Truyện Đỉnh

🔍 Truyện trinh thám

Bức điện chỉ còn nửa câu

Sơ-lốc Hôm: Cầu thủ mất tích · Chương 1/3 · của Arthur Conan Doyle

⏱ 24 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 20.431 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07Ở phố Bây-cơ, chúng tôi khá quen với những…
  2. 5:26Anh sống trong một thế giới khác tôi, ông…
  3. 9:13Vâng, anh ấy là người thừa kế, mà ông…
  4. 12:12Có, thưa ông, một bức điện.
  5. 13:05Hôm đứng dậy. Anh cầm xấp mẫu điện tín…
  6. 16:23Ngẩng lên, chúng tôi thấy một ông già nhỏ…
  7. 19:18Gương mặt của vị khách nhỏ bé khó chịu…
  8. 21:46Thế nào? — tôi hỏi.

Chương 1: Bức điện chỉ còn nửa câu

Ở phố Bây-cơ, chúng tôi khá quen với những bức điện kỳ quặc, nhưng tôi còn nhớ đặc biệt một bức tới vào một buổi sáng tháng hai ảm đạm, cách đây chừng bảy tám năm, khiến ông Sơ-lốc Hôm phải bối rối suốt mười lăm phút. Bức điện gửi cho anh, viết thế này:

"Xin chờ tôi. Tai hoạ khủng khiếp. Cầu thủ cánh phải tuyến ba phần tư mất tích, mai không thể thiếu. Ô-vơ-tơn."

— Dấu bưu điện phố Xtơ-ren, gửi lúc mười giờ ba mươi sáu, — Hôm nói, đọc đi đọc lại. — Rõ ràng ông Ô-vơ-tơn đã rất xúc động khi gửi nó, nên có phần lủng củng. Thôi được, tôi dám chắc khi tôi đọc xong tờ Thời báo thì ông ta cũng tới, và lúc ấy ta sẽ biết hết. Trong những ngày ứ đọng thế này, bài toán nhỏ nhặt nhất cũng đáng hoan nghênh.

Quả thật dạo ấy công việc của chúng tôi rất ế ẩm, và tôi đã học được cách sợ những quãng ngồi không như thế, vì kinh nghiệm cho tôi biết đầu óc bạn tôi hoạt động mạnh khác thường, bỏ nó không có gì để nghiền ngẫm là nguy hiểm. Suốt nhiều năm, tôi đã dần dần cai cho anh khỏi cơn nghiện thuốc từng có lúc đe doạ chặn đứng sự nghiệp phi thường của anh. Giờ tôi biết trong điều kiện bình thường anh không còn thèm thứ kích thích giả tạo ấy nữa, nhưng tôi cũng biết rõ con quỷ ấy chưa chết mà chỉ đang ngủ. Tôi biết giấc ngủ ấy chập chờn và ngày thức giấc đã gần, mỗi khi trong những lúc nhàn rỗi tôi thấy vẻ hốc hác trên gương mặt khổ hạnh của Hôm, và cái nhìn u uẩn trong đôi mắt sâu, khó dò của anh. Vì thế tôi chúc phúc cho ông Ô-vơ-tơn này, dù ông là ai, vì ông đã mang thông điệp bí ẩn tới phá tan sự yên tĩnh nguy hiểm ấy, thứ còn đe doạ bạn tôi hơn mọi cơn bão trong cuộc đời sóng gió của anh.

Đúng như chúng tôi đoán, ngay sau bức điện là người gửi. Tấm danh thiếp của ông Xi-rin Ô-vơ-tơn, trường Ba Ngôi, Đại học Cam-brít, báo trước sự xuất hiện của một chàng trai khổng lồ, hơn trăm cân xương thịt rắn chắc, đôi vai rộng choán kín khung cửa. Anh nhìn từ người này sang người kia bằng gương mặt ưa nhìn nhưng hốc hác vì lo âu.

— Ông Sơ-lốc Hôm?

Bạn tôi cúi chào.

— Tôi vừa tới Xcốt-len Y-át, thưa ông Hôm. Tôi gặp thanh tra Xtan-li Hốp-kin. Ông ấy khuyên tôi tới gặp ông. Ông ấy bảo theo những gì ông ấy thấy, vụ này hợp với ông hơn là với cảnh sát thông thường.

— Mời anh ngồi, kể cho tôi nghe chuyện gì xảy ra.

— Khủng khiếp lắm, thưa ông Hôm, khủng khiếp thật sự! Tôi lấy làm lạ là tóc tôi chưa bạc. Gốt-phri Xtôn-tơn, dĩ nhiên ông đã nghe tên anh ấy chứ? Anh ấy là cái bản lề cho cả đội xoay quanh. Tôi thà mất hai người ở hàng tiền đạo mà giữ được Gốt-phri ở tuyến ba phần tư. Chuyền bóng, cản người hay dắt bóng, không ai sánh được anh ấy. Lại còn có đầu óc, giữ được cả đội gắn với nhau. Tôi biết làm gì đây? Đó là điều tôi muốn hỏi ông, thưa ông Hôm. Có Mua-hao, dự bị số một, nhưng cậu ta được huấn luyện để chơi ở vị trí nửa sân, lúc nào cũng cứ lấn vào giữa đám tranh bóng thay vì bám ngoài đường biên. Đá phạt đặt bóng thì cậu ta giỏi thật, nhưng phán đoán chẳng ra gì, mà chạy nước rút thì chậm như rùa. Ấy, Mo-tơn hay Giôn-xơn, mấy tay chạy như bay của Óc-xphớt, có thể chạy vòng quanh cậu ta. Xti-vơn-xơn thì đủ nhanh, nhưng không đá bóng bật nảy được từ vạch hai mươi lăm thước, mà một cầu thủ tuyến ba phần tư không biết đá bóng thả cũng chẳng biết đá bóng nảy thì chỉ nhanh chân thôi chưa đáng có một chỗ. Không, thưa ông Hôm, chúng tôi tiêu rồi, trừ phi ông giúp tôi tìm ra Gốt-phri Xtôn-tơn.

Bạn tôi lắng nghe tràng diễn văn dài ấy với vẻ ngạc nhiên thích thú. Nó tuôn ra với một sức mạnh và sự tha thiết lạ thường, mỗi ý lại được nhấn mạnh bằng một cái đập bàn tay vạm vỡ lên đầu gối người nói. Khi vị khách im lặng, Hôm vươn tay lấy tập vần X trong cuốn sổ ghi chép tổng hợp của anh. Lần này thì anh đào bới vô ích trong cái mỏ thông tin muôn màu ấy.

— Có A-thơ H. Xtôn-tơn, một tay làm giả giấy tờ trẻ đang lên, — anh nói, — và có Hen-ri Xtôn-tơn, kẻ mà tôi đã góp tay đưa lên giá treo cổ, nhưng Gốt-phri Xtôn-tơn thì là một cái tên mới với tôi.

Tới lượt vị khách tỏ ra ngạc nhiên.

— Ơ kìa, ông Hôm, tôi tưởng ông biết mọi thứ chứ, — anh nói. — Vậy nếu ông chưa bao giờ nghe về Gốt-phri Xtôn-tơn, chắc ông cũng không biết Xi-rin Ô-vơ-tơn?

Hôm vui vẻ lắc đầu.

— Trời đất! — chàng lực sĩ kêu lên. — Ấy thế mà tôi là dự bị số một của đội tuyển Anh trong trận gặp xứ Oên, và cả năm nay tôi làm đội trưởng đội bóng của trường đại học. Nhưng thế chẳng là gì! Tôi không nghĩ ở nước Anh lại có ai không biết Gốt-phri Xtôn-tơn, cầu thủ tuyến ba phần tư cừ khôi, của Cam-brít, của Blác-hít, đã năm lần khoác áo đội tuyển quốc gia. Lạy Chúa! Ông Hôm, ông sống ở đâu vậy?

Hôm bật cười trước vẻ ngạc nhiên ngây thơ của chàng khổng lồ trẻ tuổi.

— Anh sống trong một thế giới khác tôi, ông Ô-vơ-tơn ạ, một thế giới dễ chịu hơn và lành mạnh hơn. Những nhánh rễ của tôi vươn tới nhiều tầng lớp trong xã hội, nhưng tôi vui mà nói rằng chưa bao giờ vươn tới thể thao nghiệp dư, thứ tốt đẹp và lành mạnh nhất nước Anh. Tuy vậy, cuộc ghé thăm bất ngờ của anh sáng nay cho tôi thấy rằng ngay cả trong thế giới khí trời trong lành và chơi đẹp ấy cũng có thể có việc cho tôi làm. Vậy giờ, anh bạn tốt của tôi, xin mời anh ngồi xuống, kể thật chậm rãi, bình tĩnh, chính xác chuyện gì đã xảy ra, và anh muốn tôi giúp anh thế nào.

Gương mặt chàng Ô-vơ-tơn trẻ tuổi hiện vẻ bối rối của người quen dùng cơ bắp hơn trí óc, nhưng dần dần, với nhiều chỗ lặp đi lặp lại và tối nghĩa mà tôi xin lược bớt, anh bày câu chuyện kỳ lạ của mình ra trước mặt chúng tôi.

— Chuyện là thế này, thưa ông Hôm. Như tôi đã nói, tôi là đội trưởng đội bóng bầu dục của Đại học Cam-brít, và Gốt-phri Xtôn-tơn là cầu thủ giỏi nhất của tôi. Ngày mai chúng tôi đấu với Óc-xphớt. Hôm qua cả đội lên đây, ở khách sạn tư nhân Ben-li. Mười giờ tôi đi một vòng xem anh em đã đi ngủ hết chưa, vì tôi tin vào tập luyện nghiêm ngặt và ngủ đủ để giữ sức cho cả đội. Tôi có nói vài câu với Gốt-phri trước khi anh ấy đi nằm. Tôi thấy anh ấy xanh xao, có vẻ lo lắng. Tôi hỏi anh ấy làm sao. Anh ấy bảo không sao, chỉ hơi nhức đầu. Tôi chúc anh ấy ngủ ngon rồi đi. Nửa tiếng sau, theo lời người gác cổng, có một người đàn ông râu ria, trông thô kệch, tới mang một mẩu thư cho Gốt-phri. Anh ấy chưa đi ngủ, và mẩu thư được đưa lên phòng. Gốt-phri đọc xong thì ngã vật xuống ghế như bị giáng búa vào đầu. Người gác cổng hoảng quá định đi gọi tôi, nhưng Gốt-phri ngăn lại, uống một ngụm nước rồi trấn tĩnh lại. Rồi anh ấy đi xuống, nói vài câu với người đàn ông đang đứng chờ ở tiền sảnh, và hai người cùng đi ra. Lần cuối cùng người gác cổng trông thấy, họ đang gần như chạy dọc phố về phía Xtơ-ren. Sáng nay phòng của Gốt-phri trống không, giường chưa có ai nằm, đồ đạc vẫn y nguyên như tôi thấy tối hôm trước. Anh ấy đã ra đi tức khắc cùng người lạ ấy, và từ đó không có tin tức gì. Tôi không tin anh ấy sẽ quay về. Gốt-phri là người thể thao tới tận xương tuỷ, anh ấy sẽ không bỏ dở tập luyện và để đội trưởng của mình lâm vào cảnh khốn đốn, nếu không vì một lý do nào đó quá mạnh. Không, tôi cảm thấy như anh ấy đã đi hẳn rồi, và chúng tôi sẽ không bao giờ gặp lại anh ấy nữa.

Sơ-lốc Hôm lắng nghe câu chuyện kỳ lạ ấy với sự chú ý sâu sắc nhất.

— Anh đã làm gì? — anh hỏi.

— Tôi đánh điện về Cam-brít xem ở đó có ai nghe tin gì về anh ấy không. Tôi đã nhận được trả lời. Không ai thấy anh ấy.

— Anh ấy có thể về Cam-brít được không?

— Có, có một chuyến tàu muộn, lúc mười một giờ mười lăm.

— Nhưng theo anh biết thì anh ấy không đi chuyến ấy?

— Không, không ai thấy anh ấy.

— Rồi anh làm gì nữa?

— Tôi đánh điện cho huân tước Mao Giêm.

— Sao lại là huân tước Mao Giêm?

— Gốt-phri mồ côi, và huân tước Mao Giêm là người thân gần nhất của anh ấy, tôi nghĩ là bác.

— Thật thế sao. Điều này rọi một ánh sáng mới vào sự việc. Huân tước Mao Giêm là một trong những người giàu nhất nước Anh.

— Tôi cũng nghe Gốt-phri nói vậy.

— Và bạn anh là họ hàng gần?

— Vâng, anh ấy là người thừa kế, mà ông già gần tám mươi rồi, lại bị bệnh gút hành khắp người. Người ta bảo ông có thể lấy khớp ngón tay mà xoa phấn lên gậy bi-a. Cả đời ông chưa cho Gốt-phri một đồng si-linh nào, vì ông keo kiệt hết chỗ nói, nhưng rồi tất cả cũng sẽ về tay anh ấy thôi.

— Anh có nhận được tin gì của huân tước Mao Giêm không?

— Không.

— Bạn anh có thể có động cơ gì để tìm tới huân tước Mao Giêm?

— Chà, tối hôm trước có chuyện gì đó làm anh ấy lo lắng, và nếu là chuyện tiền bạc thì có thể anh ấy tìm tới người thân gần nhất, người có nhiều tiền đến thế, dù theo những gì tôi nghe thì anh ấy chẳng mấy cơ hội moi được. Gốt-phri không ưa ông già. Nếu tránh được thì anh ấy sẽ không đi.

— Thôi được, ta sẽ sớm xác định được điều đó. Nếu bạn anh tới chỗ người thân là huân tước Mao Giêm, thì anh vẫn phải giải thích chuyến ghé thăm của gã thô kệch kia vào giờ khuya khoắt ấy, và sự xúc động mà gã gây ra.

Xi-rin Ô-vơ-tơn ôm đầu.

— Tôi chẳng hiểu ra làm sao cả, — anh nói.

— Thôi được, thôi được, hôm nay tôi rảnh cả ngày, và tôi rất vui lòng xem xét chuyện này, — Hôm nói. — Tôi rất khuyên anh hãy chuẩn bị cho trận đấu mà đừng tính tới chàng trai này. Như anh nói, hẳn phải có một sự cần thiết hết sức mạnh mẽ mới giật anh ta đi như thế, và cũng chính sự cần thiết ấy có lẽ sẽ giữ anh ta ở xa. Ta cùng ghé qua khách sạn, xem người gác cổng có rọi thêm được chút ánh sáng nào không.

Sơ-lốc Hôm là bậc thầy trong nghệ thuật làm cho một nhân chứng thấp kém thấy thoải mái, và chẳng mấy chốc, trong căn phòng vắng chủ của Gốt-phri Xtôn-tơn, anh đã moi được tất cả những gì người gác cổng biết. Vị khách tối hôm trước không phải một quý ông, cũng không phải người lao động. Theo cách người gác cổng tả, ông ta chỉ là một người "trông xoàng xoàng", chừng năm mươi tuổi, râu hoa râm, mặt xanh xao, ăn mặc kín đáo. Chính ông ta có vẻ cũng đang xúc động. Người gác cổng để ý thấy tay ông run run khi đưa mẩu thư. Gốt-phri Xtôn-tơn nhét mẩu thư vào túi. Xtôn-tơn không bắt tay người đàn ông ở tiền sảnh. Họ nói với nhau vài câu, người gác cổng chỉ nghe ra mỗi chữ "kịp". Rồi họ vội vã đi ra như đã kể. Lúc đó đồng hồ ở tiền sảnh chỉ đúng mười giờ rưỡi.

— Để tôi xem, — Hôm nói, ngồi xuống giường của Xtôn-tơn. — Anh là người gác cổng ca ngày, phải không?

— Vâng, thưa ông, mười một giờ tôi hết ca.

— Người gác ca đêm chắc không thấy gì?

— Không, thưa ông, chỉ có một nhóm đi xem hát về muộn. Ngoài ra không ai.

— Hôm qua anh trực cả ngày à?

— Vâng, thưa ông.

— Anh có mang tin nhắn gì cho ông Xtôn-tơn không?

— Có, thưa ông, một bức điện.

— À! Thú vị đấy. Lúc mấy giờ?

— Khoảng sáu giờ.

— Lúc nhận điện ông Xtôn-tơn ở đâu?

— Ở đây, trong phòng ông ấy.

— Anh có mặt lúc ông ấy mở ra không?

— Có, thưa ông, tôi chờ xem có trả lời không.

— Thế có không?

— Có, thưa ông, ông ấy viết điện trả lời.

— Anh có mang đi không?

— Không, ông ấy tự mang đi.

— Nhưng ông ấy viết trước mặt anh.

— Vâng, thưa ông. Tôi đứng cạnh cửa, còn ông ấy quay lưng lại, ngồi ở cái bàn kia. Viết xong, ông ấy bảo: "Được rồi, anh gác cổng, tôi sẽ tự mang đi."

— Ông ấy viết bằng gì?

— Bằng bút, thưa ông.

— Mẫu điện tín ông ấy dùng có phải là một trong mấy tờ trên bàn kia không?

— Vâng, thưa ông, là tờ trên cùng.

Hôm đứng dậy. Anh cầm xấp mẫu điện tín tới bên cửa sổ, xem xét kỹ tờ trên cùng.

— Tiếc là anh ta không viết bằng bút chì, — anh nói, ném chúng xuống, nhún vai thất vọng. — Hẳn anh đã thường để ý, Oát-xơn, rằng vết bút chì thường hằn xuống tờ bên dưới, điều đã làm tan vỡ không ít cuộc hôn nhân hạnh phúc. Tuy vậy, ở đây tôi không tìm thấy dấu vết gì. Nhưng tôi mừng khi thấy anh ta viết bằng một cây bút lông ngỗng ngòi to, và tôi hầu như chắc chắn ta sẽ tìm thấy vết in nào đó trên tấm giấy thấm này. À, phải, chắc chắn đây đúng là thứ ta cần!

Anh xé một dải giấy thấm, giơ ra cho chúng tôi xem một dòng chữ ngoằn ngoèo, ngược chiều như chữ tượng hình.

Xi-rin Ô-vơ-tơn rất kích động.

— Soi nó vào gương đi! — anh kêu lên.

— Không cần đâu, — Hôm nói. — Giấy mỏng, lật mặt sau lại sẽ đọc được bức điện. Đây này.

Anh lật lại, và chúng tôi đọc được mấy chữ: "...vì Chúa, xin đứng về phía chúng tôi!"

— Vậy đó là đoạn cuối của bức điện mà Gốt-phri Xtôn-tơn gửi đi chỉ vài giờ trước khi mất tích. Có ít nhất sáu chữ của bức điện đã lọt khỏi tay ta. Nhưng phần còn lại, "Vì Chúa, xin đứng về phía chúng tôi!", chứng tỏ chàng trai này thấy một mối nguy ghê gớm đang tới gần, và có một người khác có thể che chở cho anh ta. "Chúng tôi", xin để ý! Còn một người nữa dính líu vào. Người đó còn có thể là ai ngoài gã râu ria mặt tái nhợt, kẻ cũng có vẻ hết sức căng thẳng? Vậy mối liên hệ giữa Gốt-phri Xtôn-tơn và gã râu ria là gì? Và người thứ ba mà cả hai cùng cầu cứu để chống lại mối nguy cấp bách là ai? Cuộc điều tra của ta đã thu hẹp lại vào chỗ đó.

— Ta chỉ cần tìm xem bức điện ấy gửi cho ai, — tôi gợi ý.

— Chính xác, Oát-xơn thân mến. Nhận xét của anh tuy sâu sắc nhưng cũng đã thoáng qua đầu tôi rồi. Có điều tôi dám chắc anh cũng đã nhận ra rằng nếu anh bước vào bưu điện đòi xem cuống phiếu bức điện của người khác, thì các viên chức ở đó sẽ chẳng mấy sẵn lòng chiều anh. Trong những chuyện này thủ tục giấy tờ rườm rà lắm. Tuy vậy, tôi không nghi ngờ rằng với chút tế nhị và khéo léo thì sẽ đạt được mục đích. Trong lúc chờ đợi, tôi muốn, trước mặt anh, ông Ô-vơ-tơn, xem qua mấy giấy tờ để lại trên bàn này.

Có một loạt thư từ, hoá đơn và sổ tay. Hôm lật xem từng thứ bằng những ngón tay nhanh nhẹn, bồn chồn và đôi mắt đảo nhanh, sắc bén.

— Ở đây chẳng có gì, — cuối cùng anh nói. — Nhân tiện, tôi đoán bạn anh là một chàng trai khoẻ mạnh, không có bệnh tật gì?

— Khoẻ như vâm.

— Anh có bao giờ thấy anh ấy ốm không?

— Không ngày nào. Anh ấy có lần phải nằm vì bị đá vào ống quyển, một lần trật xương bánh chè, nhưng chẳng đáng gì.

— Có lẽ anh ấy không khoẻ như anh tưởng. Tôi đoán anh ấy có thể có một nỗi khổ kín đáo nào đó. Nếu anh đồng ý, tôi sẽ cất vài tờ giấy này vào túi, phòng khi chúng liên quan tới cuộc điều tra sau này.

— Khoan đã, khoan đã! — một giọng nói gắt gỏng kêu lên.

Ngẩng lên, chúng tôi thấy một ông già nhỏ thó kỳ quặc, giật giật, co rúm, đứng ở ngưỡng cửa. Ông mặc bộ đồ đen đã ngả màu gỉ sét, đội chiếc mũ chóp cao vành rất rộng, thắt chiếc cà vạt trắng lỏng lẻo, tất cả trông giống một ông mục sư nhà quê, hay một người đi đưa đám thuê. Vậy mà dù trông tồi tàn, thậm chí lố bịch, giọng ông vẫn sắc như tiếng răng rắc, và cung cách ông có vẻ dữ dội, gấp gáp khiến người ta phải chú ý.

— Ông là ai, thưa ông, và lấy quyền gì mà động vào giấy tờ của cậu này? — ông hỏi.

— Tôi là thám tử tư, và tôi đang cố giải thích sự mất tích của anh ấy.

— Ồ, ông là thám tử à? Thế ai thuê ông, hả?

— Quý ông đây, bạn của ông Xtôn-tơn, được Xcốt-len Y-át giới thiệu tới tôi.

— Cậu là ai, thưa cậu?

— Tôi là Xi-rin Ô-vơ-tơn.

— Vậy ra chính cậu đánh điện cho tôi. Tôi là huân tước Mao Giêm. Tôi tới đây nhanh nhất mà chiếc xe buýt Bây-xoa-tơ có thể chở tôi. Vậy là cậu đã thuê thám tử?

— Vâng, thưa ông.

— Thế cậu đã sẵn sàng trả tiền chưa?

— Tôi không nghi ngờ gì, thưa ông, rằng khi chúng tôi tìm thấy Gốt-phri, anh ấy sẽ sẵn lòng trả.

— Nhưng nếu không bao giờ tìm thấy nó thì sao, hả? Trả lời tôi đi!

— Trong trường hợp ấy, chắc chắn gia đình anh ấy...

— Không có chuyện ấy đâu, thưa cậu! — ông già nhỏ thó rít lên. — Đừng trông vào tôi một đồng xu nào, không một xu nào! Ông nghe rõ chứ, ông thám tử! Tôi là tất cả gia đình mà thằng nhỏ này có, và tôi nói cho ông biết, tôi không chịu trách nhiệm gì hết. Nếu nó có được trông chờ gì về sau, thì đó là vì tôi chưa bao giờ phung phí tiền bạc, và tôi không định bắt đầu phung phí bây giờ. Còn những giấy tờ ông đang tự tiện đụng vào kia, tôi nói cho ông biết, nếu trong đó có thứ gì có giá trị, ông sẽ phải chịu trách nhiệm nghiêm ngặt về những gì ông làm với chúng.

— Tốt lắm, thưa ngài, — Sơ-lốc Hôm nói. — Trong lúc này, cho phép tôi hỏi ngài có tự nghĩ ra giả thuyết nào để giải thích sự mất tích của chàng trai này không?

— Không, thưa ông, không có. Nó đủ lớn, đủ tuổi để tự lo cho mình, và nếu nó dại dột tới mức tự làm mình biến mất, thì tôi hoàn toàn từ chối trách nhiệm đi tìm nó.

— Tôi hoàn toàn hiểu lập trường của ngài, — Hôm nói, mắt lấp lánh vẻ tinh quái. — Có lẽ ngài chưa hiểu lắm lập trường của tôi. Gốt-phri Xtôn-tơn có vẻ là một người nghèo. Nếu anh ấy bị bắt cóc, thì không thể vì thứ gì anh ấy có. Tiếng tăm về sự giàu có của ngài đã đồn xa, thưa huân tước Mao Giêm, và hoàn toàn có thể một băng trộm đã bắt cháu ngài để moi từ anh ấy thông tin về nhà cửa, thói quen và của cải của ngài.

Gương mặt của vị khách nhỏ bé khó chịu trắng bệch như chiếc cà vạt của ông.

— Trời đất, thưa ông, ý nghĩ gì thế! Tôi chưa bao giờ nghĩ tới chuyện đê tiện đến thế! Trên đời có những tên vô lại mất nhân tính làm sao! Nhưng Gốt-phri là đứa tốt, đứa trung thành. Không gì có thể khiến nó phản bội ông bác già của nó. Tối nay tôi sẽ cho chuyển hết đồ bạc tới ngân hàng. Trong lúc chờ đợi, ông đừng tiếc công sức gì, ông thám tử! Tôi xin ông lật từng hòn đá lên mà tìm, đưa nó về bình an. Còn tiền bạc à, năm bảng hay thậm chí mười bảng thì ông cứ trông vào tôi.

Ngay cả khi đã bớt kiêu căng, nhà quý tộc keo kiệt cũng không cho chúng tôi được thông tin nào hữu ích, vì ông biết rất ít về đời tư của cháu mình. Manh mối duy nhất của chúng tôi là bức điện cụt đuôi, và cầm bản sao của nó trong tay, Hôm lên đường tìm mắt xích thứ hai cho sợi xích của mình. Chúng tôi đã thoát được huân tước Mao Giêm, còn Ô-vơ-tơn đi bàn với các thành viên khác trong đội về tai hoạ vừa giáng xuống họ.

Cách khách sạn một quãng ngắn có một bưu điện. Chúng tôi dừng lại bên ngoài.

— Đáng thử lắm, Oát-xơn, — Hôm nói. — Dĩ nhiên có lệnh của toà thì ta có thể đòi xem cuống phiếu, nhưng ta chưa tới bước đó. Tôi đoán ở một nơi đông đúc thế này người ta không nhớ mặt ai đâu. Ta liều thử xem.

Anh nói bằng giọng ngọt ngào nhất với cô gái trẻ sau ô cửa lưới:

— Xin lỗi đã làm phiền cô, có một chút nhầm lẫn về bức điện tôi gửi hôm qua. Tôi chưa nhận được trả lời, và tôi rất sợ là mình đã quên ký tên ở cuối. Cô có thể cho tôi biết có phải thế không?

Cô gái lật một xấp cuống phiếu.

— Lúc mấy giờ ạ? — cô hỏi.

— Sau sáu giờ một chút.

— Gửi cho ai ạ?

Hôm đặt ngón tay lên môi, liếc nhìn tôi.

— Mấy chữ cuối là "xin đứng về phía chúng tôi", — anh thì thầm như tâm sự. — Không nhận được trả lời, tôi lo lắm.

Cô gái tách một tờ ra.

— Đây rồi. Không có tên, — cô nói, vuốt phẳng nó trên quầy.

— Vậy thì dĩ nhiên vì thế mà tôi không nhận được trả lời, — Hôm nói. — Trời ơi, tôi ngốc thật! Chào cô, và cảm ơn cô rất nhiều vì đã giúp tôi yên lòng.

Ra tới phố, anh cười khúc khích và xoa hai tay vào nhau.

— Thế nào? — tôi hỏi.

— Ta đang tiến lên, Oát-xơn thân mến, ta đang tiến lên. Tôi có bảy kế khác nhau để được liếc qua bức điện ấy, nhưng khó mà mong thành công ngay lần đầu.

— Thế anh được gì?

— Một điểm xuất phát cho cuộc điều tra.

Anh vẫy một chiếc xe ngựa.

— Ga Kinh-crốt, — anh nói.

— Vậy ta phải đi xa à?

— Phải, tôi nghĩ ta phải cùng xuống Cam-brít. Mọi dấu hiệu dường như đều chỉ về hướng ấy.

— Nói tôi nghe, — tôi hỏi khi xe lộc cộc chạy lên đường Grây In, — anh đã ngờ ra nguyên nhân sự mất tích chưa? Tôi nghĩ trong mọi vụ của chúng ta, tôi chưa gặp vụ nào động cơ mù mờ hơn thế này. Chắc anh không thật sự nghĩ rằng anh ta bị bắt cóc để khai ra chuyện ông bác giàu có đấy chứ?

— Thú thật, Oát-xơn thân mến, tôi không thấy đó là một lời giải thích có nhiều khả năng. Nhưng tôi thấy đó là lời giải thích dễ làm ông già cực kỳ khó chịu ấy quan tâm nhất.

— Quả là nó đã làm ông ta quan tâm. Nhưng anh còn những khả năng nào khác?

— Tôi có thể kể ra vài khả năng. Anh phải công nhận là lạ lùng và đáng để ý khi chuyện này xảy ra ngay trước trận đấu quan trọng ấy, và dính tới đúng người duy nhất mà sự có mặt dường như quyết định thắng lợi của cả đội. Dĩ nhiên có thể chỉ là trùng hợp, nhưng nó thú vị. Thể thao nghiệp dư thì không có cá cược, nhưng ngoài công chúng thì người ta đánh cược khá nhiều, và có thể có kẻ thấy đáng bỏ công tác động vào một cầu thủ, như bọn côn đồ trường đua vẫn tác động vào ngựa đua. Đó là một lời giải thích. Lời giải thích thứ hai rất hiển nhiên là chàng trai này thật sự là người thừa kế một gia sản lớn, dù hiện giờ túng thiếu tới đâu, và không phải là không thể có một âm mưu bắt giữ anh ta để đòi tiền chuộc.

— Những giả thuyết ấy không tính tới bức điện.

— Đúng thế, Oát-xơn. Bức điện vẫn là thứ chắc chắn duy nhất ta có trong tay, và ta không được để sự chú ý lạc khỏi nó. Chính để làm sáng tỏ mục đích của bức điện mà giờ ta đang trên đường tới Cam-brít. Con đường điều tra hiện còn mù mịt, nhưng tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu trước tối nay ta không làm sáng tỏ được nó, hay ít ra tiến được một bước dài.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơ-lốc Hôm: Cầu thủ mất tích

  1. 1Bức điện chỉ còn nửa câu24 phút
  2. 2Vị bác sĩ ở Cam-brítĐang thu âm
  3. 3Con chó Pom-pâyĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảArthur Conan Doyle (1859 – 1930)
Năm mất1930
Xuất bản lần đầu1904
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Adventure of the Missing Three-Quarter, trong tập The Return of Sherlock Holmes, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →