầy đặn của anh ta giật giật vì lo lắng, và những ngón tay không sao để yên được.
— Chúng tôi đang điều tra chuyện không may này, Ba-ni-xtơ, chủ của anh ta nói.
— Vâng, thưa ông.
— Tôi được biết, Hôm nói, là anh để quên chìa khoá trên cửa?
— Vâng, thưa ông.
— Đúng vào hôm có đề thi ở trong mà anh lại làm thế, chẳng phải lạ lắm sao?
— Thật là không may, thưa ông. Nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn làm thế vào những lúc khác.
— Anh vào phòng lúc nào?
— Khoảng bốn giờ rưỡi. Đó là giờ uống trà của ông Xôm.
— Anh ở đó bao lâu?
— Thấy ông ấy đi vắng, tôi lui ra ngay.
— Anh có nhìn những tờ giấy trên bàn không?
— Không, thưa ông, chắc chắn là không.
— Sao anh lại để quên chìa khoá trên cửa?
— Tay tôi bưng khay trà. Tôi định quay lại lấy chìa khoá. Rồi tôi quên mất.
— Cửa ngoài có khoá lò xo không?
— Không, thưa ông.
— Vậy là suốt thời gian ấy nó để mở?
— Vâng, thưa ông.
— Ai ở trong phòng cũng có thể ra được?
— Vâng, thưa ông.
— Khi ông Xôm về và gọi anh, anh rất bối rối?
— Vâng, thưa ông. Suốt bao nhiêu năm tôi ở đây chưa bao giờ xảy ra chuyện như thế. Tôi suýt ngất, thưa ông.
— Tôi cũng được biết vậy. Lúc bắt đầu thấy khó chịu thì anh đang ở đâu?
— Tôi đang ở đâu à, thưa ông? Ơ, ở đây, gần cửa.
— Thế thì lạ đấy, vì anh lại ngồi xuống chiếc ghế đằng kia, gần góc phòng. Sao anh lại đi qua những chiếc ghế khác này?
— Tôi không biết, thưa ông, tôi ngồi đâu cũng được.
— Thật tình tôi nghĩ lúc ấy anh ta chẳng biết gì mấy đâu, ông Hôm, Xôm nói chen vào. Trông anh ta tệ lắm, nhợt nhạt kinh khủng.
— Anh ở lại đây khi chủ anh đi?
— Chỉ chừng một phút. Rồi tôi khoá cửa và về phòng mình.
— Anh nghi ai?
— Ồ, tôi không dám nói đâu, thưa ông. Tôi không tin trong trường đại học này có quý ông nào lại có thể kiếm lợi bằng một việc làm như thế. Không, thưa ông, tôi không tin đâu.
— Cảm ơn anh, thế đủ rồi, Hôm nói. À, thêm một câu nữa. Anh chưa nói với ai trong ba quý ông anh phục vụ là có chuyện gì không ổn chứ?
— Chưa, thưa ông, không một lời nào.
— Anh không gặp ai trong số họ?
— Không, thưa ông.
— Tốt lắm. Giờ, ông Xôm, nếu ông vui lòng, ta đi dạo một vòng quanh sân.
Ba ô vuông ánh sáng vàng hắt ra phía trên đầu chúng tôi trong bóng tối đang dày đặc dần.
— Ba con chim của ông đều đang ở trong tổ, Hôm nói, ngước nhìn lên. Ơ kìa! Gì thế? Có một con có vẻ bồn chồn lắm.
Đó là chàng trai người Ấn Độ, cái bóng sẫm của cậu bỗng hiện lên trên tấm rèm. Cậu đang đi tới đi lui thật nhanh trong phòng.
— Tôi muốn ghé nhìn từng người một chút, Hôm nói. Được không?
— Chẳng khó khăn gì, Xôm đáp. Dãy phòng này cổ nhất trường, khách tới tham quan cũng là chuyện thường. Đi nào, chính tôi sẽ dẫn các ông.
— Xin đừng nêu tên! Hôm nói khi chúng tôi gõ cửa phòng Ghin-crít.
Một chàng trai cao, mảnh dẻ, tóc vàng nhạt ra mở cửa, và khi hiểu chúng tôi tới làm gì thì niềm nở mời vào. Bên trong có vài kiến trúc nội thất thời trung cổ thật sự lạ mắt. Hôm thích thú một chi tiết tới mức nhất định đòi vẽ nó vào sổ tay, rồi làm gãy bút chì, phải mượn chủ nhà một cây, và cuối cùng mượn một con dao để gọt bút của mình. Chuyện rủi lạ lùng ấy lại lặp lại y hệt trong phòng chàng trai người Ấn Độ, một người nhỏ con, ít nói, mũi khoằm, cứ liếc xéo nhìn chúng tôi, và rõ ràng mừng rỡ khi những nghiên cứu kiến trúc của Hôm kết thúc. Tôi không thấy Hôm tìm được manh mối anh đang tìm ở phòng nào cả. Chỉ tới phòng thứ ba thì chuyến viếng thăm của chúng tôi mới thất bại. Cửa ngoài không mở khi chúng tôi gõ, và từ sau cánh cửa chẳng có gì đáng kể hơn một tràng chửi rủa.
— Tôi chẳng cần biết các người là ai. Cút xuống địa ngục đi! cái giọng giận dữ gầm lên. Mai thi rồi, tôi không tiếp ai hết.
— Một gã thô lỗ, người dẫn đường của chúng tôi nói, mặt đỏ bừng vì giận khi chúng tôi lui xuống cầu thang. Dĩ nhiên cậu ta không biết người gõ cửa là tôi, nhưng dù vậy cách cư xử của cậu ta rất bất lịch sự, và thật ra trong hoàn cảnh này thì khá đáng ngờ.
Câu đáp của Hôm thật lạ lùng.
— Ông có thể cho tôi biết chính xác chiều cao của cậu ta không? anh hỏi.
— Thật tình, ông Hôm, tôi không dám nói chắc. Cậu ta cao hơn cậu người Ấn Độ, nhưng không cao bằng Ghin-crít. Tôi đoán khoảng một mét sáu mươi tám.
— Điều đó rất quan trọng, Hôm nói. Còn bây giờ, ông Xôm, chúc ông ngủ ngon.
Người dẫn đường của chúng tôi kêu to lên, kinh ngạc và hoảng hốt.
— Trời đất, ông Hôm, ông không định bỏ tôi đột ngột như thế chứ! Hình như ông không nhận ra tình thế. Mai là thi rồi. Tối nay tôi phải hành động dứt khoát. Tôi không thể để kỳ thi diễn ra nếu một đề thi đã bị động tới. Phải đối mặt với tình hình thôi.
— Ông cứ để mọi thứ y như cũ. Sáng sớm mai tôi sẽ ghé qua bàn chuyện này. Có thể tới lúc đó tôi sẽ chỉ ra được hướng hành động. Trong lúc chờ đợi, ông đừng thay đổi gì, không gì cả.
— Được rồi, ông Hôm.
— Ông có thể hoàn toàn yên tâm. Chắc chắn chúng ta sẽ tìm được cách tháo gỡ khó khăn cho ông. Tôi sẽ mang theo cục đất sét đen, cả mấy vụn bút chì nữa. Chào ông.
Ra tới khoảng sân tối, chúng tôi lại ngước nhìn lên các ô cửa sổ. Chàng trai người Ấn Độ vẫn đi tới đi lui trong phòng. Hai người kia thì không thấy đâu.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám