Chương 1: Người khách run rẩy lúc bình minh
Lật lại những ghi chép về hơn bảy mươi vụ án mà suốt tám năm qua tôi đã cùng bạn tôi là Sơ-lốc Hôm theo đuổi để nghiên cứu phương pháp của anh, tôi thấy có nhiều vụ bi thảm, vài vụ khôi hài, một số lớn chỉ đơn thuần là kỳ lạ, nhưng không vụ nào tầm thường. Bởi anh làm việc vì yêu nghề hơn là vì tiền bạc, nên anh từ chối dính líu tới bất kỳ cuộc điều tra nào không có điều gì khác thường, thậm chí kỳ quái. Thế nhưng trong tất cả những vụ muôn màu muôn vẻ ấy, tôi không nhớ có vụ nào có những nét lạ lùng hơn vụ liên quan tới dòng họ Roi-lốt ở Xtốc Mo-rân, một gia đình nổi tiếng ở hạt Xơ-ri. Những sự việc này xảy ra vào thời gian đầu tôi quen Hôm, khi hai chúng tôi còn độc thân, ở chung căn hộ trên phố Bây-cơ. Lẽ ra tôi đã có thể ghi lại chúng từ trước, nhưng hồi ấy tôi đã hứa giữ kín, và chỉ mới tháng trước tôi được giải khỏi lời hứa vì người phụ nữ mà tôi hứa với đã mất sớm. Có lẽ giờ để sự thật được phơi bày cũng là điều nên làm, vì tôi có lý do để biết rằng đang có nhiều lời đồn đại về cái chết của bác sĩ Grim-xbi Roi-lốt, khiến câu chuyện còn ghê rợn hơn cả sự thật.
Đó là đầu tháng tư năm 1883. Một buổi sáng tôi thức giấc và thấy Sơ-lốc Hôm đứng bên giường, quần áo chỉnh tề. Thường thì anh dậy muộn, mà đồng hồ trên lò sưởi mới chỉ bảy giờ mười lăm, nên tôi chớp mắt nhìn anh, hơi ngạc nhiên, và có lẽ cũng hơi bực mình một chút, vì tôi vốn là người có nếp sinh hoạt đều đặn.
— Rất tiếc phải đánh thức anh, Oát-xơn, anh nói, nhưng sáng nay ai cũng chung số phận. Bà Hớt-xơn bị đánh thức, bà ấy đánh thức tôi, còn tôi đánh thức anh.
— Có chuyện gì thế, cháy nhà à?
— Không, có thân chủ. Hình như có một cô gái trẻ vừa tới, bộ dạng rất hốt hoảng, nhất định đòi gặp tôi. Cô ấy đang ngồi chờ trong phòng khách. Mà khi các cô gái trẻ lang thang khắp thủ đô vào giờ này buổi sáng, lôi những người đang ngái ngủ ra khỏi giường, thì tôi đoán họ có chuyện gì gấp lắm cần nói. Nếu hoá ra đây là một vụ thú vị, chắc anh sẽ muốn theo dõi nó ngay từ đầu. Dù sao tôi cũng nghĩ nên gọi anh dậy để anh có cơ hội ấy.
— Anh bạn thân mến, có cho gì tôi cũng không bỏ lỡ.
Tôi không có niềm vui nào lớn hơn là được theo Hôm trong những cuộc điều tra nghề nghiệp của anh, được thán phục những suy luận nhanh như trực giác mà bao giờ cũng dựa trên nền tảng lô-gích, những suy luận anh dùng để gỡ rối những bài toán người ta mang tới. Tôi mặc vội quần áo, chỉ vài phút sau đã sẵn sàng cùng bạn tôi xuống phòng khách. Một người phụ nữ mặc đồ đen, mạng che mặt dày, nãy giờ ngồi bên cửa sổ, đứng dậy khi chúng tôi bước vào.
— Chào cô, Hôm vui vẻ nói. Tôi là Sơ-lốc Hôm. Đây là bạn thân và cũng là cộng sự của tôi, bác sĩ Oát-xơn. Trước mặt anh ấy cô cứ nói thoải mái như nói với tôi. A! Tôi mừng là bà Hớt-xơn đã khôn ngoan nhóm lửa. Mời cô ngồi lại gần lò sưởi, tôi sẽ bảo người mang cho cô một tách cà phê nóng, vì tôi thấy cô đang run.
— Không phải vì lạnh mà tôi run, người phụ nữ khẽ nói, đổi chỗ ngồi theo lời anh.
— Vậy thì vì sao?
— Vì sợ, thưa ông Hôm. Vì kinh hãi.
Vừa nói cô vừa vén mạng che mặt lên, và chúng tôi thấy cô quả thật đang hoảng loạn đến tội nghiệp. Mặt cô hốc hác, xám ngoét, đôi mắt sợ hãi đảo quanh không yên như mắt một con thú bị săn đuổi. Nét mặt và vóc dáng cô là của một người phụ nữ ba mươi tuổi, nhưng tóc đã điểm bạc sớm, vẻ mặt mệt mỏi, phờ phạc. Sơ-lốc Hôm lướt nhìn cô bằng một trong những cái nhìn nhanh mà bao quát tất cả của anh.
— Cô đừng sợ, anh nói, giọng dỗ dành, cúi người về phía trước vỗ nhẹ lên cánh tay cô. Tôi tin là chúng tôi sẽ sớm thu xếp ổn thoả mọi chuyện. Tôi thấy sáng nay cô đi tàu hoả tới đây.
— Ông biết tôi à?
— Không, nhưng tôi thấy nửa sau của tấm vé khứ hồi trong lòng bàn tay chiếc găng trái của cô. Hẳn cô đã đi từ rất sớm, và trước khi tới ga, cô đã đi một quãng khá dài trên một cỗ xe hai bánh, qua những con đường lầy lội.
Người phụ nữ giật nảy mình, sững sờ nhìn bạn tôi.
— Chẳng có gì bí ẩn đâu, thưa cô, anh mỉm cười nói. Tay áo bên trái của cô bị bùn bắn vào không dưới bảy chỗ. Vết bùn còn mới nguyên. Chẳng có loại xe nào hất bùn lên như thế, ngoài loại xe hai bánh nhỏ, và chỉ khi cô ngồi bên trái người đánh xe.
— Dù ông dựa vào lý lẽ gì thì ông cũng hoàn toàn đúng, cô nói. Tôi rời nhà trước sáu giờ, tới Lê-đơ-hét lúc sáu giờ hai mươi, rồi đi chuyến tàu đầu tiên tới ga Oa-tơ-lu. Thưa ông, tôi không chịu đựng nổi sự căng thẳng này nữa. Cứ thế này thì tôi phát điên mất. Tôi chẳng có ai để nương tựa, không một ai, ngoài một người thương tôi, mà anh ấy, tội nghiệp, cũng chẳng giúp gì được nhiều. Tôi đã nghe nói về ông, thưa ông Hôm. Tôi nghe bà Pha-rin-tốt kể, bà ấy từng được ông giúp lúc cùng quẫn. Chính bà ấy cho tôi địa chỉ của ông. Ôi, thưa ông, ông có nghĩ là ông cũng giúp được tôi, ít ra là rọi một chút ánh sáng vào bóng tối dày đặc đang vây quanh tôi không? Hiện giờ tôi chưa có cách nào trả công cho ông, nhưng trong vòng một tháng hay sáu tuần nữa tôi sẽ lấy chồng, sẽ được tự quản lý số tiền của mình, và lúc ấy ít ra ông sẽ thấy tôi không phải người vô ơn.
Hôm quay sang bàn giấy, mở khoá, lấy ra một cuốn sổ ghi chép các vụ án nhỏ, giở ra xem.
— Pha-rin-tốt, anh nói. À phải, tôi nhớ vụ ấy, nó liên quan tới một chiếc vương miện nạm ngọc mắt mèo. Hình như vụ ấy xảy ra trước khi anh tới đây, Oát-xơn. Tôi chỉ có thể nói, thưa cô, rằng tôi sẽ vui lòng dành cho vụ của cô sự chăm chút như tôi đã dành cho bạn cô. Còn về công xá, nghề của tôi tự nó đã là phần thưởng. Nhưng cô có thể hoàn lại những chi phí tôi phải bỏ ra, vào lúc nào thuận tiện nhất cho cô. Bây giờ xin cô kể cho chúng tôi nghe mọi điều có thể giúp chúng tôi hình thành ý kiến về vụ việc.
— Than ôi! người khách của chúng tôi đáp. Cái kinh khủng nhất trong hoàn cảnh của tôi chính là nỗi sợ của tôi quá mơ hồ, mối ngờ vực của tôi lại hoàn toàn dựa vào những điểm nhỏ nhặt mà người khác có thể coi là vặt vãnh. Đến nỗi ngay cả người mà hơn ai hết tôi có quyền trông vào để được giúp đỡ, khuyên bảo, cũng coi mọi điều tôi kể chỉ là những tưởng tượng của một người đàn bà yếu thần kinh. Anh ấy không nói ra, nhưng tôi đọc được điều đó qua những lời an ủi và ánh mắt lảng đi của anh ấy. Nhưng tôi nghe nói, thưa ông Hôm, rằng ông nhìn thấu được muôn vàn điều độc ác trong lòng người. Ông có thể khuyên tôi phải đi thế nào giữa những hiểm nguy đang vây bủa quanh mình.
— Tôi đang chăm chú nghe đây, thưa cô.
— Tôi tên là Hê-len Xtô-nơ. Tôi sống với cha dượng, người cuối cùng còn sống của một trong những dòng họ Xắc-xông lâu đời nhất nước Anh, dòng họ Roi-lốt ở Xtốc Mo-rân, ở rìa phía tây hạt Xơ-ri.
Hôm gật đầu.
— Tôi có biết cái tên ấy, anh nói.
— Dòng họ này đã có thời thuộc hàng giàu nhất nước Anh, đất đai vượt khỏi ranh giới hạt, lan sang tới hạt Béc-sơ ở phía bắc và hạt Hem-sơ ở phía tây. Nhưng ở thế kỷ trước, bốn đời thừa kế liên tiếp đều ăn chơi phung phí, và gia đình bị khánh kiệt hẳn dưới tay một tay cờ bạc hồi đầu thế kỷ này. Chẳng còn gì ngoài vài mẫu đất và ngôi nhà hai trăm năm tuổi, mà chính ngôi nhà cũng đang bị đè bẹp bởi một khoản thế chấp nặng nề. Ông chủ đất đời cuối lay lắt sống ở đó, cái kiếp sống khủng khiếp của một kẻ quý tộc nghèo kiết xác. Nhưng đứa con trai duy nhất của ông, tức cha dượng tôi, thấy mình phải thích nghi với hoàn cảnh mới, nên vay một người họ hàng một khoản tiền để học lấy bằng bác sĩ, rồi sang Can-cút-ta bên Ấn Độ. Ở đó, nhờ tay nghề và cá tính mạnh mẽ, ông gây dựng được một phòng khám lớn. Nhưng trong một cơn giận vì nhà bị trộm mấy lần, ông đã đánh chết người quản gia bản xứ, và chỉ suýt soát thoát án tử hình. Dù vậy ông vẫn phải ngồi tù rất lâu, rồi trở về nước Anh, thành một con người cau có và chán chường.
Hồi ở Ấn Độ, bác sĩ Roi-lốt đã cưới mẹ tôi, bà Xtô-nơ, goá phụ trẻ của thiếu tướng Xtô-nơ thuộc đội pháo binh Ben-gan. Chị Giu-li-a tôi với tôi là hai chị em sinh đôi, lúc mẹ tôi tái giá chúng tôi mới hai tuổi. Mẹ tôi có một số tiền khá lớn, không dưới một nghìn bảng mỗi năm. Bà để lại toàn bộ số tiền ấy cho bác sĩ Roi-lốt chừng nào chúng tôi còn sống với ông, kèm điều kiện rằng nếu chúng tôi lấy chồng thì mỗi người được hưởng một khoản nhất định hằng năm. Ít lâu sau khi chúng tôi về nước Anh thì mẹ tôi mất. Bà chết cách đây tám năm trong một tai nạn xe lửa gần Cru. Bác sĩ Roi-lốt bèn bỏ ý định mở phòng khám ở Luân Đôn, đưa chúng tôi về sống với ông trong ngôi nhà tổ tiên ở Xtốc Mo-rân. Số tiền mẹ tôi để lại đủ cho mọi nhu cầu của chúng tôi, và dường như chẳng có gì ngăn trở hạnh phúc của chúng tôi cả.
Nhưng cũng vào thời gian ấy, cha dượng tôi thay đổi một cách khủng khiếp. Hàng xóm láng giềng thoạt đầu rất mừng khi thấy một người họ Roi-lốt ở Xtốc Mo-rân trở về ngôi nhà cũ của dòng họ. Nhưng thay vì kết bạn, qua lại thăm hỏi họ, ông lại đóng cửa ở lì trong nhà, hiếm khi ra ngoài, mà hễ ra là gây gổ dữ dội với bất cứ ai chạm mặt. Những người đàn ông trong dòng họ này vốn di truyền tính khí nóng nảy gần như điên loạn, và tôi tin rằng với cha dượng tôi, tính ấy càng nặng thêm vì những năm dài sống ở xứ nhiệt đới. Hết vụ ẩu đả đáng hổ thẹn này tới vụ khác, hai vụ phải đưa ra toà vi cảnh, cho tới khi ông trở thành nỗi khiếp sợ của cả làng. Người ta thấy ông tới là chạy, vì ông khoẻ khủng khiếp, mà đã nổi giận thì không ai cản nổi.
Tuần trước ông quăng bác thợ rèn trong làng qua lan can cầu xuống suối. Tôi phải đưa hết số tiền gom góp được mới tránh được một vụ bêu riếu nữa. Ông chẳng có bạn bè gì ngoài những người Di-gan lang thang. Ông cho những kẻ du mục ấy cắm trại trên mấy mẫu đất đầy gai góc, tất cả những gì còn lại của gia sản dòng họ, và đổi lại, ông tới lều của họ để được họ tiếp đãi, có khi đi lang thang với họ hàng mấy tuần liền. Ông còn mê những con vật xứ Ấn Độ, do một người quen bên ấy gửi sang. Hiện giờ ông có một con báo săn và một con khỉ đầu chó, chúng được thả rông khắp khu vườn, và dân làng sợ chúng gần như sợ chủ của chúng vậy.
Qua những gì tôi kể, ông có thể hình dung đời sống của chị Giu-li-a tội nghiệp và của tôi chẳng có mấy niềm vui. Không người làm nào chịu ở với chúng tôi, nên suốt một thời gian dài chúng tôi phải tự làm hết việc nhà. Lúc mất chị tôi mới ba mươi tuổi, vậy mà tóc đã bắt đầu bạc, cũng như tóc tôi bây giờ.
— Vậy là chị cô đã mất?
— Chị mất cách đây đúng hai năm, và chính về cái chết của chị mà tôi muốn nói với ông. Ông có thể hiểu rằng, sống cuộc sống như tôi vừa kể, chúng tôi chẳng mấy khi gặp được ai cùng tuổi, cùng cảnh ngộ. Nhưng chúng tôi có một người dì, em gái chưa chồng của mẹ tôi, cô Hô-nô-ri-a Oét-xphên, sống gần Ha-râu, và thỉnh thoảng chúng tôi được phép tới thăm bà ít ngày. Lễ Giáng sinh hai năm trước, chị Giu-li-a tới đó, gặp một thiếu tá thuỷ quân lục chiến đang hưởng nửa lương, và hai người đính hôn. Khi chị tôi về, cha dượng tôi biết chuyện đính hôn và không phản đối gì. Nhưng chưa đầy hai tuần trước ngày cưới đã định thì xảy ra cái sự việc khủng khiếp đã cướp mất người bạn đồng hành duy nhất của tôi.
Sơ-lốc Hôm nãy giờ vẫn ngả người trong ghế, mắt nhắm, đầu tựa vào gối. Nhưng lúc này anh hé mắt, liếc nhìn sang người khách.
— Xin cô kể chính xác từng chi tiết, anh nói.
— Việc ấy với tôi dễ thôi, vì mọi sự việc trong thời gian khủng khiếp ấy đã khắc sâu vào trí nhớ tôi. Như tôi đã nói, ngôi nhà rất cũ, và giờ chỉ còn một chái là có người ở. Các phòng ngủ trong chái này đều ở tầng trệt, còn các phòng khách nằm ở khối nhà chính giữa. Trong mấy phòng ngủ ấy, phòng thứ nhất là của bác sĩ Roi-lốt, phòng thứ hai của chị tôi, phòng thứ ba của tôi. Giữa các phòng không có cửa thông nhau, nhưng tất cả đều mở ra cùng một hành lang. Tôi nói vậy có rõ không ạ?
— Rất rõ.
— Cửa sổ của ba phòng đều nhìn ra bãi cỏ. Cái đêm định mệnh ấy, bác sĩ Roi-lốt về phòng từ sớm, nhưng chúng tôi biết ông chưa đi ngủ, vì chị tôi bị khó chịu bởi mùi xì gà Ấn Độ rất nặng mà ông vẫn quen hút. Vì thế chị rời phòng mình sang phòng tôi, ngồi chơi một lúc, nói chuyện về đám cưới sắp tới. Mười một giờ chị đứng dậy ra về, nhưng tới cửa chị dừng lại, ngoái nhìn tôi.
"Này Hê-len," chị nói, "em có bao giờ nghe ai huýt sáo giữa đêm khuya không?"
"Chưa bao giờ," tôi đáp.
"Chị đoán là em không thể tự huýt sáo trong lúc ngủ chứ?"
"Dĩ nhiên là không. Nhưng sao chị hỏi thế?"
"Vì mấy đêm gần đây, cứ khoảng ba giờ sáng, chị lại nghe một tiếng huýt sáo khe khẽ mà rõ ràng. Chị ngủ không say, nên tiếng ấy làm chị thức giấc. Chị không biết nó từ đâu tới, có thể từ phòng bên, có thể từ bãi cỏ. Chị nghĩ cứ hỏi em xem em có nghe thấy không."
"Không, em không nghe thấy. Chắc là mấy người Di-gan đáng ghét ngoài vườn cây."
"Có lẽ thế. Nhưng nếu tiếng ấy ở ngoài bãi cỏ thì chị lấy làm lạ sao em lại không nghe thấy."
"À, nhưng em ngủ say hơn chị mà."
"Thôi, dù sao cũng chẳng quan trọng gì."
Chị mỉm cười với tôi, đóng cửa phòng tôi lại, và lát sau tôi nghe tiếng chìa khoá chị vặn trong ổ khoá.
— Thế à, Hôm nói. Ban đêm các cô vẫn luôn khoá cửa phòng à?
— Luôn luôn.
— Tại sao?
— Tôi nghĩ tôi đã nói với ông rằng bác sĩ nuôi một con báo săn và một con khỉ đầu chó. Không khoá cửa thì chúng tôi chẳng thấy yên tâm chút nào.
— Phải rồi. Xin cô kể tiếp.
— Đêm ấy tôi không ngủ được. Một linh cảm mơ hồ về một tai hoạ sắp xảy ra cứ đè nặng lên tôi. Ông nhớ cho, chị em tôi là sinh đôi, mà ông biết đấy, những sợi dây ràng buộc hai tâm hồn gần gũi đến thế tinh tế biết chừng nào. Đó là một đêm giông bão. Gió hú bên ngoài, mưa quất ràn rạt vào cửa kính. Bỗng giữa tiếng ồn ào của cơn bão, vang lên tiếng thét kinh hoàng của một người đàn bà đang khiếp sợ. Tôi biết đó là tiếng chị tôi. Tôi nhảy khỏi giường, quấn khăn choàng quanh người rồi lao ra hành lang. Lúc mở cửa, tôi dường như nghe thấy một tiếng huýt sáo khe khẽ, đúng như chị tôi tả, rồi lát sau là một tiếng loảng xoảng, như có một khối kim loại rơi xuống. Khi tôi chạy dọc hành lang thì cửa phòng chị tôi đã mở khoá, đang từ từ xoay trên bản lề. Tôi kinh hãi nhìn trân trân, không biết cái gì sắp từ trong đó hiện ra. Dưới ánh đèn hành lang, tôi thấy chị tôi xuất hiện ở khung cửa, mặt trắng bệch vì khiếp sợ, hai tay quờ quạng tìm chỗ bám, cả người lảo đảo như kẻ say rượu. Tôi chạy tới ôm lấy chị, nhưng đúng lúc ấy đầu gối chị dường như khuỵu xuống, và chị ngã vật ra đất. Chị quằn quại như người đang đau đớn khủng khiếp, chân tay co giật dữ dội. Lúc đầu tôi tưởng chị không nhận ra tôi. Nhưng khi tôi cúi xuống, chị bỗng thét lên bằng một giọng mà tôi không bao giờ quên được: "Ôi Chúa ơi! Hê-len! Là cái dải băng! Cái dải băng lốm đốm!" Chị còn muốn nói điều gì nữa, ngón tay chị chọc vào không khí, chỉ về phía phòng bác sĩ, nhưng một cơn co giật mới ập tới làm chị nghẹn lời. Tôi chạy ra, gọi to cha dượng, và gặp ông đang mặc áo ngủ vội vã từ phòng mình đi ra. Khi ông tới bên chị tôi thì chị đã bất tỉnh. Ông đổ rượu bran-đi vào miệng chị, cho người vào làng mời thầy thuốc, nhưng mọi cố gắng đều vô ích. Chị lịm dần rồi chết mà không hề tỉnh lại. Đó là cái kết khủng khiếp của người chị yêu quý của tôi.
— Khoan đã, Hôm nói. Cô có chắc về tiếng huýt sáo và tiếng kim loại ấy không? Cô có dám thề không?
— Đó cũng là điều viên quan khám nghiệm tử thi của hạt hỏi tôi trong cuộc thẩm tra. Tôi có ấn tượng rất rõ là mình đã nghe thấy. Nhưng giữa tiếng bão gào và tiếng răng rắc của một ngôi nhà cũ, có thể tôi đã nhầm.
— Chị cô có mặc quần áo không?
— Không, chị mặc áo ngủ. Trong bàn tay phải chị người ta tìm thấy mẩu que diêm đã cháy, còn trong tay trái là một bao diêm.
— Chứng tỏ khi có chuyện, chị cô đã quẹt diêm nhìn quanh. Điểm này quan trọng đấy. Thế viên quan khám nghiệm đã đi tới kết luận gì?
— Ông ấy điều tra rất kỹ, vì hành vi của bác sĩ Roi-lốt đã tai tiếng khắp hạt từ lâu, nhưng ông ấy không tìm ra nguyên nhân cái chết nào thoả đáng. Lời khai của tôi cho thấy cửa đã cài then từ bên trong, còn cửa sổ thì có những tấm cửa chớp kiểu cũ với những thanh sắt to bản chắn ngang, đêm nào cũng được cài chặt. Người ta đã gõ thử tường rất cẩn thận, thấy chắc chắn ở mọi phía, sàn nhà cũng được xem xét kỹ lưỡng, kết quả cũng vậy. Ống khói thì rộng, nhưng bị chắn bởi bốn chốt sắt lớn. Vậy chắc chắn là lúc chị tôi gặp nạn, chị chỉ có một mình. Vả lại trên người chị không có dấu vết bạo lực nào.
— Thế còn thuốc độc?
— Các bác sĩ đã khám xét xem có không, nhưng không thấy gì.
— Vậy cô nghĩ người phụ nữ bất hạnh ấy chết vì cái gì?
— Tôi tin là chị chết hoàn toàn vì sợ hãi và sốc thần kinh, dù tôi không thể hình dung cái gì đã làm chị sợ đến thế.
— Hồi ấy ngoài vườn cây có người Di-gan không?
— Có, ở đó gần như lúc nào cũng có vài người.
— À, thế cô hiểu thế nào về lời nhắc tới cái dải băng, cái dải băng lốm đốm?
— Có lúc tôi nghĩ đó chỉ là lời mê sảng, có lúc tôi nghĩ có thể chị muốn nói tới một băng người nào đó, có lẽ chính đám người Di-gan ngoài vườn cây. Tôi không biết có phải những chiếc khăn lốm đốm mà nhiều người trong bọn họ quấn trên đầu đã gợi cho chị chữ lốm đốm kỳ lạ ấy không.
Hôm lắc đầu như người còn lâu mới thoả mãn.
— Chuyện này sâu xa lắm, anh nói. Xin cô kể tiếp.
— Từ đó tới nay đã hai năm, và cho tới gần đây đời tôi càng cô quạnh hơn bao giờ hết. Nhưng một tháng trước, một người bạn thân mà tôi quen đã nhiều năm đã cho tôi vinh dự được anh ấy cầu hôn. Anh ấy tên là Ác-mi-ti, Pớc-xi Ác-mi-ti, con trai thứ của ông Ác-mi-ti ở Crên Oa-tơ, gần Rét-đinh. Cha dượng tôi không phản đối cuộc hôn nhân này, và chúng tôi sẽ cưới vào mùa xuân này. Hai hôm trước, người ta bắt đầu sửa chữa chái phía tây của ngôi nhà, tường phòng ngủ của tôi bị đục thủng, nên tôi phải dọn sang căn phòng chị tôi đã chết, ngủ trên chính chiếc giường chị từng ngủ. Vậy ông hãy hình dung tôi khiếp sợ đến thế nào khi đêm qua, đang nằm thao thức nghĩ tới số phận khủng khiếp của chị, tôi bỗng nghe trong đêm khuya tĩnh mịch tiếng huýt sáo khe khẽ từng báo trước cái chết của chị. Tôi bật dậy thắp đèn, nhưng trong phòng chẳng thấy gì. Tuy vậy tôi run quá không dám nằm lại, nên mặc quần áo, và trời vừa hửng sáng là lẻn xuống nhà, thuê một cỗ xe hai bánh ở quán trọ Vương Miện ngay trước cửa, đi tới Lê-đơ-hét, rồi từ đó tới đây sáng nay, chỉ với một mục đích là gặp ông và xin ông chỉ bảo.
— Cô làm thế là khôn ngoan, bạn tôi nói. Nhưng cô đã kể hết với tôi chưa?
— Rồi, hết cả rồi.
— Cô Xtô-nơ, cô chưa kể hết. Cô đang che chở cho cha dượng của cô.
— Ơ, ông nói thế nghĩa là sao?
Thay cho câu trả lời, Hôm vén diềm đăng-ten đen viền quanh bàn tay người khách đang đặt trên đầu gối. Trên cổ tay trắng hằn rõ năm vết bầm tím nhỏ, dấu của bốn ngón tay và một ngón cái.
— Cô đã bị đối xử tàn nhẫn, Hôm nói.
Người phụ nữ đỏ bừng mặt, kéo tay áo che cổ tay bị thương.
— Ông ấy là người thô bạo, cô nói, và có lẽ ông ấy cũng không biết mình mạnh tới mức nào.
Một hồi im lặng kéo dài. Hôm chống cằm lên hai tay, nhìn chằm chằm vào ngọn lửa đang reo tí tách.
— Đây là một vụ rất sâu xa, cuối cùng anh nói. Có hàng nghìn chi tiết tôi muốn biết trước khi quyết định cách hành động. Thế nhưng chúng ta không còn một phút nào để mất. Nếu hôm nay chúng tôi tới Xtốc Mo-rân, liệu có thể xem những căn phòng ấy mà cha dượng cô không biết không?
— Thật may, ông ấy có nói hôm nay sẽ lên thành phố lo một việc rất quan trọng. Có lẽ ông ấy sẽ đi vắng cả ngày, và sẽ chẳng có gì làm phiền các ông. Bây giờ chúng tôi có một bà quản gia, nhưng bà ấy già và lẩm cẩm, tôi dễ dàng tìm cách cho bà ấy đi chỗ khác.
— Tuyệt lắm. Anh không ngại chuyến đi này chứ, Oát-xơn?
— Chẳng ngại chút nào.
— Vậy thì cả hai chúng tôi sẽ tới. Còn cô định làm gì?
— Tôi có một hai việc muốn làm nhân lúc đang ở thành phố. Nhưng tôi sẽ về bằng chuyến tàu mười hai giờ để kịp có mặt khi các ông tới.
— Cô cứ chờ chúng tôi vào đầu giờ chiều. Chính tôi cũng có vài việc nhỏ phải lo. Cô không ở lại dùng điểm tâm sao?
— Không, tôi phải đi. Từ lúc kể nỗi lo của mình với ông, lòng tôi đã nhẹ đi nhiều. Tôi mong chiều nay được gặp lại ông.
Cô buông tấm mạng đen dày xuống che mặt, rồi lặng lẽ lướt ra khỏi phòng.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám