Chương 1: Người đàn ông râu đen
Từ năm 1894 tới hết năm 1901, Sơ-lốc Hôm là một người rất bận rộn. Có thể nói chắc chắn rằng trong tám năm ấy, chẳng có vụ án công khai khó khăn nào mà người ta không hỏi ý anh, và còn hàng trăm vụ riêng tư, có những vụ rắc rối và phi thường nhất, mà anh đóng vai trò nổi bật. Nhiều thành công đáng kinh ngạc và vài thất bại không tránh khỏi là kết quả của quãng thời gian dài làm việc liên tục ấy. Vì tôi đã giữ những ghi chép rất đầy đủ về tất cả các vụ này, và chính tôi cũng tham gia trực tiếp vào nhiều vụ, nên có thể hình dung việc chọn ra vụ nào để đem ra trước công chúng chẳng phải chuyện dễ dàng. Tuy vậy, tôi sẽ giữ nguyên tắc cũ, ưu tiên những vụ mà cái hay không nằm ở sự tàn bạo của tội ác, mà ở sự tài tình và kịch tính của lời giải. Vì lý do ấy, giờ tôi xin kể với độc giả những sự việc liên quan tới cô Vai-ô-lét Xmít, cô gái đi xe đạp một mình ở Sác-linh-tơn, cùng phần tiếp theo kỳ lạ của cuộc điều tra, kết thúc bằng một tấn thảm kịch không ai ngờ. Đúng là hoàn cảnh không cho phép bạn tôi trổ hết những tài năng đã làm nên danh tiếng của anh, nhưng vụ án có vài điểm khiến nó nổi bật trong những hồ sơ tội phạm dài dằng dặc mà tôi lấy làm tư liệu cho những câu chuyện nhỏ này.
Xem lại sổ ghi chép năm 1895, tôi thấy chính vào thứ Bảy, ngày 23 tháng Tư, lần đầu tiên chúng tôi nghe nói tới cô Vai-ô-lét Xmít. Tôi nhớ cuộc viếng thăm của cô rất không được Hôm hoan nghênh, vì lúc ấy anh đang vùi đầu vào một bài toán hết sức khó hiểu và rắc rối, liên quan tới sự quấy nhiễu kỳ lạ mà ông Giôn Vin-xen Hác-đơn, nhà triệu phú thuốc lá nổi tiếng, đang phải chịu. Bạn tôi vốn yêu sự chính xác và tập trung tư tưởng hơn mọi thứ, nên bực bội trước bất cứ điều gì làm anh phân tâm khỏi việc đang làm. Thế nhưng, nếu không muốn tỏ ra khắc nghiệt, một điều xa lạ với bản tính của anh, thì không thể nào từ chối nghe câu chuyện của người phụ nữ trẻ đẹp, cao ráo, duyên dáng, dáng dấp như bà hoàng, đã tìm tới phố Bây-cơ vào lúc tối muộn, khẩn khoản xin anh giúp đỡ và cho lời khuyên. Bảo rằng thời gian của anh đã kín lịch cũng vô ích, vì cô gái đã tới với quyết tâm kể cho bằng được câu chuyện của mình, và rõ ràng chỉ có dùng sức mới đuổi được cô ra khỏi phòng trước khi cô kể xong. Với vẻ cam chịu và nụ cười có phần mệt mỏi, Hôm mời vị khách xinh đẹp không mời mà tới ngồi xuống, và kể cho chúng tôi nghe điều gì đang làm cô lo lắng.
— Ít ra thì không phải chuyện sức khoẻ, anh nói, đôi mắt sắc sảo lướt nhanh qua người cô. Một người đạp xe say mê như vậy hẳn phải tràn đầy sinh lực.
Cô ngạc nhiên cúi nhìn đôi chân mình, và tôi để ý thấy một bên đế giày hơi sờn nhám do cọ vào mép bàn đạp.
— Vâng, tôi đạp xe nhiều lắm, ông Hôm ạ, và điều đó cũng liên quan tới việc hôm nay tôi tới gặp ông.
Bạn tôi cầm bàn tay không đeo găng của cô gái, xem xét với sự chú ý tỉ mỉ và chẳng chút tình cảm, như một nhà khoa học xem một mẫu vật.
— Tôi chắc cô sẽ thứ lỗi cho tôi. Đó là nghề của tôi, anh nói khi buông tay cô ra. Tôi suýt mắc sai lầm khi đoán rằng cô làm nghề đánh máy. Dĩ nhiên rõ ràng là âm nhạc. Anh có để ý những đầu ngón tay bè ra không, Oát-xơn, điều thường thấy ở cả hai nghề? Nhưng gương mặt này lại có một nét thanh cao, anh nhẹ nhàng xoay mặt cô về phía ánh đèn, mà nghề đánh máy không tạo ra được. Cô đây là một nhạc sĩ.
— Vâng, ông Hôm, tôi dạy nhạc.
— Ở thôn quê, tôi đoán thế, nhìn nước da của cô.
— Vâng, thưa ông, gần Phác-nơm, ở vùng giáp ranh hạt Xa-ri.
— Một vùng đẹp, gắn với nhiều kỷ niệm thú vị nhất. Anh còn nhớ chứ, Oát-xơn, chính gần đó chúng ta đã bắt tên làm giả giấy tờ Ác-chi Xtam-phớt. Nào, cô Vai-ô-lét, chuyện gì đã xảy ra với cô, gần Phác-nơm, ở vùng giáp ranh hạt Xa-ri?
Cô gái trẻ kể câu chuyện lạ lùng sau đây, hết sức rõ ràng và điềm tĩnh.
— Cha tôi đã mất, thưa ông Hôm. Ông là Giêm Xmít, người chỉ huy dàn nhạc ở nhà hát Hoàng gia cũ. Mẹ tôi và tôi chẳng còn người thân nào trên đời, ngoài một người chú, ông Ran-phơ Xmít, đã sang châu Phi từ hai mươi lăm năm trước, và từ đó chúng tôi chưa bao giờ nhận được một lời nào của ông. Khi cha tôi mất, mẹ con tôi rất nghèo. Nhưng một hôm có người bảo chúng tôi rằng trên tờ “Thời báo” có đăng một mẩu tin tìm chỗ ở của chúng tôi. Ông có thể hình dung chúng tôi hồi hộp thế nào, vì chúng tôi tưởng có ai đó để lại gia tài cho mình. Chúng tôi tới ngay văn phòng luật sư có tên trên báo. Ở đó chúng tôi gặp hai quý ông, ông Ca-rơ-thơ và ông Út-li, đang từ Nam Phi về thăm quê. Họ nói chú tôi là bạn của họ, ông đã mất cách đây vài tháng trong cảnh rất nghèo khổ ở Giô-han-ne-xbớc, và trước khi trút hơi thở cuối cùng đã nhờ họ tìm họ hàng của ông, lo sao cho chúng tôi không thiếu thốn. Chúng tôi thấy lạ là chú Ran-phơ, khi còn sống chẳng đoái hoài gì tới chúng tôi, lúc chết lại lo lắng chu đáo cho chúng tôi như vậy. Nhưng ông Ca-rơ-thơ giải thích rằng chú tôi vừa nghe tin anh trai mình mất, nên cảm thấy có trách nhiệm với số phận của chúng tôi.
— Xin lỗi, Hôm nói. Cuộc gặp ấy vào lúc nào?
— Tháng Mười Hai năm ngoái, cách đây bốn tháng.
— Xin cô kể tiếp.
— Ông Út-li có vẻ là một người hết sức đáng ghét đối với tôi. Ông ta cứ liếc mắt đưa tình với tôi mãi, một gã thanh niên thô lỗ, mặt phị, ria đỏ, tóc chải bết dính xuống hai bên trán. Tôi thấy ông ta thật đáng ghét, và tôi chắc chắn Xi-rin sẽ không muốn tôi quen biết một người như thế.
— Ồ, tên anh ấy là Xi-rin! Hôm mỉm cười nói.
Cô gái đỏ mặt, bật cười.
— Vâng, ông Hôm, Xi-rin Moóc-tơn, một kỹ sư điện, và chúng tôi mong sẽ cưới nhau vào cuối mùa hè. Trời ơi, sao tôi lại nói sang chuyện anh ấy thế này? Điều tôi muốn nói là ông Út-li thật đáng ghét, còn ông Ca-rơ-thơ, người lớn tuổi hơn nhiều, thì dễ chịu hơn. Ông ấy da ngăm, vàng vọt, mặt cạo nhẵn, ít nói, nhưng cư xử lịch sự và có nụ cười dễ mến. Ông hỏi han hoàn cảnh của chúng tôi, và khi biết chúng tôi rất nghèo, ông đề nghị tôi tới dạy nhạc cho cô con gái duy nhất của ông, mười tuổi. Tôi nói tôi không muốn xa mẹ, thế là ông đề nghị cứ cuối tuần tôi về nhà với mẹ, và trả tôi một trăm bảng một năm, quả là một mức lương hậu hĩnh. Thế là cuối cùng tôi nhận lời, và tới trang trại Sin-tơn, cách Phác-nơm gần mười cây số. Ông Ca-rơ-thơ goá vợ, nhưng ông đã thuê một bà quản gia, một người lớn tuổi rất đáng kính tên là bà Đích-xơn, trông nom nhà cửa. Đứa trẻ rất đáng yêu, và mọi việc đều hứa hẹn tốt đẹp. Ông Ca-rơ-thơ rất tử tế và rất yêu âm nhạc, chúng tôi đã có những buổi tối thật vui vẻ bên nhau. Cuối tuần nào tôi cũng về với mẹ ở thành phố.
Vết gợn đầu tiên trong niềm hạnh phúc của tôi là sự xuất hiện của ông Út-li ria đỏ. Ông ta tới chơi một tuần, mà ôi, với tôi nó dài như ba tháng. Ông ta là một con người khủng khiếp, hống hách với mọi người, còn với tôi thì tệ hơn gấp bội. Ông ta tán tỉnh tôi một cách đáng ghê tởm, khoe khoang của cải, bảo nếu tôi lấy ông ta thì tôi sẽ có những viên kim cương đẹp nhất Luân Đôn. Rồi cuối cùng, khi tôi không thèm đoái hoài gì tới ông ta, một hôm sau bữa tối ông ta ôm chặt lấy tôi, ông ta khoẻ ghê gớm, và thề rằng sẽ không buông tôi ra cho tới khi tôi hôn ông ta. Ông Ca-rơ-thơ bước vào giằng ông ta ra khỏi tôi, thế là ông ta quay sang đánh chính chủ nhà, quật ngã ông ấy và làm rách mặt ông ấy. Ông có thể hình dung, đó là kết thúc chuyến thăm của ông ta. Hôm sau ông Ca-rơ-thơ xin lỗi tôi, và cam đoan rằng tôi sẽ không bao giờ phải chịu sự xúc phạm như vậy nữa. Từ đó tôi không gặp lại ông Út-li.
Và bây giờ, ông Hôm, cuối cùng tôi mới tới chuyện đặc biệt khiến hôm nay tôi phải tới xin ông lời khuyên. Ông phải biết rằng sáng thứ Bảy nào tôi cũng đạp xe ra ga Phác-nơm để đón chuyến tàu mười hai giờ hai mươi hai lên thành phố. Con đường từ trang trại Sin-tơn rất vắng vẻ, và có một đoạn đặc biệt vắng, vì nó chạy hơn một cây số rưỡi giữa một bên là bãi hoang Sác-linh-tơn và một bên là khu rừng bao quanh dinh Sác-linh-tơn. Ông chẳng tìm đâu ra một quãng đường vắng vẻ hơn, và rất hiếm khi gặp được dù chỉ một chiếc xe bò hay một người nông dân, cho tới khi ra tới đường cái gần đồi Crúc-xbơ-ri. Cách đây hai tuần, tôi đang đi qua chỗ ấy thì tình cờ ngoái lại, và thấy sau lưng tôi chừng hai trăm mét có một người đàn ông, cũng đi xe đạp. Hình như đó là một người đàn ông trung niên, râu đen ngắn. Tôi ngoái lại lần nữa trước khi tới Phác-nơm thì người ấy đã biến mất, nên tôi không nghĩ ngợi gì thêm. Nhưng ông có thể hình dung tôi ngạc nhiên thế nào, ông Hôm ạ, khi hôm thứ Hai trở về, tôi lại thấy đúng người ấy trên đúng đoạn đường ấy. Tôi càng sửng sốt hơn khi chuyện ấy lại xảy ra y hệt vào thứ Bảy và thứ Hai tuần sau. Người ấy lúc nào cũng giữ khoảng cách, không hề quấy rầy tôi chút nào, nhưng dù sao thì đó vẫn là chuyện rất kỳ lạ. Tôi kể với ông Ca-rơ-thơ. Ông có vẻ quan tâm tới điều tôi nói, và bảo tôi rằng ông đã đặt mua một con ngựa và một chiếc xe nhẹ, để sau này tôi không phải đi trên những con đường vắng ấy mà không có người đi cùng.
Ngựa và xe lẽ ra được giao trong tuần này, nhưng vì lý do nào đó vẫn chưa thấy, nên tôi lại phải đạp xe ra ga. Đó là sáng nay. Ông có thể nghĩ rằng khi tới bãi hoang Sác-linh-tơn tôi đã để ý nhìn, và quả nhiên người ấy lại ở đó, y như hai tuần trước. Người ấy lúc nào cũng giữ khoảng cách xa tới mức tôi không thấy rõ mặt, nhưng chắc chắn đó là người tôi không quen. Người ấy mặc một bộ đồ sẫm màu, đội mũ lưỡi trai bằng vải. Thứ duy nhất trên mặt người ấy tôi thấy rõ là bộ râu đen. Hôm nay tôi không sợ, nhưng tôi tò mò vô cùng, và quyết tìm cho ra người ấy là ai và muốn gì. Tôi đạp chậm lại, nhưng người ấy cũng chậm lại. Rồi tôi dừng hẳn, người ấy cũng dừng. Thế là tôi giăng bẫy. Có một khúc ngoặt gắt trên đường, tôi đạp thật nhanh vòng qua đó, rồi dừng lại chờ. Tôi đinh ninh người ấy sẽ lao vòng qua, và vượt qua tôi trước khi kịp dừng. Nhưng người ấy không hề xuất hiện. Rồi tôi quay lại nhìn qua khúc quanh. Tôi nhìn thấy cả một cây số rưỡi đường, nhưng người ấy không có trên đó. Điều càng lạ hơn là ở chỗ ấy chẳng có con đường nhánh nào để người ấy rẽ vào.
Hôm cười khúc khích, xoa tay.
— Vụ này chắc chắn có những nét rất riêng, anh nói. Từ lúc cô vòng qua khúc quanh tới lúc cô phát hiện đường vắng tanh là bao lâu?
— Hai hay ba phút.
— Vậy người ấy không thể lùi lại theo đường cũ, mà cô bảo không có đường nhánh nào?
— Không có.
— Vậy chắc chắn người ấy đã rẽ vào một lối mòn ở bên này hoặc bên kia.
— Không thể là bên phía bãi hoang được, nếu không thì tôi đã thấy.
— Vậy bằng cách loại trừ, ta đi tới sự thật là người ấy đã đi về phía dinh Sác-linh-tơn, mà theo tôi hiểu thì nằm trong khuôn viên riêng ở một bên đường. Còn gì nữa không?
— Không còn gì, ông Hôm ạ, ngoài việc tôi bối rối tới mức cảm thấy sẽ không yên lòng cho tới khi gặp được ông và nghe lời khuyên của ông.
Hôm ngồi im lặng một lúc.
— Người cô đã hứa hôn đang ở đâu? cuối cùng anh hỏi.
— Anh ấy làm ở Công ty Điện miền Trung, ở Cô-ven-tri.
— Anh ấy không thể bất ngờ tới thăm cô sao?
— Ồ, ông Hôm! Cứ như là tôi không nhận ra anh ấy vậy!
— Cô có người theo đuổi nào khác không?
— Có vài người, trước khi tôi quen Xi-rin.
— Còn sau đó?
— Có cái ông Út-li khủng khiếp ấy, nếu ông có thể gọi ông ta là người theo đuổi.
— Không còn ai khác?
Vị thân chủ xinh đẹp của chúng tôi có vẻ hơi bối rối.
— Người đó là ai? Hôm hỏi.
— Ồ, có thể chỉ là tôi tưởng tượng thôi. Nhưng đôi khi tôi có cảm giác ông chủ của tôi, ông Ca-rơ-thơ, rất quan tâm tới tôi. Chúng tôi khá hay ở bên nhau. Buổi tối tôi đệm đàn cho ông ấy. Ông ấy chưa bao giờ nói gì. Ông ấy là một quý ông hoàn hảo. Nhưng con gái thì bao giờ cũng biết.
— Ha! Hôm nghiêm mặt lại. Ông ta làm nghề gì?
— Ông ấy là người giàu có.
— Không có xe, không có ngựa?
— Chà, ít ra thì ông ấy cũng khá sung túc. Nhưng mỗi tuần ông ấy lên khu tài chính hai ba lần. Ông ấy rất quan tâm tới cổ phiếu mỏ vàng Nam Phi.
— Có diễn biến gì mới thì cô báo cho tôi nhé, cô Xmít. Hiện giờ tôi rất bận, nhưng tôi sẽ thu xếp thời gian tìm hiểu vụ của cô. Trong lúc chờ đợi, đừng làm gì mà không báo cho tôi biết. Chào cô, và tôi mong sẽ chỉ nhận được tin tốt lành từ cô.
— Một cô gái như thế mà có người theo đuổi thì cũng là lẽ tự nhiên của tạo hoá thôi, Hôm nói, rít tẩu suy tư. Có điều, nếu được chọn thì người ta chẳng theo bằng xe đạp trên những con đường quê vắng vẻ. Chắc chắn là một người tình thầm kín nào đó. Nhưng vụ này có những chi tiết lạ lùng và đáng suy nghĩ, Oát-xơn ạ.
— Chuyện người ấy chỉ xuất hiện ở đúng chỗ ấy?
— Đúng thế. Việc đầu tiên của chúng ta là tìm xem ai đang thuê dinh Sác-linh-tơn. Rồi nữa, mối quan hệ giữa Ca-rơ-thơ và Út-li là thế nào, khi họ có vẻ là hai hạng người khác hẳn nhau? Sao cả hai lại hăng hái đến thế trong việc tìm họ hàng của Ran-phơ Xmít? Thêm một điểm nữa. Đó là kiểu gia đình gì mà trả lương cho gia sư gấp đôi giá thị trường, nhưng lại không nuôi lấy một con ngựa, trong khi cách ga gần mười cây số? Lạ lắm, Oát-xơn, rất lạ!
— Anh sẽ xuống đó chứ?
— Không, anh bạn thân mến, anh sẽ xuống đó. Đây có thể chỉ là một mưu đồ vặt vãnh, và tôi không thể bỏ dở cuộc nghiên cứu quan trọng kia vì nó. Sáng thứ Hai anh tới Phác-nơm sớm, anh nấp gần bãi hoang Sác-linh-tơn, tự mình quan sát các sự việc, và hành động theo phán đoán của anh. Rồi sau khi hỏi han xem ai đang ở trong dinh, anh về báo lại cho tôi. Còn bây giờ, Oát-xơn, không nói thêm một lời nào về chuyện này nữa, cho tới khi ta có vài hòn đá kê chân vững chắc để hy vọng bước qua tới lời giải.
Chúng tôi đã biết từ cô gái rằng sáng thứ Hai cô sẽ về bằng chuyến tàu rời ga Oa-tơ-lu lúc chín giờ năm mươi, nên tôi đi sớm, đón chuyến chín giờ mười ba. Tới ga Phác-nơm, tôi chẳng khó khăn gì khi hỏi đường tới bãi hoang Sác-linh-tơn. Không thể nhầm được nơi xảy ra cuộc phiêu lưu của cô gái, vì con đường chạy giữa một bên là bãi hoang trống trải và một bên là hàng rào thuỷ tùng cổ thụ, bao quanh một khu vườn rộng điểm những cây cổ thụ tuyệt đẹp. Có một cổng chính bằng đá phủ địa y, trên đỉnh mỗi trụ cổng là những huy hiệu gia tộc đã mục nát. Nhưng ngoài lối xe đi chính giữa ấy, tôi để ý thấy có mấy chỗ hàng rào bị hở, có lối mòn đi xuyên qua. Từ đường không nhìn thấy ngôi nhà, nhưng mọi thứ xung quanh đều toát lên vẻ u ám, đổ nát.
Bãi hoang phủ đầy những đám kim tước đang nở hoa vàng rực, lấp lánh rực rỡ dưới nắng xuân trong trẻo. Tôi nấp sau một trong những bụi cây ấy, chọn chỗ có thể quan sát được cả cổng dinh lẫn một đoạn dài con đường hai phía. Lúc tôi rời đường thì nó vắng tanh, nhưng giờ tôi thấy một người đi xe đạp từ phía ngược với hướng tôi tới. Người ấy mặc bộ đồ sẫm màu, và tôi thấy người ấy có bộ râu đen. Tới cuối khuôn viên Sác-linh-tơn, người ấy nhảy xuống xe, dắt xe qua một chỗ hở trên hàng rào, rồi biến mất khỏi tầm mắt tôi.
Mười lăm phút trôi qua, rồi người đi xe đạp thứ hai xuất hiện. Lần này là cô gái từ ga đi về. Tôi thấy cô nhìn quanh khi tới hàng rào Sác-linh-tơn. Một lát sau người đàn ông ra khỏi chỗ nấp, nhảy lên xe đạp, rồi đi theo cô. Giữa cả vùng quê rộng lớn, chỉ có hai bóng người ấy đang chuyển động: cô gái duyên dáng ngồi thật thẳng trên xe, và gã đàn ông phía sau cúi rạp người trên ghi đông, từng cử động đều có vẻ lén lút kỳ lạ. Cô ngoái lại nhìn hắn, đạp chậm lại. Hắn cũng chậm lại. Cô dừng. Hắn lập tức dừng theo, giữ khoảng cách chừng hai trăm mét sau cô. Hành động tiếp theo của cô vừa bất ngờ vừa táo bạo. Cô bỗng quay ngoắt xe lại, lao thẳng về phía hắn. Nhưng hắn cũng nhanh chẳng kém, vội vàng quay xe bỏ chạy thục mạng. Lát sau cô quay lên đường, đầu ngẩng cao đầy kiêu hãnh, chẳng thèm để ý thêm tới kẻ hộ tống câm lặng kia nữa. Hắn cũng quay lại, vẫn giữ khoảng cách, cho tới khi khúc quanh của con đường che khuất cả hai khỏi tầm mắt tôi.
Tôi vẫn ở yên chỗ nấp, và thật may là tôi đã làm thế, vì lát sau gã đàn ông lại xuất hiện, thong thả đạp xe trở về. Hắn rẽ vào cổng dinh và xuống xe. Trong vài phút tôi thấy hắn đứng giữa hàng cây. Hai tay hắn giơ lên, có vẻ như đang chỉnh lại cà vạt. Rồi hắn lên xe, đạp dọc lối xe đi về phía ngôi nhà, xa dần khỏi tôi. Tôi chạy băng qua bãi hoang, nhìn qua hàng cây. Xa xa tôi thấp thoáng thấy toà nhà cũ màu xám với những ống khói kiểu Tu-đo lởm chởm, nhưng lối xe đi chạy xuyên qua một lùm cây rậm rạp, và tôi không thấy gã đàn ông của tôi nữa.
Dù sao tôi cũng thấy mình đã làm được một buổi sáng khá ra trò, và hăng hái đi bộ trở về Phác-nơm. Người môi giới nhà đất ở địa phương chẳng cho tôi biết gì về dinh Sác-linh-tơn, chỉ giới thiệu tôi tới một hãng nổi tiếng ở phố Pan Man. Trên đường về tôi ghé đó, và được người đại diện tiếp đón lịch sự. Không, tôi không thể thuê dinh Sác-linh-tơn cho mùa hè được. Tôi tới quá muộn. Nó đã được cho thuê cách đây chừng một tháng. Người thuê tên là ông Uy-li-am-xơn. Ông ta là một quý ông lớn tuổi đáng kính. Người môi giới lịch sự e rằng ông không thể nói thêm, vì công việc của khách hàng không phải là chuyện ông có thể đem ra bàn.
Sơ-lốc Hôm chăm chú lắng nghe bản báo cáo dài mà tối hôm ấy tôi trình bày với anh, nhưng nó không gợi ra được lời khen cộc lốc mà tôi mong đợi và hẳn sẽ rất trân trọng. Trái lại, gương mặt khắc khổ của anh còn nghiêm khắc hơn thường lệ khi anh nhận xét những gì tôi đã làm và chưa làm.
— Chỗ nấp của anh, Oát-xơn thân mến, rất sai lầm. Đáng lẽ anh phải nấp sau hàng rào, khi ấy anh đã nhìn tận mặt nhân vật thú vị này. Đằng này anh lại ở cách xa mấy trăm mét, nên anh còn cho tôi biết được ít hơn cả cô Xmít. Cô ấy nghĩ mình không quen người ấy, còn tôi thì tin chắc là cô ấy có quen. Nếu không thì sao hắn lại cuống cuồng không muốn cô tới đủ gần để nhìn rõ mặt hắn như thế? Anh tả hắn cúi rạp trên ghi đông. Lại là giấu mặt, anh thấy đấy. Anh thật sự đã làm hỏng việc một cách đáng kể. Hắn quay về nhà, anh muốn biết hắn là ai. Thế mà anh lại tới tìm một người môi giới nhà đất ở Luân Đôn!
— Vậy tôi phải làm gì? tôi kêu lên, có phần nóng nảy.
— Tới quán rượu gần nhất. Đó là trung tâm của mọi chuyện ngồi lê đôi mách ở thôn quê. Họ sẽ cho anh biết tên từng người, từ ông chủ tới con bé rửa bát. Uy-li-am-xơn ư? Cái tên ấy chẳng gợi cho tôi điều gì. Nếu ông ta lớn tuổi thì ông ta không phải tay đi xe đạp nhanh nhẹn đã phóng chạy trước cuộc rượt đuổi đầy sức trẻ của cô gái kia. Chuyến đi của anh đem lại cho chúng ta điều gì? Biết rằng câu chuyện của cô gái là thật. Tôi chưa bao giờ nghi ngờ điều đó. Biết rằng có mối liên hệ giữa người đi xe đạp và toà dinh. Tôi cũng chưa bao giờ nghi ngờ điều đó. Biết rằng toà dinh do Uy-li-am-xơn thuê. Biết thế thì ai khá hơn được? Thôi, thôi, anh bạn thân mến, đừng có ỉu xìu như thế. Từ giờ tới thứ Bảy tới ta chẳng làm được gì nhiều hơn, và trong lúc ấy có lẽ tôi sẽ tự mình đi hỏi han vài điều.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám