Chương 1: Vị khách giữa đêm bão
Khi nhìn ba tập bản thảo đồ sộ ghi lại công việc của chúng tôi trong năm 1894, tôi thú thật là giữa một kho tư liệu phong phú đến thế, thật khó chọn ra những vụ vừa thú vị nhất tự thân, vừa giúp phô bày rõ nhất những khả năng đặc biệt đã làm nên danh tiếng của bạn tôi. Lật từng trang, tôi thấy những ghi chép về câu chuyện ghê tởm của con đỉa đỏ và cái chết khủng khiếp của ông chủ ngân hàng Crốt-bi. Ở đây tôi cũng thấy bản tường thuật về tấn thảm kịch Át-đơn-tơn, và những thứ kỳ lạ trong một nấm mộ cổ của người Anh xưa. Vụ tranh chấp thừa kế Xmít-Moóc-ti-mơ nổi tiếng cũng nằm trong thời gian ấy, cả việc truy lùng và bắt giữ Uy-rê, tên sát thủ đại lộ, chiến công đã đem về cho Hôm một bức thư cảm ơn do chính tay Tổng thống Pháp viết, cùng huân chương Bắc Đẩu Bội tinh. Mỗi vụ ấy đều có thể thành một câu chuyện, nhưng nhìn chung tôi cho rằng không vụ nào hội tụ được nhiều điểm thú vị lạ lùng bằng câu chuyện ở dinh cũ Dốc-xli, gồm không chỉ cái chết thương tâm của chàng trai trẻ Uy-lâu-bi Xmít, mà cả những diễn biến sau đó, những diễn biến đã soi một ánh sáng hết sức kỳ lạ vào nguyên nhân của tội ác.
Đó là một đêm mưa gió dữ dội, gần cuối tháng Mười Một. Hôm và tôi ngồi im lặng bên nhau suốt buổi tối. Anh dùng một chiếc kính lúp cực mạnh để giải đọc những gì còn sót lại của dòng chữ gốc trên một tấm da cổ đã bị cạo đi viết lại, còn tôi thì mải mê một chuyên luận mới về phẫu thuật. Bên ngoài, gió gào rú dọc phố Bây-cơ, mưa quất dữ dội vào cửa kính. Thật lạ, ngay giữa lòng thành phố, mười sáu cây số quanh mình bốn phía toàn là công trình của con người, mà vẫn cảm thấy bàn tay sắt của Thiên nhiên, vẫn ý thức được rằng trước những sức mạnh nguyên thuỷ khổng lồ, cả Luân Đôn chẳng hơn gì những ụ đất chuột chũi lấm tấm trên đồng. Tôi bước tới bên cửa sổ, nhìn ra con phố vắng tanh. Thỉnh thoảng một ngọn đèn đường lấp loá trên mặt đường lầy lội và vỉa hè bóng nước. Một chiếc xe ngựa duy nhất đang lội nước chạy tới từ phía phố Óc-xphớt.
— Chà, Oát-xơn, may mà đêm nay chúng ta không phải ra ngoài, Hôm nói, đặt kính lúp xuống và cuộn tấm da lại. Ngồi một lần như thế là đủ rồi. Công việc này mỏi mắt lắm. Theo những gì tôi đọc được, nó chẳng có gì hấp dẫn hơn sổ sách chi tiêu của một tu viện từ nửa sau thế kỷ mười lăm. Ơ kìa! Ơ kìa! Ơ kìa! Gì thế này?
Giữa tiếng gió rền rĩ vang lên tiếng vó ngựa dậm, và tiếng bánh xe nghiến dài khi cọ vào mép vỉa hè. Chiếc xe tôi vừa thấy đã dừng ngay trước cửa nhà chúng tôi.
— Ông ta muốn gì nhỉ? tôi buột miệng khi thấy một người bước xuống xe.
— Muốn gì à? Ông ta muốn chúng ta. Còn chúng ta, Oát-xơn tội nghiệp của tôi, thì muốn áo khoác, khăn quàng, giày cao su, và mọi thứ con người từng nghĩ ra để chống chọi với thời tiết. Nhưng khoan đã! Chiếc xe lại đi rồi kìa! Vẫn còn hy vọng. Nếu muốn chúng ta đi cùng thì ông ta đã giữ xe lại. Anh bạn thân mến, anh chạy xuống mở cửa giùm, vì mọi người tử tế đã đi ngủ từ lâu rồi.
Khi ánh đèn tiền sảnh rọi lên vị khách nửa đêm, tôi nhận ra ngay. Đó là Xtan-li Hóp-kin, viên thám tử trẻ đầy triển vọng, người mà Hôm đã mấy lần quan tâm rất thiết thực tới sự nghiệp.
— Ông ấy có nhà không? anh hỏi, háo hức.
— Lên đây, anh bạn thân mến, giọng Hôm vọng xuống từ trên lầu. Mong là anh không định lôi chúng tôi đi đâu vào một đêm như thế này.
Viên thám tử leo lên cầu thang, ngọn đèn của chúng tôi ánh lên tấm áo mưa bóng nước của anh. Tôi giúp anh cởi áo, trong khi Hôm cời cho đống củi trong lò bùng cháy.
— Nào, Hóp-kin thân mến, kéo ghế lại sưởi chân đi, anh nói. Xì gà đây, còn bác sĩ có một đơn thuốc gồm nước nóng và chanh, là liều thuốc tốt vào một đêm như thế này. Hẳn phải là chuyện quan trọng mới khiến anh ra ngoài giữa cơn bão này.
— Đúng vậy, ông Hôm. Tôi cam đoan với ông là tôi đã có một buổi chiều bận rộn. Ông có đọc thấy gì về vụ Dốc-xli trên mấy số báo mới nhất không?
— Hôm nay tôi chẳng đọc gì mới hơn thế kỷ mười lăm.
— Chà, chỉ có một đoạn tin ngắn, mà lại sai bét, nên ông chẳng bỏ lỡ gì. Tôi không để cỏ mọc dưới chân đâu. Chỗ ấy ở hạt Ken, cách Chát-thơm mười một cây số và cách đường sắt gần năm cây số. Ba giờ mười lăm người ta đánh điện gọi tôi, năm giờ tôi tới dinh cũ Dốc-xli, tiến hành điều tra, về tới ga Sa-rinh Crốt bằng chuyến tàu cuối, rồi đi xe tới thẳng chỗ ông.
— Tôi đoán thế có nghĩa là anh chưa thấy vụ của mình rõ ràng lắm?
— Có nghĩa là tôi chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra sao cả. Theo tôi thấy, đây là một vụ rối rắm nhất tôi từng gặp, vậy mà lúc đầu nó tưởng đơn giản tới mức chẳng thể nhầm được. Không có động cơ, ông Hôm ạ. Đó là điều làm tôi bứt rứt, tôi không tìm ra được động cơ. Ở đây có một người chết, không thể chối cãi, nhưng theo tôi thấy, chẳng có lý do nào trên đời khiến ai đó muốn hại anh ta.
Hôm châm xì gà, ngả người ra ghế.
— Kể chúng tôi nghe đi, anh nói.
— Các sự việc thì tôi đã nắm khá rõ, Xtan-li Hóp-kin nói. Giờ tôi chỉ muốn biết chúng có nghĩa gì. Theo những gì tôi hiểu được, câu chuyện thế này. Cách đây vài năm, ngôi nhà ở thôn quê này, dinh cũ Dốc-xli, được một ông già thuê, tự xưng là giáo sư Co-ram. Ông ta là người bệnh tật, nửa thời gian nằm trên giường, nửa còn lại thì chống gậy tập tễnh quanh nhà hoặc được người làm vườn đẩy xe lăn đi quanh khu vườn. Mấy người hàng xóm ít ỏi tới thăm ông đều quý ông, và ở vùng ấy ông nổi tiếng là người rất uyên bác. Trong nhà có một bà quản gia lớn tuổi, bà Mác-cơ, và một cô hầu, Xu-dân Ta-tơn. Cả hai đều ở với ông từ khi ông tới, và có vẻ đều là những người đàn bà có nhân cách tốt. Ông giáo sư đang viết một cuốn sách uyên bác, và cách đây chừng một năm ông thấy cần thuê một thư ký. Hai người đầu ông thử đều không được việc, nhưng người thứ ba, cậu Uy-lâu-bi Xmít, một chàng trai rất trẻ vừa ra trường đại học, có vẻ đúng là người ông cần. Công việc của cậu ta là suốt buổi sáng viết theo lời giáo sư đọc, còn buổi tối thì thường tra cứu những tài liệu, đoạn văn liên quan tới công việc ngày hôm sau. Cậu Uy-lâu-bi Xmít này chẳng có điều gì đáng chê, cả hồi còn là học sinh ở trường Áp-pinh-hêm lẫn khi là sinh viên ở Kem-brít. Tôi đã xem thư giới thiệu của cậu ta, và ngay từ đầu cậu ta đã là một chàng trai đứng đắn, trầm lặng, chăm chỉ, chẳng có điểm yếu nào. Vậy mà chính chàng trai ấy sáng nay đã chết trong phòng làm việc của giáo sư, trong những hoàn cảnh chỉ có thể là giết người.
Gió gào rú, rít lên ở cửa sổ. Hôm và tôi kéo ghế lại gần lò sưởi, trong khi viên thanh tra trẻ chậm rãi kể từng điểm một câu chuyện lạ lùng của mình.
— Nếu tìm khắp nước Anh, anh nói, tôi không nghĩ các ông tìm được một gia đình nào khép kín hơn, ít chịu ảnh hưởng từ bên ngoài hơn. Có khi cả tuần liền chẳng ai trong nhà bước ra khỏi cổng vườn. Ông giáo sư vùi đầu vào công việc, ngoài ra chẳng sống vì điều gì khác. Cậu Xmít không quen ai quanh vùng, và sống gần như y hệt ông chủ. Hai người đàn bà chẳng có việc gì phải ra khỏi nhà. Moóc-ti-mơ, người làm vườn đẩy xe lăn, là một cựu binh hưởng lương hưu, từng đánh trận ở Crưm, rất đứng đắn. Ông ta không sống trong nhà, mà ở một căn nhà nhỏ ba gian ở đầu kia khu vườn. Đó là tất cả những người ông có thể gặp trong khuôn viên dinh cũ Dốc-xli. Nhưng đồng thời, cổng vườn chỉ cách con đường lớn từ Luân Đôn đi Chát-thơm chừng trăm mét. Cổng chỉ cài then, chẳng có gì ngăn ai bước vào.
Giờ tôi sẽ kể ông nghe lời khai của Xu-dân Ta-tơn, người duy nhất có thể nói điều gì đó chắc chắn về chuyện này. Đó là buổi sáng, khoảng giữa mười một và mười hai giờ. Lúc ấy cô đang treo rèm trong phòng ngủ phía trước trên lầu. Giáo sư Co-ram vẫn nằm trên giường, vì những hôm thời tiết xấu ông ít khi dậy trước trưa. Bà quản gia đang bận việc gì đó ở phía sau nhà. Uy-lâu-bi Xmít đang ở trong phòng ngủ của mình, nơi cậu dùng làm phòng khách, nhưng đúng lúc ấy cô hầu nghe cậu đi dọc hành lang và xuống phòng làm việc ngay bên dưới chỗ cô. Cô không thấy cậu, nhưng cô bảo không thể nhầm được bước chân nhanh nhẹn, chắc chắn của cậu. Cô không nghe tiếng cửa phòng làm việc đóng, nhưng chừng một phút sau, từ phòng dưới vang lên một tiếng kêu khủng khiếp. Đó là một tiếng thét hoang dại, khàn đặc, lạ lùng và trái tự nhiên tới mức có thể là của đàn ông mà cũng có thể là của đàn bà. Cùng lúc ấy có một tiếng huỵch nặng nề làm rung cả ngôi nhà cũ, rồi tất cả im lặng. Cô hầu đứng chết trân một lúc, rồi lấy lại can đảm, chạy xuống nhà. Cửa phòng làm việc đóng, cô mở ra. Bên trong, cậu Uy-lâu-bi Xmít nằm sóng soài trên sàn. Lúc đầu cô không thấy vết thương nào, nhưng khi cố đỡ cậu dậy, cô thấy máu đang tuôn ra từ mặt dưới cổ cậu. Cổ cậu bị một vết đâm rất nhỏ nhưng rất sâu, làm đứt động mạch cảnh. Hung khí nằm trên thảm bên cạnh. Đó là một trong những con dao nhỏ dùng để cắt xi gắn thư, thường thấy trên những chiếc bàn viết kiểu cổ, cán bằng ngà, lưỡi cứng. Nó là một trong những đồ dùng trên bàn viết của chính ông giáo sư.
Lúc đầu cô hầu tưởng cậu Xmít đã chết, nhưng khi cô dội chút nước từ bình lên trán cậu, cậu mở mắt ra một thoáng. Cậu thều thào: Thưa giáo sư, chính là bà ta. Cô hầu sẵn sàng thề đó là đúng nguyên văn. Cậu cố hết sức nói thêm điều gì đó, và giơ tay phải lên trời. Rồi cậu ngã ra chết.
Trong lúc ấy bà quản gia cũng đã tới, nhưng bà tới chậm một chút, không kịp nghe những lời trăng trối của chàng trai. Để Xu-dân ở lại với thi thể, bà vội tới phòng giáo sư. Ông đang ngồi dậy trên giường, hết sức hoảng hốt, vì ông đã nghe đủ để tin chắc có chuyện khủng khiếp vừa xảy ra. Bà Mác-cơ sẵn sàng thề rằng giáo sư vẫn còn mặc đồ ngủ, và thật ra ông không thể tự mặc quần áo nếu không có Moóc-ti-mơ giúp, mà Moóc-ti-mơ được dặn mười hai giờ mới tới. Giáo sư khẳng định ông có nghe tiếng kêu ở xa, nhưng không biết gì hơn. Ông không giải thích được những lời cuối cùng của chàng trai: Thưa giáo sư, chính là bà ta, chỉ đoán đó là lời mê sảng. Ông tin rằng Uy-lâu-bi Xmít không có kẻ thù nào trên đời, và không đưa ra được lý do nào cho tội ác. Việc đầu tiên ông làm là sai Moóc-ti-mơ, người làm vườn, đi báo cảnh sát địa phương. Ít lâu sau, cảnh sát trưởng hạt cho gọi tôi. Trước khi tôi tới, không có gì bị xê dịch, và người ta đã ra lệnh nghiêm ngặt không ai được đi trên những lối đi dẫn vào nhà. Đó là một cơ hội tuyệt vời để đem lý thuyết của ông ra thực hành, ông Sơ-lốc Hôm ạ. Thật sự chẳng thiếu thứ gì.
— Chỉ thiếu ông Sơ-lốc Hôm, bạn tôi nói, với một nụ cười có phần cay đắng. Thôi được, kể tiếp đi. Anh đã làm được việc gì?
— Trước hết tôi xin ông xem qua bản sơ đồ phác này, ông Hôm, nó sẽ cho ông thấy đại khái vị trí phòng làm việc của giáo sư và các điểm khác nhau trong vụ án. Nó sẽ giúp ông theo dõi cuộc điều tra của tôi.
Anh mở tấm sơ đồ phác, đặt ngang lên đầu gối Hôm. Tôi đứng dậy, đứng sau lưng Hôm, nhìn qua vai anh. Trên sơ đồ có phòng làm việc nằm giữa hai hành lang: một hành lang dẫn ra cửa sau và lối đi trong vườn, hành lang kia dẫn tới phòng ngủ của giáo sư, cùng với cầu thang xuống từ tầng trên.
— Dĩ nhiên nó rất sơ sài, chỉ vẽ những điểm mà tôi thấy là cốt yếu. Những thứ khác lát nữa ông sẽ tự xem. Này nhé, trước hết, nếu cho rằng kẻ sát nhân đã vào nhà, thì hắn, hoặc mụ, vào bằng cách nào? Chắc chắn là theo lối đi trong vườn và cửa sau, từ đó có lối thẳng vào phòng làm việc. Bất cứ lối nào khác cũng sẽ cực kỳ phức tạp. Đường tẩu thoát cũng phải theo lối ấy, vì trong hai lối ra khác của căn phòng, một lối đã bị Xu-dân chặn khi cô chạy xuống cầu thang, còn lối kia dẫn thẳng tới phòng ngủ của giáo sư. Vì vậy tôi lập tức chú ý tới lối đi trong vườn, vốn ướt sũng vì cơn mưa mới đây, chắc chắn sẽ in lại bất cứ dấu chân nào.
Kết quả xem xét cho tôi thấy mình đang đối mặt với một tên tội phạm thận trọng và lão luyện. Trên lối đi không có dấu chân nào. Nhưng không thể nghi ngờ rằng có người đã đi dọc dải cỏ viền theo lối đi, và làm thế là để khỏi để lại dấu vết. Tôi không tìm thấy dấu in nào rõ ràng, nhưng cỏ đã bị giẫm rạp, chắc chắn có người đã đi qua. Đó chỉ có thể là kẻ sát nhân, vì cả người làm vườn lẫn ai khác đều không ra đó sáng hôm ấy, mà mưa chỉ mới bắt đầu từ đêm qua.
— Khoan một chút, Hôm nói. Lối đi này dẫn tới đâu?
— Ra đường cái.
— Dài bao nhiêu?
— Chừng trăm mét.
— Ở chỗ lối đi chạy qua cổng, chắc chắn anh phải tìm được dấu vết chứ?
— Không may, chỗ ấy lối đi lát gạch.
— Thế còn trên đường cái?
— Không được, chỗ ấy đã bị giẫm thành bùn hết.
— Chậc chậc! Thôi được, vậy những dấu vết trên cỏ ấy là đi vào hay đi ra?
— Không thể nói được. Chẳng có hình dạng gì rõ ràng.
— Chân to hay chân nhỏ?
— Không phân biệt được.
Hôm kêu lên một tiếng sốt ruột.
— Từ đó tới giờ trời mưa như trút và gió thổi như bão, anh nói. Bây giờ thì đọc nó còn khó hơn đọc tấm da cổ kia. Thôi được, thôi được, đành chịu vậy. Sau khi đã chắc chắn rằng mình chẳng chắc chắn được gì, anh đã làm gì, Hóp-kin?
— Tôi nghĩ tôi đã chắc chắn được khá nhiều điều, ông Hôm. Tôi biết đã có người thận trọng từ bên ngoài vào nhà. Tiếp theo tôi xem xét hành lang. Hành lang trải chiếu xơ dừa, không giữ lại dấu vết nào. Điều đó đưa tôi vào chính phòng làm việc. Đó là một căn phòng ít đồ đạc. Thứ chính là một chiếc bàn viết lớn có gắn liền một chiếc tủ nhỏ. Chiếc tủ này gồm hai dãy ngăn kéo, ở giữa là một ngăn tủ nhỏ có cửa. Các ngăn kéo để mở, ngăn tủ thì khoá. Hình như các ngăn kéo lúc nào cũng để mở, chẳng cất gì quý giá trong đó. Ngăn tủ có vài giấy tờ quan trọng, nhưng không có dấu hiệu bị động tới, và giáo sư cam đoan với tôi không mất gì. Chắc chắn không có trộm cắp gì cả.
Giờ tôi tới thi thể chàng trai. Nó được tìm thấy gần chiếc tủ, ngay bên trái, như đánh dấu trên sơ đồ. Vết đâm ở bên phải cổ, đâm từ sau ra trước, nên gần như không thể là tự đâm.
— Trừ phi cậu ta ngã vào con dao, Hôm nói.
— Đúng thế. Tôi cũng đã nghĩ tới. Nhưng chúng tôi tìm thấy con dao cách thi thể một quãng, nên điều đó có vẻ không thể. Rồi dĩ nhiên còn những lời trăng trối của chính cậu ta. Và cuối cùng, còn một chứng cứ rất quan trọng được tìm thấy nắm chặt trong bàn tay phải của người chết.
Xtan-li Hóp-kin rút trong túi ra một gói giấy nhỏ. Anh mở ra, để lộ một chiếc kính kẹp mũi gọng vàng, hai đầu sợi dây lụa đen đứt lủng lẳng ở một bên.
— Mắt Uy-lâu-bi Xmít rất tốt, anh nói thêm. Không thể nghi ngờ rằng cái này đã bị giật ra khỏi mặt hoặc người kẻ sát nhân.
Sơ-lốc Hôm cầm chiếc kính, xem xét với sự chú ý và hứng thú cao độ. Anh đeo nó lên mũi, cố đọc qua nó, tới bên cửa sổ nhìn ra phố bằng nó, xem xét nó hết sức tỉ mỉ dưới ánh sáng đầy đủ của ngọn đèn, và cuối cùng, cười khúc khích, anh ngồi xuống bàn viết vài dòng lên một tờ giấy, rồi ném sang cho Xtan-li Hóp-kin.
— Đó là điều tốt nhất tôi có thể làm cho anh, anh nói. Có thể nó sẽ có ích.
Viên thám tử kinh ngạc đọc to mẩu giấy. Nó viết:
Cần tìm một người đàn bà dáng vẻ sang trọng, ăn mặc như một quý bà. Bà ta có cái mũi bè to khác thường, hai mắt nằm sát hai bên sống mũi. Trán nhăn, vẻ mặt nheo nheo như người nhìn gần, và có lẽ vai tròn, hơi gù. Có dấu hiệu cho thấy trong mấy tháng qua bà ta đã tới tiệm kính ít nhất hai lần. Vì kính của bà ta có độ cận rất nặng, mà tiệm kính thì không nhiều, nên chắc chẳng khó gì lần ra bà ta.
Hôm mỉm cười trước vẻ kinh ngạc của Hóp-kin, hẳn cũng đang hiện trên nét mặt tôi.
— Chắc chắn những suy luận của tôi đơn giản thôi, anh nói. Khó mà kể ra được đồ vật nào cho ta một mảnh đất suy luận màu mỡ hơn một cặp kính, nhất là một cặp kính đáng chú ý như thế này. Tôi suy ra nó là của một người đàn bà nhờ vẻ thanh mảnh của nó, và dĩ nhiên cả nhờ những lời cuối cùng của người sắp chết. Còn việc bà ta là người tao nhã, ăn mặc đẹp, thì như các anh thấy, nó được làm rất đẹp bằng vàng nguyên chất, và không thể tưởng tượng được người đeo một cặp kính như thế lại luộm thuộm ở những mặt khác. Các anh sẽ thấy hai kẹp quá rộng so với mũi các anh, cho thấy mũi của quý bà kia rất bè ở phần chân. Loại mũi này thường ngắn và thô, nhưng có đủ trường hợp ngoại lệ khiến tôi không dám khẳng định cứng nhắc hay nhấn mạnh điểm này trong bản mô tả. Mặt tôi thuộc loại hẹp, vậy mà tôi thấy không sao đưa mắt mình vào chính giữa, hay gần chính giữa, hai mắt kính này. Vậy là hai mắt của quý bà kia nằm rất sát hai bên sống mũi. Oát-xơn, anh sẽ nhận thấy kính này là kính lõm, và độ rất nặng khác thường. Một người đàn bà mà suốt đời tầm nhìn bị thu hẹp cực độ như thế thì chắc chắn sẽ mang những đặc điểm hình thể của kiểu nhìn ấy, thể hiện ở trán, ở mí mắt và ở vai.
— Phải, tôi nói, tôi theo kịp từng lập luận của anh. Nhưng tôi thú thật là không hiểu sao anh lại đi tới chuyện hai lần tới tiệm kính.
Hôm cầm chiếc kính lên.
— Anh sẽ thấy, anh nói, hai cái kẹp có lót những miếng bần nhỏ xíu để đỡ đau mũi. Một miếng đã đổi màu và hơi mòn, còn miếng kia thì mới. Rõ ràng một miếng đã rơi ra và được thay. Tôi đoán miếng cũ hơn cũng chỉ mới được gắn vài tháng. Hai miếng giống hệt nhau, nên tôi đoán quý bà kia đã quay lại đúng tiệm cũ để thay miếng thứ hai.
— Trời ơi, thật tuyệt diệu! Hóp-kin kêu lên, ngưỡng mộ tột độ. Nghĩ mà xem, tôi có tất cả những chứng cứ ấy trong tay mà không hề biết! Nhưng tôi cũng đã định đi khắp các tiệm kính ở Luân Đôn.
— Dĩ nhiên rồi. Trong lúc chờ, anh còn gì kể thêm về vụ này không?
— Không còn gì, ông Hôm ạ. Tôi nghĩ giờ ông đã biết nhiều như tôi, có khi còn hơn. Chúng tôi đã cho hỏi xem có người lạ nào xuất hiện trên những con đường quê hay ở ga tàu không. Chẳng nghe nói gì cả. Điều làm tôi bó tay là tội ác này hoàn toàn chẳng có mục đích gì. Không ai nghĩ ra được dù chỉ một bóng dáng động cơ.
— À! Về chuyện đó thì tôi không giúp được anh. Nhưng tôi đoán anh muốn mai chúng tôi xuống đó?
— Nếu không phải là đòi hỏi quá nhiều, ông Hôm. Có một chuyến tàu từ Sa-rinh Crốt đi Chát-thơm lúc sáu giờ sáng, và chúng ta sẽ tới dinh cũ Dốc-xli trong khoảng tám, chín giờ.
— Vậy chúng ta sẽ đi chuyến ấy. Vụ của anh chắc chắn có vài nét rất thú vị, và tôi rất vui được xem xét nó. Chà, gần một giờ rồi, ta nên ngủ vài tiếng. Tôi dám chắc anh nằm tạm chiếc ghế tràng kỷ trước lò sưởi cũng được. Trước khi đi tôi sẽ thắp đèn cồn pha cho anh một tách cà phê.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám