Chương 1: Tiếng thét trên vách đá
Thật hết sức kỳ lạ là một bài toán chắc chắn khó hiểu và khác thường chẳng kém bất cứ bài toán nào tôi từng đối mặt trong cả cuộc đời hành nghề lâu dài, lại tới với tôi sau khi tôi đã nghỉ hưu, và có thể nói là được mang tới tận cửa nhà tôi. Chuyện xảy ra sau khi tôi lui về ngôi nhà nhỏ ở Xu-xếch, khi tôi đã dâng mình trọn vẹn cho cuộc sống êm đềm giữa thiên nhiên mà tôi từng bao lần khao khát trong những năm dài sống giữa sự u ám của Luân Đôn. Ở giai đoạn này trong đời tôi, anh bạn Oát-xơn tốt bụng đã gần như ra khỏi tầm mắt tôi. Một chuyến ghé thăm cuối tuần thỉnh thoảng là tất cả những gì tôi được gặp anh. Vì thế tôi phải tự làm người ghi chép cho mình. Ôi! Giá mà anh ở bên tôi, anh sẽ làm được biết bao điều từ một sự việc kỳ diệu như thế, và từ thắng lợi cuối cùng của tôi trước mọi khó khăn! Nhưng sự thể đã vậy, tôi đành kể chuyện của mình theo lối mộc mạc của tôi, dùng lời lẽ chỉ ra từng bước trên con đường khó khăn trước mặt khi tôi đi tìm bí ẩn của chiếc bờm sư tử.
Ngôi nhà của tôi nằm trên sườn nam những ngọn đồi, nhìn bao quát cả eo biển. Ở đoạn này, bờ biển toàn là vách đá phấn trắng, chỉ có thể xuống bằng một lối mòn duy nhất, dài, quanh co, dốc và trơn. Dưới chân lối mòn là chừng trăm mét đá cuội và sỏi, ngay cả khi thuỷ triều lên cao nhất. Tuy vậy, đây đó có những chỗ cong lõm, tạo thành những hồ tắm tuyệt đẹp, mỗi lần triều lên lại được thay nước mới. Bãi biển tuyệt vời ấy trải dài vài dặm về mỗi phía, chỉ bị ngắt quãng ở một chỗ, nơi có vịnh nhỏ và làng Phun-uốt.
Nhà tôi hẻo lánh. Tôi, bà quản gia già và đàn ong của tôi có cả khu đất cho riêng mình. Tuy vậy, cách đó non một cây số là trường luyện thi nổi tiếng của Ha-rôn Xtác-hớt, trường Đầu Hồi, một nơi khá rộng, có chừng hai chục chàng trai đang chuẩn bị vào đủ các nghề, cùng một đội ngũ vài thầy giáo. Bản thân Xtác-hớt hồi trẻ từng là tay chèo thuyền nổi tiếng của đội trường đại học, và là một học giả xuất sắc về mọi mặt. Từ ngày tôi về vùng biển này, anh và tôi lúc nào cũng thân thiện, và anh là người duy nhất thân với tôi tới mức buổi tối có thể ghé nhà nhau mà chẳng cần mời.
Cuối tháng bảy năm 1907 có một trận bão dữ dội, gió thổi ngược eo biển, đẩy sóng dồn lên tận chân vách đá, và khi triều rút để lại một vũng nước lớn. Vào buổi sáng tôi đang kể, gió đã dịu, và cả thiên nhiên như vừa được tắm gội, tươi mát. Không thể làm việc trong một ngày tuyệt vời như thế, nên trước bữa sáng tôi đi dạo để tận hưởng không khí trong lành tuyệt diệu. Tôi đi dọc lối mòn trên vách đá dẫn tới đoạn dốc xuống bãi biển. Đang đi thì tôi nghe tiếng gọi sau lưng, và đó là Ha-rôn Xtác-hớt đang vui vẻ vẫy tay chào.
— Buổi sáng đẹp quá, ông Hôm! Tôi đoán thế nào cũng gặp ông ra ngoài.
— Tôi thấy anh đi bơi.
— Ông lại giở mánh cũ rồi, — anh cười, vỗ vào cái túi căng phồng. — Vâng. Mác-phơ-xơn đi từ sớm, tôi đoán sẽ gặp anh ấy ở đó.
Phít-roi Mác-phơ-xơn là thầy dạy khoa học, một chàng trai cao ráo, đẹp đẽ, mà cuộc đời bị què quặt vì bệnh tim sau một cơn sốt thấp khớp. Tuy vậy anh có năng khiếu thể thao bẩm sinh, giỏi mọi môn không đòi hỏi gắng sức quá nhiều. Hè cũng như đông anh đều đi bơi, và vì chính tôi cũng biết bơi, tôi thường bơi cùng anh.
Đúng lúc ấy chúng tôi nhìn thấy chính anh. Đầu anh ló lên khỏi mép vách đá, chỗ lối mòn kết thúc. Rồi cả người anh xuất hiện trên đỉnh, lảo đảo như người say. Ngay sau đó anh giơ hai tay lên trời, kêu lên một tiếng khủng khiếp, rồi ngã sấp mặt xuống. Xtác-hớt và tôi lao tới, có lẽ khoảng năm chục mét, lật anh nằm ngửa. Rõ ràng anh đang hấp hối. Đôi mắt đờ đẫn, trũng sâu và đôi má tím tái khủng khiếp ấy không thể có nghĩa gì khác. Một tia sự sống loé lên trên mặt anh trong khoảnh khắc, và anh thốt ra hai ba từ với vẻ háo hức như muốn cảnh báo. Chúng líu nhíu, không rõ, nhưng với tai tôi, những chữ cuối cùng, bật ra thành một tiếng thét từ môi anh, là "bờm sư tử". Hoàn toàn chẳng ăn nhập và không thể hiểu nổi, nhưng tôi không thể vặn âm thanh ấy ra nghĩa nào khác. Rồi anh nhổm nửa người khỏi mặt đất, vung tay lên trời, rồi ngã nghiêng xuống. Anh đã chết.
Người bạn đi cùng tôi tê liệt vì nỗi kinh hoàng đột ngột, còn tôi, như có thể hình dung, mọi giác quan đều cảnh giác. Và tôi cần thế, vì chẳng mấy chốc đã rõ ràng chúng tôi đang đứng trước một vụ án khác thường. Người chết chỉ mặc áo khoác vải Bơ-bơ-ri, quần dài, và một đôi giày vải không buộc dây. Khi anh ngã nghiêng, chiếc áo khoác vốn chỉ khoác hờ trên vai tuột ra, để lộ thân mình. Chúng tôi sửng sốt nhìn. Lưng anh chằng chịt những vệt đỏ sẫm như thể bị quất khủng khiếp bằng một cây roi dây thép mảnh. Thứ dụng cụ gây ra những vết thương ấy rõ ràng mềm dẻo, vì những vệt lằn dài, tấy đỏ uốn cong quanh vai và xương sườn. Máu chảy nhỏ giọt xuống cằm, vì anh đã cắn thủng môi dưới trong cơn đau tột cùng. Gương mặt co rúm, méo mó cho thấy cơn đau ấy khủng khiếp tới mức nào.
Tôi đang quỳ, còn Xtác-hớt đứng bên thi thể, thì một cái bóng đổ xuống chúng tôi, và chúng tôi thấy I-an Mơ-đốc đang ở bên cạnh. Mơ-đốc là thầy dạy toán của trường, một người cao, ngăm đen, gầy gò, ít nói và xa cách tới mức không thể nói là có ai làm bạn với anh. Anh dường như sống trong một cõi trừu tượng cao xa của căn thức và đường cô-níc, chẳng mấy dính dáng tới đời thường. Học trò coi anh là người kỳ quặc, lẽ ra anh đã thành trò đùa của chúng, nhưng trong người anh có dòng máu ngoại lai kỳ lạ nào đó, lộ ra không chỉ ở đôi mắt đen như than và nước da ngăm, mà cả ở những cơn nóng giận thỉnh thoảng bùng lên, chỉ có thể gọi là hung dữ. Có lần, bị con chó nhỏ của Mác-phơ-xơn quấy rầy, anh đã chộp lấy nó ném qua ô kính cửa sổ, một hành động mà chắc chắn Xtác-hớt đã đuổi việc anh nếu anh không phải một thầy giáo rất có giá trị. Đó là con người kỳ lạ, phức tạp giờ đang xuất hiện bên cạnh chúng tôi. Anh có vẻ thật lòng bàng hoàng trước cảnh tượng trước mắt, dù chuyện con chó có thể cho thấy giữa người chết và anh không có mấy thiện cảm.
— Tội nghiệp! Tội nghiệp anh ấy! Tôi có thể làm gì? Tôi giúp được gì?
— Anh có ở cùng anh ấy không? Anh có thể kể cho chúng tôi chuyện gì đã xảy ra không?
— Không, không, sáng nay tôi đi muộn. Tôi hoàn toàn không xuống bãi biển. Tôi vừa từ trường Đầu Hồi tới thẳng đây. Tôi có thể làm gì?
— Anh có thể chạy nhanh tới đồn cảnh sát ở Phun-uốt. Báo ngay chuyện này.
Không nói một lời, anh chạy đi hết tốc lực, còn tôi bắt tay xử lý sự việc, trong khi Xtác-hớt, choáng váng vì tấn thảm kịch, ở lại bên thi thể. Việc đầu tiên dĩ nhiên là xem ai đang ở trên bãi biển. Từ đầu lối mòn tôi nhìn bao quát được cả dải bờ, và nó hoàn toàn vắng tanh, chỉ có hai ba bóng người sẫm màu tít đằng xa đang đi về phía làng Phun-uốt. Yên tâm về điểm này rồi, tôi chậm rãi đi xuống lối mòn. Trong đá phấn có lẫn đất sét hay đất vôi mềm, và đây đó tôi thấy cùng một dấu chân, cả đi xuống lẫn đi lên. Sáng hôm ấy không ai khác xuống bãi biển theo lối này. Ở một chỗ tôi thấy dấu một bàn tay xoè, ngón tay hướng lên dốc. Điều đó chỉ có thể nghĩa là Mác-phơ-xơn tội nghiệp đã ngã khi leo lên. Cũng có những vết lõm tròn, gợi ý rằng anh đã khuỵu gối hơn một lần. Dưới chân lối mòn là vũng nước khá lớn do thuỷ triều rút để lại. Mác-phơ-xơn đã cởi đồ bên vũng nước, vì khăn tắm của anh nằm trên một tảng đá. Nó được gấp gọn và khô ráo, nên có vẻ rốt cuộc anh chưa hề xuống nước. Một hai lần, khi lục tìm quanh đám sỏi cứng, tôi gặp những mảng cát nhỏ có dấu giày vải của anh, và cả dấu bàn chân trần. Điều sau chứng tỏ anh đã sẵn sàng xuống tắm, dù chiếc khăn cho thấy anh chưa thật sự tắm.
Và đây là bài toán đã được xác định rõ ràng, một bài toán kỳ lạ như chưa từng có. Người ấy ở trên bãi biển nhiều nhất là mười lăm phút. Xtác-hớt đã theo sau anh từ trường Đầu Hồi, nên không thể nghi ngờ điều đó. Anh đi tắm và đã cởi đồ, như dấu chân trần cho thấy. Rồi anh bỗng vội vã mặc lại quần áo, chúng xộc xệch, không cài cúc, và trở lên mà không tắm, hay ít ra không lau khô người. Và lý do khiến anh đổi ý là anh đã bị quất bằng một cách dã man, tàn bạo nào đó, bị hành hạ tới mức cắn thủng môi vì đau, và chỉ còn đủ sức bò đi rồi chết. Ai đã gây ra việc dã man ấy? Đúng là dưới chân vách đá có những hang hốc nhỏ, nhưng mặt trời thấp rọi thẳng vào chúng, chẳng có chỗ nào để ẩn nấp. Rồi lại còn những bóng người xa xa trên bãi biển. Họ có vẻ ở quá xa để dính líu tới tội ác, và vũng nước rộng nơi Mác-phơ-xơn định tắm nằm giữa anh và họ, sóng vỗ tận chân đá. Trên biển, hai ba chiếc thuyền đánh cá ở không xa lắm. Có thể thong thả tra hỏi những người trên thuyền sau. Có vài hướng để điều tra, nhưng không hướng nào dẫn tới một cái đích rõ ràng.
Cuối cùng khi tôi trở lại bên thi thể, tôi thấy một nhóm nhỏ người qua đường đã tụ tập quanh đó. Dĩ nhiên Xtác-hớt vẫn ở đó, còn I-an Mơ-đốc vừa trở lại cùng An-đơ-xơn, viên cảnh sát làng, một người to lớn, ria màu gừng, thuộc giống người Xu-xếch chậm chạp, chắc nịch, giống người giấu nhiều điều khôn ngoan dưới vẻ ngoài nặng nề, im lặng. Ông lắng nghe mọi điều, ghi lại mọi lời chúng tôi nói, rồi cuối cùng kéo tôi sang một bên.
— Tôi rất mừng nếu được ông chỉ bảo, ông Hôm. Vụ này lớn quá với tôi, mà làm sai thì tôi sẽ bị cấp trên ở Liu-ít khiển trách.
Tôi khuyên ông cho người báo cấp trên trực tiếp và mời bác sĩ, đồng thời không để ai di chuyển thứ gì, và càng ít dấu chân mới càng tốt, cho tới khi họ tới. Trong lúc ấy tôi lục túi người chết. Có khăn tay, một con dao lớn và một hộp đựng danh thiếp nhỏ gập lại. Từ hộp thò ra một mẩu giấy, tôi mở ra đưa cho viên cảnh sát. Trên đó viết bằng nét chữ nguệch ngoạc của phụ nữ: "Em sẽ tới, anh cứ yên tâm. Mốt." Đọc thì giống một chuyện tình, một cuộc hẹn hò, dù ở đâu và khi nào thì bỏ trống. Viên cảnh sát bỏ nó lại vào hộp danh thiếp, rồi cất cùng những thứ khác vào túi áo khoác. Rồi vì chẳng nghĩ ra gì thêm, tôi đi bộ về nhà ăn sáng, sau khi đã thu xếp cho người ta lục soát kỹ chân vách đá.
Một hai tiếng sau Xtác-hớt ghé qua báo tôi biết thi thể đã được đưa về trường Đầu Hồi, nơi sẽ mở phiên điều tra tử thi. Anh mang tới vài tin nghiêm trọng và cụ thể. Như tôi đã đoán, chẳng tìm thấy gì trong mấy cái hang nhỏ dưới vách đá, nhưng anh đã xem giấy tờ trong bàn của Mác-phơ-xơn, và có mấy lá thư cho thấy Mác-phơ-xơn thư từ thân mật với một cô Mốt Be-la-mi ở Phun-uốt. Vậy là chúng tôi đã xác định được người viết mẩu thư.
— Cảnh sát giữ những lá thư rồi, — anh giải thích. — Tôi không mang tới được. Nhưng chắc chắn đó là một mối tình nghiêm túc. Tuy vậy tôi không thấy có lý do gì gắn nó với chuyện khủng khiếp kia, ngoài việc cô gái đã hẹn gặp anh ấy.
— Nhưng khó mà hẹn ở một hồ tắm mà tất cả các anh vẫn thường dùng, — tôi nhận xét.
— Chỉ là tình cờ, — anh nói, — mà mấy cậu học trò không đi cùng Mác-phơ-xơn.
— Có thật là tình cờ không?
Xtác-hớt nhíu mày suy nghĩ.
— I-an Mơ-đốc đã giữ chúng lại, — anh nói. — Anh ta khăng khăng bắt chúng làm một bài chứng minh đại số trước bữa sáng. Tội nghiệp, anh ta đau lòng lắm vì chuyện này.
— Ấy vậy mà tôi được biết họ không phải bạn bè.
— Có thời là không. Nhưng một năm nay, Mơ-đốc đã gần gũi với Mác-phơ-xơn nhất mà anh ta có thể gần gũi với ai đó. Bản tính anh ta vốn chẳng mấy dễ cảm thông.
— Tôi cũng hiểu vậy. Hình như có lần anh kể với tôi về một trận cãi nhau vì chuyện ngược đãi con chó.
— Chuyện ấy đã qua êm rồi.
— Nhưng có lẽ để lại chút hận thù.
— Không, không, tôi chắc họ là bạn thật sự.
— Vậy thì ta phải tìm hiểu chuyện cô gái. Anh có biết cô ấy không?
— Ai cũng biết cô ấy. Cô ấy là người đẹp của cả vùng, một người đẹp thật sự, ông Hôm ạ, đi đâu cũng làm người ta chú ý. Tôi biết Mác-phơ-xơn bị cô ấy hấp dẫn, nhưng không ngờ chuyện đã đi xa như những lá thư kia cho thấy.
— Nhưng cô ấy là ai?
— Cô ấy là con gái lão Tôm Be-la-mi, người sở hữu toàn bộ thuyền và lều tắm ở Phun-uốt. Lúc đầu lão là dân chài, nhưng giờ đã khá giả. Lão và cậu con trai Uy-li-am cùng làm ăn.
— Ta đi bộ tới Phun-uốt gặp họ nhé?
— Lấy cớ gì?
— Ồ, kiếm cớ dễ thôi. Dù sao thì người đàn ông tội nghiệp ấy cũng không tự hành hạ mình một cách quá quắt như thế. Có một bàn tay người nào đó đã cầm cán roi, nếu quả thật đó là roi gây ra những vết thương. Ở chốn hẻo lánh này, chắc chắn những người anh ấy quen biết có hạn. Ta hãy lần theo mọi hướng, khó mà không gặp được động cơ, rồi động cơ sẽ dẫn ta tới kẻ phạm tội.
Lẽ ra đó là một cuộc dạo bộ dễ chịu băng qua những ngọn đồi thơm mùi cỏ xạ hương, nếu tâm trí chúng tôi không bị tấn thảm kịch vừa chứng kiến đầu độc. Làng Phun-uốt nằm trong một lòng chảo cong hình bán nguyệt quanh vịnh. Phía sau xóm cổ kính, vài ngôi nhà hiện đại đã được xây trên đất cao. Xtác-hớt dẫn tôi tới một trong những ngôi nhà ấy.
— Đó là nhà Bến Đỗ, Be-la-mi gọi nó như vậy. Cái nhà có tháp ở góc và mái đá phiến. Không tồi với một người khởi nghiệp chỉ với hai bàn tay trắng... Trời đất, nhìn kìa!
Cổng vườn nhà Bến Đỗ đã mở, và một người đàn ông bước ra. Không thể nhầm cái dáng cao, xương xẩu, lỏng khỏng ấy. Đó là I-an Mơ-đốc, nhà toán học. Lát sau chúng tôi đã chạm mặt anh trên đường.
— Này! — Xtác-hớt nói.
Người kia gật đầu, liếc xéo chúng tôi bằng đôi mắt đen kỳ lạ, định đi qua, nhưng hiệu trưởng giữ anh lại.
— Anh làm gì ở đó? — anh hỏi.
Mặt Mơ-đốc đỏ bừng vì giận.
— Tôi là cấp dưới của ông, thưa ông, dưới mái trường của ông. Tôi không nghĩ mình phải báo cáo với ông về những việc riêng tư.
Thần kinh của Xtác-hớt đã căng như dây đàn sau tất cả những gì anh phải chịu đựng. Nếu không thì có lẽ anh đã chờ. Giờ anh hoàn toàn mất bình tĩnh.
— Trong hoàn cảnh này câu trả lời của anh thật là xấc xược, anh Mơ-đốc.
— Có lẽ chính câu hỏi của ông cũng thuộc loại ấy.
— Đây không phải lần đầu tôi phải bỏ qua thói bất tuân của anh. Chắc chắn đây sẽ là lần cuối. Xin anh vui lòng thu xếp tương lai của mình càng sớm càng tốt.
— Tôi cũng đã định thế. Hôm nay tôi đã mất người duy nhất khiến trường Đầu Hồi còn sống được.
Anh sải bước đi tiếp, còn Xtác-hớt đứng trừng mắt giận dữ nhìn theo.
— Không phải là một con người không thể chịu nổi sao? — anh kêu lên.
Điều duy nhất in đậm trong đầu tôi là ông I-an Mơ-đốc đang chộp lấy cơ hội đầu tiên để mở một lối thoát khỏi hiện trường tội ác. Một mối nghi mơ hồ, mông lung giờ bắt đầu thành hình trong đầu tôi. Có lẽ chuyến thăm nhà Be-la-mi sẽ rọi thêm ánh sáng vào chuyện này. Xtác-hớt trấn tĩnh lại, và chúng tôi đi tới ngôi nhà.
Ông Be-la-mi hoá ra là một người đứng tuổi, râu đỏ rực. Có vẻ ông đang rất giận, và chẳng mấy chốc mặt ông đỏ ửng như tóc.
— Không, thưa ông, tôi chẳng muốn biết chi tiết gì. Con trai tôi đây, — ông chỉ một chàng trai lực lưỡng, mặt nặng nề, lầm lì, ngồi ở góc phòng khách, — cũng đồng lòng với tôi rằng sự săn đón của ông Mác-phơ-xơn với con Mốt là một sự xúc phạm. Phải, thưa ông, chưa bao giờ có ai nhắc tới chữ "cưới xin", ấy vậy mà lại có thư từ, có hẹn hò, và còn nhiều chuyện khác mà cả hai chúng tôi đều không tán thành. Nó không có mẹ, và chúng tôi là người giám hộ duy nhất của nó. Chúng tôi đã quyết...
Nhưng lời ông bị cắt ngang bởi sự xuất hiện của chính cô gái. Không thể chối cãi rằng cô sẽ làm rạng rỡ bất kỳ buổi họp mặt nào trên đời. Ai có thể tưởng tượng một đoá hoa hiếm có như thế lại mọc lên từ một gốc rễ như thế, trong một bầu không khí như thế? Phụ nữ hiếm khi hấp dẫn tôi, vì khối óc tôi bao giờ cũng cai quản trái tim, nhưng nhìn gương mặt hoàn hảo, đường nét sắc sảo của cô, với tất cả vẻ tươi mát dịu dàng của miền đồi trong làn da mịn màng, tôi không thể không nhận ra rằng chàng trai nào đi ngang đường cô cũng khó mà bình yên vô sự. Đó là cô gái đã đẩy cửa bước vào và giờ đứng đó, mắt mở to, căng thẳng, trước mặt Ha-rôn Xtác-hớt.
— Tôi đã biết Phít-roi chết rồi, — cô nói. — Đừng ngại kể chi tiết cho tôi.
— Cái ông kia của các ông báo tin cho chúng tôi, — người cha giải thích.
— Chẳng có lý do gì lôi em gái tôi vào chuyện này, — chàng trai trẻ hơn gầm gừ.
Cô em gái quay sang anh, ném một cái nhìn sắc, dữ dội.
— Đây là việc của em, anh Uy-li-am. Xin để em tự lo theo cách của em. Theo mọi lời kể thì đã có một tội ác. Nếu em giúp được chỉ ra kẻ đã gây ra nó, thì đó là điều tối thiểu em có thể làm cho người đã khuất.
Cô lắng nghe người bạn đồng hành của tôi kể vắn tắt với một sự tập trung điềm tĩnh, cho tôi thấy cô vừa có tính cách mạnh mẽ vừa có sắc đẹp tuyệt vời. Mốt Be-la-mi sẽ mãi ở lại trong ký ức tôi như một người phụ nữ hoàn thiện và đáng chú ý nhất. Có vẻ cô đã biết mặt tôi, vì cuối cùng cô quay sang tôi.
— Hãy đưa chúng ra trước công lý, ông Hôm. Dù chúng là ai, ông có sự cảm thông và giúp đỡ của tôi.
Tôi có cảm giác cô thách thức liếc nhìn cha và anh trai khi nói.
— Cảm ơn cô, — tôi nói. — Tôi coi trọng trực giác của phụ nữ trong những chuyện như thế. Cô dùng chữ "chúng". Cô nghĩ có hơn một người dính líu?
— Tôi biết ông Mác-phơ-xơn đủ rõ để hiểu anh ấy là người dũng cảm và khoẻ mạnh. Không một người đơn độc nào có thể gây ra sự tàn bạo ấy cho anh ấy.
— Tôi có thể nói riêng với cô một lời không?
— Bố bảo con, Mốt, đừng dây vào chuyện này, — cha cô giận dữ kêu lên.
Cô bất lực nhìn tôi.
— Tôi biết làm sao?
— Chẳng mấy chốc cả thế giới sẽ biết sự việc, nên bàn ở đây cũng chẳng hại gì, — tôi nói. — Tôi muốn nói riêng hơn, nhưng nếu cha cô không cho phép thì ông ấy sẽ cùng tham gia bàn bạc.
Rồi tôi nói về mẩu thư tìm thấy trong túi người chết.
— Chắc chắn nó sẽ được đưa ra ở phiên điều tra tử thi. Tôi có thể xin cô rọi ánh sáng vào nó trong chừng mực cô có thể không?
— Tôi chẳng thấy có gì phải bí mật, — cô đáp. — Chúng tôi đã đính hôn, và chỉ giữ kín vì người bác của Phít-roi, đã rất già và nghe nói sắp mất, có thể tước quyền thừa kế của anh ấy nếu anh ấy cưới vợ trái ý ông. Không có lý do nào khác.
— Lẽ ra mày phải nói với chúng tao, — ông Be-la-mi gầm gừ.
— Con đã nói rồi, thưa bố, nếu bố từng tỏ ra thông cảm.
— Bố phản đối con gái bố cặp với những kẻ ngoài tầng lớp của nó.
— Chính vì bố có định kiến với anh ấy nên chúng con mới không nói với bố. Còn cuộc hẹn này...
Cô lần trong áo lấy ra một mẩu thư nhàu nát.
— ...là để trả lời cái này.
Mẩu thư viết: "Em yêu nhất, chỗ cũ trên bãi biển, ngay sau khi mặt trời lặn hôm thứ ba. Đó là lúc duy nhất anh đi được. P.M."
— Thứ ba là hôm nay, và tối nay tôi định gặp anh ấy.
Tôi lật mẩu giấy.
— Cái này không bao giờ được gửi qua bưu điện. Cô nhận nó bằng cách nào?
— Tôi không muốn trả lời câu ấy. Nó thật sự chẳng dính dáng gì tới chuyện ông đang điều tra. Nhưng bất cứ điều gì liên quan tới chuyện ấy, tôi sẽ sẵn lòng trả lời.
Cô giữ đúng lời, nhưng chẳng có gì giúp ích cho cuộc điều tra. Cô không có lý do gì để nghĩ vị hôn phu của mình có kẻ thù giấu mặt, nhưng cô thừa nhận đã có vài người theo đuổi cô nồng nhiệt.
— Tôi có thể hỏi ông I-an Mơ-đốc có phải là một trong số đó không?
Cô đỏ mặt, có vẻ bối rối.
— Đã có lúc tôi nghĩ là có. Nhưng mọi chuyện thay đổi khi anh ấy hiểu ra quan hệ giữa Phít-roi và tôi.
Một lần nữa, cái bóng quanh con người kỳ lạ ấy dường như rõ nét hơn trong mắt tôi. Phải xem xét lý lịch của anh ta. Phải bí mật lục soát phòng anh ta. Xtác-hớt sẵn lòng cộng tác, vì trong đầu anh cũng đang hình thành những mối nghi. Chúng tôi rời nhà Bến Đỗ, hy vọng đã nắm được một đầu mối lỏng của cuộn chỉ rối.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám