Chương 1: Cái hộp gửi từ Ben-phát
Khi chọn ra một số vụ tiêu biểu để minh hoạ những phẩm chất trí tuệ đặc biệt của bạn tôi, Sơ-lốc Hôm, tôi đã cố hết sức chọn những vụ ít giật gân nhất, mà vẫn đủ đất cho tài năng của anh phô diễn. Có điều, đáng tiếc là không thể nào tách hẳn cái giật gân ra khỏi tội ác, và người ghi chép rơi vào thế khó: hoặc phải hy sinh những chi tiết cốt yếu, khiến người đọc hiểu sai bài toán, hoặc phải dùng những tư liệu mà sự tình cờ, chứ không phải sự lựa chọn, đã đưa đến tay mình. Với lời rào đón ngắn ngủi ấy, tôi xin mở sổ ghi chép về một chuỗi sự kiện kỳ lạ, và cũng khủng khiếp lạ lùng.
Đó là một ngày tháng tám nóng như thiêu. Phố Bây-cơ như cái lò, và nắng chói chang trên tường gạch vàng của ngôi nhà bên kia đường làm nhức cả mắt. Thật khó tin đó cũng chính là những bức tường hiện lên ảm đạm trong sương mù mùa đông. Rèm cửa nhà chúng tôi kéo xuống một nửa. Hôm nằm co trên ghế đệm, đọc đi đọc lại một lá thư nhận được trong chuyến thư buổi sáng. Còn tôi, những năm phục vụ ở Ấn Độ đã tập cho tôi chịu nóng giỏi hơn chịu lạnh, nên nhiệt kế lên tới ba mươi hai độ cũng chẳng làm tôi khổ sở gì. Nhưng tờ báo sáng thì nhạt nhẽo. Nghị viện đã nghỉ họp. Ai nấy đều rời thành phố, và tôi thèm được đến những khoảng rừng thưa của rừng Niu Phọt hay bãi sỏi ở Xao-xi. Tài khoản ngân hàng vơi cạn đã buộc tôi hoãn kỳ nghỉ, còn bạn tôi thì cả miền quê lẫn biển cả đều chẳng hấp dẫn anh chút nào. Anh thích nằm ngay giữa năm triệu con người, những sợi tơ cảm giác của anh vươn ra, len lỏi khắp nơi, rung lên trước mọi tin đồn nhỏ nhặt hay mọi mối ngờ về một tội ác chưa được giải. Trong bao nhiêu năng khiếu của anh, chẳng có chỗ cho việc thưởng ngoạn thiên nhiên. Lần duy nhất anh đổi gió là khi anh rời mắt khỏi bọn tội phạm thành phố để truy lùng anh em của chúng ở nhà quê.
Thấy Hôm quá mải mê, chẳng thiết chuyện trò, tôi ném tờ báo vô vị sang bên, ngả người ra ghế và chìm vào suy tưởng. Bỗng giọng bạn tôi cắt ngang dòng suy nghĩ:
— Anh nói đúng đấy, Oát-xơn. Đó quả là một cách giải quyết tranh chấp vô lý hết sức.
— Vô lý hết sức! — tôi thốt lên. Rồi chợt nhận ra anh vừa nói đúng điều thầm kín nhất trong lòng mình, tôi ngồi thẳng dậy, sững sờ nhìn anh.
— Thế này là thế nào, Hôm? — tôi kêu lên. — Điều này vượt xa mọi thứ tôi có thể tưởng tượng.
Anh cười vang trước vẻ bối rối của tôi.
— Anh còn nhớ chứ, — anh nói, — cách đây ít lâu, khi tôi đọc cho anh nghe một đoạn trong truyện của Ét-ga Pô, trong đó một người suy luận chặt chẽ lần theo được những ý nghĩ không nói ra của bạn mình, anh đã cho rằng đó chỉ là một màn trổ tài của tác giả. Khi tôi bảo tôi vẫn thường làm đúng như thế, anh tỏ ra không tin.
— Ồ, đâu có!
— Có thể lưỡi anh không nói, Oát-xơn thân mến ạ, nhưng lông mày anh thì chắc chắn có. Thế nên khi thấy anh ném tờ báo xuống và bắt đầu một dòng suy nghĩ, tôi rất mừng có dịp đọc nó ra, rồi chen ngang vào, để chứng tỏ tôi đã bắt nhịp được với anh.
Nhưng tôi vẫn còn lâu mới thoả mãn.
— Trong cái ví dụ anh đọc cho tôi, — tôi nói, — người suy luận rút ra kết luận từ hành động của người anh ta quan sát. Nếu tôi nhớ không lầm, người kia vấp vào một đống đá, ngước nhìn các vì sao, vân vân. Còn tôi chỉ ngồi im trên ghế, thì tôi có thể cho anh manh mối gì chứ?
— Anh tự đánh giá thấp mình rồi. Gương mặt được ban cho con người để biểu lộ cảm xúc, và gương mặt anh là những người đầy tớ trung thành.
— Anh định nói là anh đọc được dòng suy nghĩ của tôi qua nét mặt?
— Qua nét mặt, và nhất là qua đôi mắt. Có lẽ chính anh cũng không nhớ nổi cơn mơ màng của mình bắt đầu ra sao?
— Không, tôi không nhớ.
— Vậy tôi kể anh nghe. Sau khi ném tờ báo xuống, hành động khiến tôi để ý tới anh, anh ngồi chừng nửa phút với vẻ mặt trống rỗng. Rồi mắt anh dừng lại trên bức chân dung tướng Goóc-đơn mới lồng khung, và tôi thấy qua sự thay đổi trên nét mặt anh rằng một dòng suy nghĩ đã khởi đầu. Nhưng nó không đi xa lắm. Mắt anh lướt sang bức chân dung chưa lồng khung của mục sư Hen-ri Uốt Bi-chơ đặt trên chồng sách. Rồi anh ngước nhìn lên tường, và dĩ nhiên ý anh đã quá rõ. Anh đang nghĩ nếu lồng khung bức chân dung ấy thì nó vừa khít khoảng tường trống kia, và cân xứng với bức chân dung Goóc-đơn bên này.
— Anh đi theo tôi tài tình thật! — tôi kêu lên.
— Tới đó thì khó mà lạc được. Nhưng rồi ý nghĩ của anh quay lại với Bi-chơ, anh chăm chú nhìn sang như thể đang nghiên cứu tính cách ông ta qua nét mặt. Sau đó mắt anh thôi nheo lại, nhưng anh vẫn tiếp tục nhìn, vẻ mặt đăm chiêu. Anh đang nhớ lại những biến cố trong cuộc đời Bi-chơ. Tôi biết rõ anh không thể làm thế mà không nghĩ tới sứ mệnh ông ta nhận thay mặt phe miền Bắc thời nội chiến Mỹ, vì tôi nhớ anh từng phẫn nộ dữ dội trước cách ông ta bị những người quá khích bên ta đón tiếp. Anh cảm thấy mạnh mẽ về chuyện đó tới mức tôi biết anh không thể nghĩ tới Bi-chơ mà không nghĩ tới nó. Một lát sau, khi thấy mắt anh rời khỏi bức tranh, tôi ngờ rằng tâm trí anh đã chuyển sang cuộc nội chiến. Rồi khi thấy môi anh mím lại, mắt anh long lanh, hai tay nắm chặt, tôi chắc chắn anh đang nghĩ tới lòng dũng cảm mà cả hai phe đã thể hiện trong cuộc chiến tuyệt vọng ấy. Nhưng rồi mặt anh lại buồn đi, anh lắc đầu. Anh đang nghĩ tới nỗi đau thương, kinh hoàng và sự phí hoài vô ích bao sinh mạng. Tay anh lần tới vết thương cũ của chính mình, và một nụ cười run run trên môi anh, cho tôi biết rằng cái mặt nực cười của lối giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia như thế đã hiện ra trong đầu anh. Tới đó, tôi đồng tình với anh rằng thật là vô lý, và mừng vì thấy mọi suy luận của mình đều đúng.
— Hoàn toàn đúng! — tôi nói. — Và giờ anh đã giải thích rồi, thú thật tôi vẫn kinh ngạc y như trước.
— Chuyện ấy rất hời hợt thôi, Oát-xơn thân mến, tôi cam đoan. Lẽ ra tôi chẳng làm phiền anh với nó, nếu hôm nọ anh không tỏ ra ngờ vực. Nhưng tôi đang có trong tay một bài toán nhỏ có lẽ còn khó giải hơn bài tập đọc ý nghĩ của tôi. Anh có để ý trên báo một mẩu tin ngắn về thứ đồ kỳ lạ trong một gói bưu kiện gửi cho cô Cớt-sinh ở phố Crốt, thị trấn Croi-đơn không?
— Không, tôi không thấy gì cả.
— À, thế thì anh bỏ sót rồi. Ném nó sang đây cho tôi. Đây rồi, ngay dưới mục tài chính. Phiền anh đọc to lên.
Tôi nhặt tờ báo anh vừa ném trả lại và đọc mẩu tin anh chỉ. Đầu đề là "Một gói hàng rùng rợn".
"Cô Xu-dan Cớt-sinh, sống ở phố Crốt, thị trấn Croi-đơn, đã trở thành nạn nhân của một trò đùa có thể coi là ghê tởm lạ thường, trừ phi sự việc còn ẩn chứa một ý nghĩa đen tối hơn. Hai giờ chiều qua, người đưa thư trao cho cô một gói nhỏ bọc giấy nâu. Bên trong là một hộp bìa cứng đựng đầy muối hạt thô. Khi đổ muối ra, cô Cớt-sinh kinh hoàng thấy hai cái tai người, hình như mới bị cắt ra. Chiếc hộp được gửi theo đường bưu kiện từ Ben-phát vào buổi sáng hôm trước. Không có dấu hiệu gì về người gửi, và sự việc càng bí ẩn hơn vì cô Cớt-sinh, một bà cô năm mươi tuổi chưa chồng, sống rất khép kín, quen biết và thư từ với rất ít người, đến nỗi việc cô nhận được thứ gì qua bưu điện là chuyện hiếm hoi. Tuy nhiên, vài năm trước, khi còn ở Pen-giơ, cô có cho ba sinh viên y khoa trẻ thuê phòng trong nhà, rồi buộc phải tống họ đi vì lối sống ồn ào, bừa bãi. Cảnh sát cho rằng hành động xúc phạm này có thể do mấy thanh niên ấy gây ra. Họ ôm hận với cô, và muốn doạ cô bằng cách gửi những thứ lấy từ phòng giải phẫu. Giả thuyết này có phần đáng tin vì một trong mấy sinh viên ấy quê ở miền bắc Ai-len, và theo cô Cớt-sinh nhớ thì là ở Ben-phát. Trong khi chờ đợi, vụ việc đang được điều tra ráo riết, do ông Lét-xtrết, một trong những thám tử giỏi nhất của chúng ta, phụ trách."
— Báo Thời sự hằng ngày nói vậy đấy, — Hôm nói khi tôi đọc xong. — Giờ tới ông bạn Lét-xtrết của chúng ta. Sáng nay tôi nhận được thư của anh ta, trong đó viết: "Tôi nghĩ vụ này rất hợp sở trường của ông. Chúng tôi rất hy vọng làm sáng tỏ sự việc, nhưng hơi khó tìm ra cái gì để bám vào. Dĩ nhiên chúng tôi đã đánh điện cho bưu điện Ben-phát, nhưng hôm đó có rất nhiều bưu kiện được gửi đi, họ không có cách nào nhận ra gói này hay nhớ người gửi. Cái hộp là loại hộp đựng nửa cân thuốc lá sợi tẩm mật, chẳng giúp gì được chúng tôi. Tôi vẫn thấy giả thuyết sinh viên y khoa là hợp lý nhất, nhưng nếu ông có vài giờ rảnh, tôi rất vui được gặp ông ở đây. Cả ngày tôi sẽ ở ngôi nhà ấy hoặc ở đồn cảnh sát." Anh nghĩ sao, Oát-xơn? Anh có vượt qua nổi cái nóng mà xuống Croi-đơn với tôi, may ra có thêm một vụ cho sổ ghi chép của anh không?
— Tôi đang thèm có việc gì để làm.
— Vậy thì anh sẽ có. Rung chuông bảo mang giày lên và bảo họ gọi xe. Tôi thay áo choàng và nhét đầy hộp xì gà rồi quay lại ngay.
Trong lúc chúng tôi ngồi tàu thì trời đổ một trận mưa rào, nên ở Croi-đơn cái nóng dịu hơn ở thành phố nhiều. Hôm đã đánh điện báo trước, nên Lét-xtrết, vẫn gân guốc, chải chuốt và có dáng chồn sương như mọi khi, đã chờ sẵn ở nhà ga. Đi bộ năm phút là tới phố Crốt, nơi cô Cớt-sinh sống.
Đó là một con phố rất dài, toàn nhà gạch hai tầng gọn gàng, ngăn nắp, bậc thềm đá quét trắng, và từng nhóm phụ nữ đeo tạp dề đứng tán chuyện trước cửa. Đi được nửa phố, Lét-xtrết dừng lại gõ cửa. Một cô hầu gái nhỏ ra mở. Cô Cớt-sinh đang ngồi trong phòng khách phía trước, nơi chúng tôi được mời vào. Đó là một phụ nữ có gương mặt điềm tĩnh, đôi mắt to hiền hậu, mái tóc hoa râm uốn cong xuống hai bên thái dương. Trên đùi bà là một tấm khăn phủ lưng ghế đang thêu dở, và một rổ chỉ tơ nhiều màu đặt trên chiếc ghế đẩu bên cạnh.
— Chúng ở ngoài nhà kho, những thứ kinh khủng ấy, — bà nói khi Lét-xtrết bước vào. — Tôi mong các ông mang chúng đi hẳn cho.
— Tôi sẽ mang đi, thưa cô Cớt-sinh. Tôi chỉ để chúng ở đây cho tới khi bạn tôi, ông Hôm, xem qua với sự có mặt của cô.
— Sao lại phải có mặt tôi, thưa ông?
— Phòng khi ông ấy muốn hỏi điều gì.
— Hỏi tôi thì được ích gì, khi tôi đã nói là tôi chẳng biết tí gì về chuyện đó?
— Đúng thế, thưa bà, — Hôm nói bằng giọng xoa dịu quen thuộc. — Tôi chắc là chuyện này đã làm bà phiền lòng quá đủ rồi.
— Quả thật vậy, thưa ông. Tôi là người đàn bà ít nói và sống khép kín. Thấy tên mình trên báo, thấy cảnh sát trong nhà mình là chuyện mới mẻ với tôi. Tôi không muốn những thứ ấy ở trong này, ông Lét-xtrết ạ. Nếu các ông muốn xem thì ra nhà kho.
Đó là một cái chòi nhỏ trong mảnh vườn hẹp chạy dài sau nhà. Lét-xtrết vào trong, mang ra một chiếc hộp bìa cứng màu vàng, một mảnh giấy nâu và một đoạn dây. Cuối lối đi có một chiếc ghế dài, tất cả chúng tôi ngồi xuống, và Hôm lần lượt xem xét từng thứ Lét-xtrết đưa cho.
— Sợi dây này cực kỳ thú vị, — anh nhận xét, giơ nó lên trước ánh sáng và đưa lên mũi ngửi. — Anh thấy sợi dây này thế nào, Lét-xtrết?
— Nó đã được tẩm hắc ín.
— Chính xác. Đây là một đoạn dây gai tẩm hắc ín. Hẳn anh cũng đã để ý rằng cô Cớt-sinh cắt dây bằng kéo, nhìn hai đầu sợi xơ ra thì thấy. Điều này quan trọng.
— Tôi không thấy quan trọng ở chỗ nào, — Lét-xtrết nói.
— Quan trọng ở chỗ nút buộc vẫn còn nguyên, và nút buộc này có kiểu rất đặc biệt.
— Nó được buộc rất gọn. Tôi đã ghi lại điều đó rồi, — Lét-xtrết tự mãn nói.
— Vậy là xong sợi dây, — Hôm mỉm cười. — Giờ tới giấy gói hộp. Giấy nâu, có mùi cà phê rõ rệt. Sao, anh không để ý à? Tôi nghĩ chẳng có gì phải nghi ngờ. Địa chỉ viết bằng chữ in khá nguệch ngoạc: "Cô X. Cớt-sinh, phố Crốt, Croi-đơn." Viết bằng ngòi bút đầu to, có lẽ loại ngòi chữ J, với thứ mực rất kém. Tên Croi-đơn lúc đầu bị viết sai một chữ cái, sau mới sửa lại. Vậy bưu kiện do một người đàn ông ghi địa chỉ, nét chữ in rõ ràng là của đàn ông, học vấn hạn chế và không quen thuộc thị trấn Croi-đơn. Tới đây thì ổn! Cái hộp là hộp đựng nửa cân thuốc lá tẩm mật màu vàng, chẳng có gì đặc biệt ngoài hai dấu ngón tay cái ở góc dưới bên trái. Nó chứa đầy muối hạt thô, loại dùng để ướp da sống và vào những việc buôn bán thô sơ khác. Và vùi trong muối là những thứ hết sức kỳ lạ này.
Vừa nói anh vừa lấy hai cái tai ra, đặt một tấm ván ngang đầu gối và xem xét tỉ mỉ. Lét-xtrết và tôi ngồi hai bên cúi người tới, nhìn lúc thì những di vật khủng khiếp ấy, lúc thì gương mặt đăm chiêu, háo hức của bạn chúng tôi. Cuối cùng anh bỏ chúng trở lại hộp, rồi ngồi trầm ngâm hồi lâu.
— Dĩ nhiên các anh đã nhận ra, — cuối cùng anh nói, — rằng hai cái tai này không phải một đôi.
— Vâng, tôi có để ý. Nhưng nếu đây là trò đùa của mấy sinh viên phòng giải phẫu, thì gửi hai cái tai lẻ cũng dễ như gửi một đôi.
— Đúng thế. Nhưng đây không phải trò đùa.
— Ông chắc chứ?
— Mọi lẽ đều nghiêng hẳn về phía ngược lại. Xác trong phòng giải phẫu đều được tiêm dung dịch bảo quản. Hai cái tai này không có dấu hiệu đó. Chúng còn tươi. Chúng bị cắt bằng một vật cùn, điều khó xảy ra nếu là sinh viên làm. Lại nữa, nếu là người có đầu óc y khoa thì thứ chất bảo quản họ nghĩ tới sẽ là a-xít các-bô-líc hay cồn tinh chế, chắc chắn không phải muối hạt thô. Tôi nhắc lại, ở đây chẳng có trò đùa nào cả. Chúng ta đang điều tra một tội ác nghiêm trọng.
Một cơn rùng mình mơ hồ chạy qua người tôi khi nghe bạn tôi nói, và khi thấy vẻ nghiêm nghị lạnh lùng đã làm rắn đanh nét mặt anh. Màn mở đầu tàn bạo này dường như báo trước một nỗi kinh hoàng kỳ lạ, không sao giải thích nổi, đang ẩn ở phía sau. Tuy vậy, Lét-xtrết vẫn lắc đầu như người mới tin được một nửa.
— Giả thuyết trò đùa thì có chỗ không ổn, chắc rồi, — anh ta nói, — nhưng giả thuyết kia còn vướng những lý do mạnh hơn nhiều. Chúng ta biết bà này đã sống một cuộc đời hết sức yên lặng, đáng kính, ở Pen-giơ rồi ở đây, suốt hai mươi năm nay. Trong thời gian ấy bà hầu như chưa rời nhà ngày nào. Thế thì cớ làm sao một tên tội phạm lại gửi cho bà bằng chứng tội ác của hắn, nhất là khi, trừ phi bà là một diễn viên đại tài, bà cũng chẳng hiểu gì về chuyện này hơn chúng ta?
— Đó chính là bài toán chúng ta phải giải, — Hôm đáp, — và về phần mình, tôi sẽ bắt tay vào bằng cách giả định rằng suy luận của tôi là đúng, và đã có một vụ giết hai người. Một trong hai cái tai này là của đàn bà, nhỏ nhắn, đường nét thanh tú, có xỏ lỗ đeo khuyên. Cái kia là của đàn ông, cháy nắng, bạc màu, cũng xỏ lỗ đeo khuyên. Hai người này có lẽ đã chết, nếu không thì giờ này ta đã nghe chuyện của họ. Hôm nay là thứ sáu. Gói hàng được gửi sáng thứ năm. Vậy tấn thảm kịch xảy ra hôm thứ tư hoặc thứ ba, hoặc sớm hơn. Nếu hai người ấy bị giết, thì ngoài kẻ giết họ, còn ai gửi dấu tích việc làm ấy cho cô Cớt-sinh? Ta có thể coi người gửi gói hàng chính là kẻ ta cần tìm. Nhưng hắn phải có lý do mạnh mẽ nào đó mới gửi gói hàng cho cô Cớt-sinh. Lý do gì? Hẳn là để báo cho cô biết việc đã xong! Hoặc có lẽ để làm cô đau đớn. Nhưng nếu vậy thì cô phải biết đó là ai. Cô có biết không? Tôi ngờ lắm. Nếu biết, sao cô lại gọi cảnh sát? Cô có thể chôn hai cái tai đi, và chẳng ai hay biết gì. Cô sẽ làm thế nếu muốn che chở cho kẻ phạm tội. Còn nếu không muốn che chở hắn thì cô đã khai tên hắn ra. Ở đây có một mớ bòng bong cần gỡ cho thẳng.
Anh đã nói bằng giọng cao và nhanh, mắt nhìn đăm đăm vô định qua hàng rào vườn. Nhưng giờ anh nhanh nhẹn đứng bật dậy, đi về phía ngôi nhà.
— Tôi có vài câu muốn hỏi cô Cớt-sinh, — anh nói.
— Vậy thì tôi xin để các ông ở lại, — Lét-xtrết nói, — vì tôi còn một việc nhỏ khác phải lo. Tôi nghĩ tôi chẳng còn gì để hỏi cô Cớt-sinh nữa. Các ông sẽ gặp tôi ở đồn cảnh sát.
— Trên đường ra ga chúng tôi sẽ ghé, — Hôm đáp.
Lát sau, anh và tôi đã trở lại phòng khách phía trước, nơi người đàn bà điềm nhiên vẫn lặng lẽ thêu tấm khăn của mình. Thấy chúng tôi vào, bà đặt nó xuống đùi và nhìn chúng tôi bằng đôi mắt xanh thẳng thắn, dò hỏi.
— Tôi tin chắc, thưa ông, — bà nói, — rằng chuyện này là một sự nhầm lẫn, và gói hàng ấy chưa bao giờ định gửi cho tôi cả. Tôi đã nói thế mấy lần với ông ở Xcốt-len Y-át, nhưng ông ta chỉ cười tôi. Theo tôi biết, tôi chẳng có kẻ thù nào trên đời, vậy thì sao lại có người chơi tôi một vố như thế?
— Tôi cũng đang đi tới ý kiến ấy, thưa cô Cớt-sinh, — Hôm nói, ngồi xuống cạnh bà. — Tôi nghĩ rất có thể là...
Anh dừng lại. Liếc sang, tôi ngạc nhiên thấy anh đang chằm chằm nhìn nghiêng gương mặt người phụ nữ với một sự chú tâm khác thường. Trong thoáng chốc, trên gương mặt háo hức của anh hiện rõ cả vẻ ngạc nhiên lẫn hài lòng, nhưng khi bà quay sang xem vì sao anh im lặng thì anh đã lại đứng đắn như thường. Chính tôi cũng chăm chú nhìn mái tóc hoa râm rẽ phẳng, chiếc mũ vải gọn gàng, đôi khuyên tai nhỏ mạ vàng, gương mặt điềm tĩnh của bà, nhưng chẳng thấy gì có thể giải thích sự phấn khích rõ rệt của bạn tôi.
— Có một hai câu tôi muốn hỏi...
— Ôi, tôi chán ngấy hỏi han lắm rồi! — cô Cớt-sinh sốt ruột kêu lên.
— Tôi tin là cô có hai cô em gái.
— Làm sao ông biết?
— Ngay khi bước vào phòng, tôi đã để ý trên mặt lò sưởi có bức ảnh chụp chung ba người phụ nữ, một người chắc chắn là cô, còn hai người kia giống cô đến nỗi không thể nghi ngờ gì về quan hệ ruột thịt.
— Vâng, ông nói đúng. Đó là hai em tôi, Xa-ra và Mê-ri.
— Và đây, ngay cạnh khuỷu tay tôi, là một bức ảnh khác chụp ở Li-vơ-pun, cô em út của cô chụp cùng một người đàn ông, nhìn bộ đồng phục thì có vẻ là một chiêu đãi viên trên tàu. Tôi thấy lúc ấy cô ấy chưa lấy chồng.
— Ông quan sát nhanh thật.
— Đó là nghề của tôi.
— Vâng, ông nói đúng. Nhưng mấy hôm sau đó thì nó lấy anh Brao-nơ. Lúc chụp bức ảnh ấy anh ta làm trên tuyến Nam Mỹ, nhưng anh ta thương nó quá, không chịu nổi xa nó lâu như thế, nên xin chuyển sang làm trên các tàu chạy tuyến Li-vơ-pun với Luân Đôn.
— À, có lẽ là tàu Công-cơ-rơ?
— Không, theo lần cuối tôi nghe thì là tàu Mây Đây. Gim có xuống đây thăm tôi một lần. Đó là hồi anh ta còn giữ lời thề cai rượu. Nhưng về sau hễ lên bờ là anh ta uống, mà chỉ một chút rượu cũng làm anh ta điên cuồng. Ôi, thật là một ngày xui xẻo khi anh ta lại cầm ly rượu lên. Trước hết anh ta bỏ rơi tôi, rồi cãi nhau với Xa-ra, và giờ Mê-ri không viết thư nữa nên chúng tôi chẳng biết vợ chồng nó ra sao.
Rõ ràng cô Cớt-sinh đã chạm tới một đề tài làm bà xúc động sâu sắc. Như phần lớn những người sống cô đơn, ban đầu bà e dè, nhưng rồi lại trở nên hết sức cởi mở. Bà kể cho chúng tôi rất nhiều chi tiết về người em rể làm chiêu đãi viên, rồi lan man sang chuyện mấy người thuê nhà cũ, đám sinh viên y khoa, kể dài dòng về những trò quậy phá của họ, kèm cả tên họ lẫn tên bệnh viện của họ. Hôm chăm chú nghe hết, thỉnh thoảng chen vào một câu hỏi.
— Về cô em thứ hai, cô Xa-ra, — anh nói. — Tôi lấy làm lạ là cả hai cô đều chưa lập gia đình mà lại không sống chung với nhau.
— À, ông không biết tính khí Xa-ra đấy, chứ biết thì ông sẽ chẳng lấy làm lạ nữa. Hồi tôi tới Croi-đơn, tôi đã thử ở chung, và hai chị em sống với nhau tới khoảng hai tháng trước thì phải ra ở riêng. Tôi không muốn nói nửa lời nào xấu về em gái mình, nhưng Xa-ra lúc nào cũng hay xen vào chuyện người khác và khó chiều lắm.
— Cô nói cô ấy cãi nhau với vợ chồng em ở Li-vơ-pun.
— Vâng, mà có thời họ thân nhau nhất đấy. Này nhé, nó còn lên tận đó sống để được gần vợ chồng em. Thế mà giờ nó chẳng tìm được lời nào cay nghiệt cho đủ để nói về Gim Brao-nơ. Sáu tháng cuối ở đây, nó chẳng nói chuyện gì khác ngoài chuyện anh ta rượu chè, chuyện cách ăn ở của anh ta. Tôi đoán anh ta bắt gặp nó xen vào việc nhà mình, và đã nói thẳng vào mặt nó vài câu, thế là bắt đầu.
— Cảm ơn cô Cớt-sinh, — Hôm nói, đứng lên cúi chào. — Tôi nghĩ cô có nói cô Xa-ra sống ở phố Niu, Oa-linh-tơn phải không? Chào cô, và tôi rất tiếc là cô đã bị làm phiền vì một vụ mà như cô nói, cô chẳng dính dáng gì.
Ra tới ngoài thì có một chiếc xe ngựa đi ngang, Hôm vẫy lại.
— Tới Oa-linh-tơn bao xa? — anh hỏi.
— Chỉ chừng hơn một cây số rưỡi thôi, thưa ông.
— Tốt lắm. Lên đi, Oát-xơn. Phải rèn khi sắt còn nóng. Vụ này tuy đơn giản nhưng có một hai chi tiết rất bổ ích. Bác xà ích, đi ngang bưu điện nào có đánh điện thì dừng lại nhé.
Hôm gửi đi một bức điện ngắn, rồi suốt quãng đường còn lại ngả người trong xe, kéo vành mũ sụp xuống mũi để che nắng. Người xà ích dừng trước một ngôi nhà chẳng khác mấy ngôi nhà chúng tôi vừa rời. Bạn tôi bảo anh ta chờ, và vừa đặt tay lên cái vòng gõ cửa thì cửa mở, một quý ông trẻ tuổi nghiêm nghị mặc đồ đen, đội chiếc mũ bóng loáng, xuất hiện trên bậc thềm.
— Cô Cớt-sinh có nhà không? — Hôm hỏi.
— Cô Xa-ra Cớt-sinh đang ốm rất nặng, — anh ta nói. — Từ hôm qua cô bị những triệu chứng về não hết sức nghiêm trọng. Là bác sĩ của cô, tôi không thể chịu trách nhiệm cho phép bất kỳ ai gặp cô. Tôi khuyên ông mười ngày nữa hãy quay lại.
Anh ta xỏ găng tay, đóng cửa và đi thẳng xuống phố.
— Chà, không được thì thôi, — Hôm vui vẻ nói.
— Có lẽ cô ấy cũng không thể hoặc không muốn kể gì nhiều với anh.
— Tôi không cần cô ấy kể gì cả. Tôi chỉ muốn nhìn cô ấy thôi. Tuy vậy, tôi nghĩ tôi đã có đủ những gì mình cần. Bác xà ích, cho chúng tôi tới một khách sạn nào tử tế để ăn trưa, sau đó chúng tôi sẽ ghé thăm ông bạn Lét-xtrết ở đồn cảnh sát.
Chúng tôi ăn một bữa nhỏ dễ chịu với nhau. Suốt bữa Hôm chỉ nói chuyện vĩ cầm, hể hả kể lại chuyện anh đã mua cây đàn Xtra-đi-va-ri-út của mình, trị giá ít nhất năm trăm đồng ghi-nê, ở một tiệm đồ cũ trên đường Tốt-ten-ham Cót với giá năm mươi lăm si-linh. Từ đó anh chuyển sang Pa-ga-ni-ni, và chúng tôi ngồi cả tiếng đồng hồ bên chai vang đỏ trong lúc anh kể hết giai thoại này tới giai thoại khác về con người phi thường ấy. Buổi chiều đã muộn, cái nắng gắt đã dịu thành ánh vàng êm ả khi chúng tôi tới đồn cảnh sát. Lét-xtrết đang chờ ở cửa.
— Có điện cho ông, ông Hôm, — anh ta nói.
— A! Câu trả lời đây rồi!
Anh xé phong bì, lướt mắt qua rồi vò nhàu nhét vào túi.
— Thế là ổn, — anh nói.
— Ông tìm ra được gì chưa?
— Tôi đã tìm ra tất cả!
— Cái gì? — Lét-xtrết sững sờ nhìn anh. — Ông đùa à.
— Tôi chưa bao giờ nghiêm túc hơn thế. Một tội ác khủng khiếp đã xảy ra, và tôi nghĩ giờ tôi đã phơi bày được mọi chi tiết của nó.
— Còn thủ phạm?
Hôm nguệch ngoạc vài chữ lên mặt sau một tấm danh thiếp, ném cho Lét-xtrết.
— Tên hắn đấy, — anh nói. — Sớm nhất là tối mai anh mới bắt được. Tôi muốn anh đừng nhắc tên tôi trong vụ này, vì tôi chỉ muốn tên mình gắn với những tội ác mà việc giải chúng có chút khó khăn. Đi thôi, Oát-xơn.
Chúng tôi sải bước về phía nhà ga, bỏ lại Lét-xtrết vẫn đang hớn hở nhìn tấm danh thiếp Hôm vừa ném cho.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám