Truyện Đỉnh

🔍 Truyện trinh thám

Ngôi nhà bên kia cánh đồng

Sơ-lốc Hôm: Gương mặt vàng · Chương 1/2 · của Arthur Conan Doyle

⏱ 25 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 23.691 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Khi cho in những ghi chép ngắn này, dựa…
  2. 3:27Này nhé, tôi đoán giá gốc cái tẩu này…
  3. 6:22Tôi muốn xin lời khuyên của ông. Tôi không…
  4. 9:14Tôi sẽ kể ông nghe những gì tôi biết…
  5. 11:58Thế là tôi đành bằng lòng như vậy, dù…
  6. 17:09Em đã đi đâu? tôi hỏi, giọng nghiêm khắc…
  7. 20:05Rồi khi tôi tiến lại gần cửa, cô ấy…
  8. 23:17Tầng dưới hoàn toàn yên ắng, tĩnh lặng. Trong…

Chương 1: Ngôi nhà bên kia cánh đồng

Khi cho in những ghi chép ngắn này, dựa trên vô số vụ án mà tài năng đặc biệt của bạn tôi đã đưa chúng tôi từ chỗ làm người nghe tới chỗ trở thành người trong cuộc của những tấn kịch kỳ lạ, lẽ tự nhiên là tôi hay kể về những lần anh thành công hơn là những lần anh thất bại. Không hẳn vì danh tiếng của anh, bởi thật ra chính những lúc anh cùng đường bí lối, nghị lực và sự linh hoạt của anh mới đáng khâm phục nhất. Mà là vì chỗ anh thất bại thì quá thường xuyên cũng chẳng ai khác thành công, và câu chuyện mãi mãi không có hồi kết. Tuy vậy, thỉnh thoảng cũng có lần anh nhầm mà sự thật vẫn được phơi bày. Tôi có ghi lại chừng sáu vụ như thế, trong đó vụ Vết ố thứ hai và vụ tôi sắp kể đây là hai vụ có nhiều nét thú vị nhất.

Sơ-lốc Hôm là người ít khi tập luyện chỉ vì muốn tập luyện. Hiếm ai có sức lực cơ bắp hơn anh, và chắc chắn anh là một trong những tay đấm bốc cừ nhất ở hạng cân của mình mà tôi từng thấy. Nhưng anh coi việc vận động không mục đích là phí sức, và ít khi chịu nhúc nhích trừ khi có việc nghề nghiệp cần làm. Những lúc ấy thì anh hoàn toàn không biết mệt, không biết mỏi. Việc anh vẫn giữ được thể lực trong hoàn cảnh ấy thật đáng ngạc nhiên, nhưng anh thường ăn uống rất đạm bạc, nếp sống giản dị tới mức khắc khổ. Ngoài chuyện thỉnh thoảng dùng cô-ca-in, anh chẳng có thói xấu nào, và anh chỉ tìm tới thứ thuốc ấy như một cách phản kháng sự đơn điệu của cuộc sống, khi vụ án khan hiếm và báo chí nhạt nhẽo.

Một ngày đầu xuân, anh thư thả đến mức chịu cùng tôi đi dạo trong công viên. Những mầm xanh đầu tiên lấm tấm nhú ra trên cành du, và những búp dẻ nhọn nhựa dính vừa bắt đầu bung thành những tán lá năm cánh. Hai chúng tôi lang thang bên nhau suốt hai tiếng, phần lớn chẳng nói gì, đúng như hai người đàn ông đã hiểu nhau thân thiết. Gần năm giờ chúng tôi mới về tới phố Bây-cơ.

— Xin lỗi ông, cậu bé hầu phòng nói khi mở cửa. Có một ông đến hỏi ông đấy ạ.

Hôm nhìn tôi trách móc.

— Đi dạo buổi chiều đấy nhé! anh nói. Vậy ông ấy đi rồi à?

— Vâng ạ.

— Cháu không mời ông ấy vào sao?

— Có ạ, ông ấy có vào.

— Ông ấy đợi bao lâu?

— Nửa tiếng ạ. Ông ấy bồn chồn lắm, lúc nào cũng đi tới đi lui, dậm chân thình thịch. Cháu đứng đợi ngoài cửa nên nghe hết. Cuối cùng ông ấy bước ra hành lang, kêu lên: Cái ông ấy không bao giờ về à? Đúng nguyên văn lời ông ấy đấy ạ. Cháu bảo: Ông chỉ cần đợi thêm một chút thôi. Ông ấy bảo: Thế thì tôi ra ngoài trời đợi, ở đây tôi ngột ngạt muốn chết. Tôi sẽ quay lại ngay. Rồi ông ấy đứng phắt dậy bỏ đi, cháu nói gì cũng không giữ được.

— Thôi được, cháu đã cố hết sức rồi, Hôm nói khi chúng tôi bước vào phòng. Nhưng bực thật đấy, Oát-xơn. Tôi đang rất cần một vụ án, mà xem cái vẻ sốt ruột của người này thì có vẻ là chuyện quan trọng. Ô kìa! Cái tẩu trên bàn không phải của anh. Hẳn ông ta để quên. Một cái tẩu gỗ thạch nam cũ rất đẹp, với cái cán dài bằng thứ mà dân bán thuốc lá gọi là hổ phách. Không biết ở Luân Đôn có bao nhiêu cán tẩu bằng hổ phách thật. Có người cho rằng thấy con ruồi trong đó mới là dấu hiệu hàng thật. Chà, hẳn ông ta phải rối trí lắm mới để quên cái tẩu mà rõ ràng ông ta rất quý.

— Làm sao anh biết ông ta rất quý nó? tôi hỏi.

— Này nhé, tôi đoán giá gốc cái tẩu này chừng bảy si-linh rưỡi. Anh thấy đấy, nó đã được sửa hai lần, một lần ở thân gỗ, một lần ở chỗ hổ phách. Mỗi lần sửa, như anh thấy, đều bó bằng đai bạc, chắc phải tốn hơn cả giá gốc của cái tẩu. Người này hẳn phải rất quý cái tẩu, mới thà vá víu nó còn hơn dùng chừng ấy tiền mua cái mới.

— Còn gì nữa không? tôi hỏi, vì Hôm vẫn xoay xoay cái tẩu trong tay, nhìn nó chằm chằm theo cái kiểu trầm ngâm rất riêng của anh.

Anh giơ nó lên, gõ gõ ngón trỏ dài gầy vào đó, như một vị giáo sư đang giảng bài về một khúc xương.

— Tẩu thuốc đôi khi thú vị lạ thường, anh nói. Chẳng có gì mang nhiều cá tính hơn nó, trừ có lẽ đồng hồ và dây giày. Nhưng những dấu hiệu ở đây không rõ nét lắm, mà cũng không quan trọng lắm. Chủ nhân rõ ràng là một người khoẻ mạnh, thuận tay trái, có bộ răng rất tốt, sinh hoạt cẩu thả, và không cần phải tằn tiện.

Bạn tôi buông ra mấy điều ấy một cách rất hờ hững, nhưng tôi thấy anh liếc mắt nhìn tôi xem tôi có theo kịp lập luận của anh không.

— Anh cho rằng người hút một cái tẩu bảy si-linh thì hẳn phải khá giả, tôi nói.

— Đây là thuốc lá trộn hiệu Grô-vơ-nơ, tám xu một lạng, Hôm đáp, gõ một ít ra lòng bàn tay. Ông ta có thể mua thứ thuốc rất ngon với nửa giá, vậy là ông ta không cần phải tằn tiện.

— Còn những điểm khác?

— Ông ta quen châm tẩu bằng đèn dầu và đèn khí. Anh xem, nó cháy sém suốt một bên. Dĩ nhiên que diêm không thể làm thế được. Ai lại hơ que diêm vào thành bên của tẩu? Nhưng châm bằng đèn thì không thể không làm cháy sém bầu tẩu. Mà vết cháy lại toàn ở bên phải. Từ đó tôi suy ra ông ta thuận tay trái. Anh thử đưa tẩu của anh lên đèn mà xem, anh thuận tay phải nên rất tự nhiên chìa bên trái vào lửa. Anh có thể làm ngược lại một lần, nhưng không phải lần nào cũng thế. Còn cái tẩu này thì lúc nào cũng được cầm như vậy. Rồi ông ta lại cắn thủng cả cán hổ phách. Phải là một người khoẻ mạnh, sung sức, có bộ răng tốt mới làm được thế. Nhưng nếu tôi không lầm thì ông ta đang lên cầu thang, vậy là ta sẽ có thứ thú vị hơn cái tẩu để nghiên cứu.

Một lát sau cửa phòng chúng tôi mở ra, và một người đàn ông trẻ, cao lớn bước vào. Ông ăn mặc chỉnh tề nhưng giản dị trong bộ com-lê màu xám sẫm, tay cầm chiếc mũ nỉ rộng vành màu nâu. Tôi đoán ông chừng ba mươi tuổi, dù thật ra ông lớn hơn thế vài tuổi.

— Xin lỗi, ông nói, có phần lúng túng. Lẽ ra tôi phải gõ cửa. Phải, dĩ nhiên lẽ ra tôi phải gõ cửa. Chả là tôi đang hơi rối trí, xin các ông thông cảm cho.

Ông đưa tay vuốt trán như người đang nửa mê nửa tỉnh, rồi gần như ngã xuống ghế chứ không phải ngồi.

— Tôi thấy ông đã mất ngủ một hai đêm rồi, Hôm nói, giọng nhẹ nhàng, thân mật. Điều đó làm mòn thần kinh con người hơn cả làm việc, hơn cả vui chơi. Tôi có thể giúp gì cho ông?

— Tôi muốn xin lời khuyên của ông. Tôi không biết phải làm gì, cả đời tôi dường như đã tan nát hết.

— Ông muốn thuê tôi làm thám tử tư vấn?

— Không chỉ thế. Tôi muốn ý kiến của ông như một người sáng suốt, một người từng trải. Tôi muốn biết bây giờ tôi nên làm gì. Lạy Chúa, tôi mong ông sẽ chỉ cho tôi được.

Ông nói từng tràng ngắn, đứt quãng, giật cục, và tôi có cảm giác chỉ việc mở miệng nói thôi cũng làm ông đau đớn vô cùng, như thể từ đầu tới cuối ý chí của ông phải cố đè bẹp lòng mình.

— Chuyện này rất tế nhị, ông nói. Chẳng ai muốn đem chuyện nhà mình kể với người lạ. Đem cách cư xử của vợ mình ra bàn với hai người đàn ông tôi chưa từng gặp mặt, thật là khủng khiếp. Phải làm thế thật kinh khủng. Nhưng tôi đã cùng đường rồi, tôi phải có người khuyên bảo.

— Thưa ông Gran Mơn-rô thân mến... Hôm mở lời.

Ông khách bật dậy khỏi ghế.

— Sao! ông kêu lên. Ông biết tên tôi?

— Nếu ông muốn giữ kín danh tính, Hôm mỉm cười nói, thì tôi khuyên ông đừng viết tên mình lên lớp lót mũ nữa, hoặc là đừng chĩa đáy mũ về phía người mình đang nói chuyện. Tôi định nói rằng bạn tôi và tôi đã nghe không ít bí mật lạ lùng trong căn phòng này, và đã may mắn đem lại bình yên cho nhiều tâm hồn bất an. Tôi mong cũng làm được như vậy cho ông. Vì thời gian có thể rất quan trọng, tôi xin ông kể ngay cho tôi các sự việc, đừng chần chừ thêm nữa.

Ông khách lại đưa tay vuốt trán, như thấy việc đó khó khăn cay đắng. Qua từng cử chỉ, từng nét mặt, tôi thấy ông là người kín đáo, tự chủ, trong bản tính có chút kiêu hãnh, thà giấu vết thương của mình còn hơn phơi nó ra. Rồi bỗng ông vung nắm tay một cách dữ dội, như người vứt bỏ mọi dè dặt, và bắt đầu kể.

— Sự việc là thế này, ông Hôm, ông nói. Tôi có vợ, đã ba năm nay. Suốt thời gian ấy, vợ chồng tôi yêu nhau tha thiết và sống hạnh phúc như bất cứ đôi vợ chồng nào trên đời. Chúng tôi chưa từng bất đồng, chưa một lần, trong ý nghĩ, lời nói hay việc làm. Thế mà bây giờ, từ thứ Hai tuần trước, bỗng có một bức tường mọc lên giữa hai chúng tôi. Tôi thấy trong đời cô ấy, trong ý nghĩ của cô ấy, có một điều mà tôi biết ít ỏi như thể cô ấy là một người đàn bà xa lạ đi lướt qua tôi ngoài phố. Chúng tôi đã trở nên xa cách, và tôi muốn biết tại sao.

Có một điều tôi muốn ông khắc ghi trước khi tôi kể tiếp, ông Hôm ạ. Ép-phi yêu tôi. Xin đừng hiểu lầm điều ấy. Cô ấy yêu tôi bằng cả trái tim, cả tâm hồn, và chưa bao giờ yêu tôi hơn lúc này. Tôi biết. Tôi cảm thấy. Tôi không muốn tranh cãi về chuyện đó. Đàn ông dễ dàng biết được khi nào một người đàn bà yêu mình. Nhưng giữa chúng tôi có bí mật này, và chúng tôi sẽ không bao giờ như xưa được nữa cho tới khi nó được làm sáng tỏ.

— Xin ông kể cho tôi các sự việc, ông Mơn-rô, Hôm nói, có phần sốt ruột.

— Tôi sẽ kể ông nghe những gì tôi biết về quá khứ của Ép-phi. Khi tôi gặp cô ấy lần đầu, cô ấy là một góa phụ, dù còn rất trẻ, mới hai mươi lăm tuổi. Lúc ấy cô ấy mang tên bà Hê-brơn. Cô ấy sang Mỹ từ hồi còn trẻ, sống ở thành phố Át-lan-ta, và lấy ông Hê-brơn, một luật sư làm ăn khá. Họ có một đứa con, nhưng ở đó bùng lên một trận dịch sốt vàng da khủng khiếp, cả chồng lẫn con đều chết vì bệnh. Tôi đã xem giấy chứng tử của ông ấy. Chuyện ấy khiến cô ấy chán ngán nước Mỹ, nên cô ấy về sống với một bà dì không chồng ở Pin-nơ, hạt Mít-đơn-xếch. Tôi cũng xin nói thêm là chồng cô ấy để lại cho cô ấy một gia sản khá, chừng bốn nghìn năm trăm bảng, được ông ấy đầu tư khéo tới mức đem lại trung bình bảy phần trăm mỗi năm. Cô ấy mới ở Pin-nơ được sáu tháng thì tôi gặp. Chúng tôi yêu nhau, và vài tuần sau thì cưới.

Bản thân tôi buôn hoa bia, thu nhập bảy, tám trăm bảng một năm, nên chúng tôi sống khá sung túc, thuê một ngôi biệt thự xinh xắn tám mươi bảng một năm ở Nóoc-bơ-ri. Chỗ chúng tôi ở rất thôn dã, dù rất gần thành phố. Phía trên nhà chúng tôi một chút có một quán trọ và hai ngôi nhà, bên kia cánh đồng trước mặt có một ngôi nhà nhỏ đứng riêng, và ngoài mấy cái đó ra thì chẳng còn nhà nào cho tới quãng nửa đường ra ga. Công việc buộc tôi phải lên thành phố vào những mùa nhất định, nhưng mùa hè tôi ít việc hơn, và những lúc ấy, ở ngôi nhà miền quê, vợ chồng tôi hạnh phúc hết mức có thể mong. Tôi nói với ông, giữa chúng tôi chưa từng có một bóng mây nào cho tới khi chuyện quái ác này bắt đầu.

Có một điều tôi phải nói với ông trước khi kể tiếp. Khi cưới nhau, vợ tôi đã chuyển toàn bộ tài sản sang cho tôi. Tôi cũng chẳng muốn thế, vì tôi thấy sẽ khó xử biết bao nếu việc làm ăn của tôi trục trặc. Nhưng cô ấy cứ nhất định như vậy, và việc đã làm xong. Chà, cách đây chừng sáu tuần, cô ấy đến gặp tôi.

— Anh Giắc, cô ấy nói, khi nhận tiền của em, anh đã bảo nếu có lúc nào em cần thì cứ hỏi anh.

— Dĩ nhiên rồi, tôi nói. Tiền ấy là của em mà.

— Vậy thì, cô ấy nói, em cần một trăm bảng.

Tôi hơi sững người, vì tôi cứ tưởng cô ấy chỉ cần tiền may một bộ váy mới hay thứ gì đại loại thế.

— Em cần tiền làm gì vậy? tôi hỏi.

— Ồ, cô ấy nói bằng cái giọng tinh nghịch quen thuộc, anh bảo anh chỉ là chủ ngân hàng của em thôi mà, mà anh biết đấy, chủ ngân hàng thì không bao giờ hỏi han.

— Nếu em cần thật thì dĩ nhiên em sẽ có tiền, tôi nói.

— Ồ, vâng, em cần thật mà.

— Và em không chịu nói với anh là em cần tiền làm gì?

— Có lẽ một ngày nào đó, nhưng không phải bây giờ, anh Giắc ạ.

Thế là tôi đành bằng lòng như vậy, dù đó là lần đầu tiên giữa chúng tôi có một điều bí mật. Tôi đưa cô ấy một tấm séc, và không nghĩ gì thêm về chuyện đó nữa. Có thể nó chẳng liên quan gì tới những chuyện xảy ra sau này, nhưng tôi nghĩ nên kể ra cho đủ.

Chà, lúc nãy tôi có nói với ông là có một ngôi nhà nhỏ không xa nhà chúng tôi. Giữa hai nhà chỉ cách một cánh đồng, nhưng muốn tới đó thì phải đi theo đường cái rồi rẽ vào một con ngõ. Ngay phía bên kia có một lùm thông Xcốt-len nhỏ rất đẹp, và tôi rất thích tản bộ xuống đó, vì cây cối bao giờ cũng là những người hàng xóm dễ chịu. Ngôi nhà nhỏ đã bỏ trống tám tháng nay, thật đáng tiếc, vì đó là một ngôi nhà hai tầng xinh xắn, có mái hiên kiểu cổ và giàn kim ngân bao quanh. Đã bao lần tôi đứng đó, nghĩ rằng nó sẽ là một tổ ấm nhỏ gọn gàng biết mấy.

Chà, tối thứ Hai tuần trước, tôi đang tản bộ xuống phía ấy thì gặp một chiếc xe chở đồ trống không đi ngược lên con ngõ, và thấy một đống thảm cùng đồ đạc nằm ngổn ngang trên bãi cỏ cạnh mái hiên. Rõ ràng cuối cùng ngôi nhà đã có người thuê. Tôi đi ngang qua, tự hỏi không biết những người tới sống gần chúng tôi thế này là hạng người nào. Và trong lúc tôi đang nhìn, bỗng tôi nhận ra có một gương mặt đang nhìn tôi từ một ô cửa sổ trên lầu.

Tôi không biết gương mặt ấy có gì, ông Hôm ạ, nhưng nó như làm một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng tôi. Tôi đứng hơi xa nên không nhìn rõ đường nét, nhưng có điều gì đó trái tự nhiên, không giống người, ở gương mặt ấy. Đó là ấn tượng của tôi, và tôi bước nhanh tới để nhìn gần hơn người đang theo dõi mình. Nhưng tôi vừa bước tới thì gương mặt bỗng biến mất, biến nhanh đến nỗi như bị giật phắt vào bóng tối trong phòng. Tôi đứng đó năm phút, ngẫm nghĩ, cố phân tích ấn tượng của mình. Tôi không biết đó là mặt đàn ông hay đàn bà. Nó ở quá xa nên tôi không phân biệt được. Nhưng màu của nó mới là thứ làm tôi ấn tượng nhất. Nó có màu trắng phấn xám xịt như xác chết, và có cái gì đó cứng đờ, bất động, trái tự nhiên đến rợn người. Tôi bị xáo động tới mức quyết định phải xem kỹ hơn những người mới đến ở ngôi nhà nhỏ. Tôi lại gần gõ cửa. Cửa mở ngay lập tức, một người đàn bà cao, gầy gò, mặt khắc nghiệt, khó đăm đăm đứng đó.

— Ông muốn gì? bà ta hỏi bằng giọng miền Bắc.

— Tôi là hàng xóm của bà, ở đằng kia, tôi nói, hất đầu về phía nhà mình. Tôi thấy bà mới chuyển tới, nên nghĩ nếu tôi có thể giúp được gì...

— Ừ, lúc nào cần thì chúng tôi sẽ hỏi ông, bà ta nói, rồi đóng sầm cửa trước mặt tôi.

Bực mình vì bị cự tuyệt thô lỗ như thế, tôi quay lưng đi về nhà. Suốt buổi tối, dù cố nghĩ chuyện khác, đầu óc tôi vẫn cứ quay về cái bóng ma ở cửa sổ và sự thô lỗ của người đàn bà. Tôi quyết định không nói gì với vợ về cái bóng ma, vì cô ấy là người đa cảm, dễ căng thẳng, và tôi không muốn cô ấy cũng bị ám ảnh bởi cái ấn tượng khó chịu như tôi. Tuy vậy, trước khi ngủ tôi có nói với cô ấy rằng ngôi nhà nhỏ giờ đã có người ở, và cô ấy chẳng đáp lại gì.

Bình thường tôi ngủ rất say. Cả nhà vẫn hay đùa rằng ban đêm chẳng có gì đánh thức nổi tôi. Vậy mà chẳng hiểu sao đêm hôm đó, có lẽ vì chút xáo động do chuyện vừa rồi, có lẽ không, tôi không biết, tôi ngủ chập chờn hơn thường lệ nhiều. Nửa mê nửa tỉnh, tôi lờ mờ cảm thấy có chuyện gì đó đang diễn ra trong phòng, và dần dần nhận ra vợ tôi đã mặc quần áo, đang khoác áo choàng và đội mũ. Môi tôi vừa hé ra định ú ớ vài câu ngái ngủ ngạc nhiên hay trách móc vì sự chuẩn bị không đúng lúc ấy, thì bỗng đôi mắt hé mở của tôi chạm phải gương mặt cô ấy dưới ánh nến, và sự kinh ngạc làm tôi câm lặng. Cô ấy mang một vẻ mặt tôi chưa từng thấy bao giờ, một vẻ mặt mà tôi những tưởng cô ấy không bao giờ có thể có. Mặt cô ấy tái nhợt như người chết, hơi thở dồn dập, vừa cài áo choàng vừa liếc trộm về phía giường xem có làm tôi thức giấc không. Rồi tưởng tôi vẫn ngủ, cô ấy lẳng lặng lẻn ra khỏi phòng. Một lát sau tôi nghe một tiếng cót két chói tai, chỉ có thể là tiếng bản lề cửa trước. Tôi ngồi dậy trên giường, gõ khớp ngón tay vào thành giường để chắc rằng mình đang tỉnh thật. Rồi tôi lấy đồng hồ dưới gối ra xem. Ba giờ sáng. Có chuyện gì trên đời mà vợ tôi phải ra đường quê lúc ba giờ sáng?

Tôi ngồi chừng hai mươi phút, lật đi lật lại chuyện ấy trong đầu, cố tìm một lời giải thích nào đó. Càng nghĩ càng thấy nó kỳ lạ, khó hiểu. Tôi vẫn còn đang bối rối thì nghe tiếng cửa nhẹ nhàng khép lại, và tiếng chân cô ấy đi lên cầu thang.

— Em đi đâu vậy, Ép-phi? tôi hỏi khi cô ấy bước vào.

Nghe tôi lên tiếng, cô ấy giật bắn người và bật ra một tiếng kêu như nghẹt thở. Chính tiếng kêu và cái giật mình ấy làm tôi lo hơn tất cả những chuyện khác, vì trong đó có một vẻ tội lỗi không sao tả xiết. Vợ tôi xưa nay vốn là người thẳng thắn, cởi mở, vậy mà tôi lạnh người khi thấy cô ấy rón rén lẻn vào chính phòng mình, rồi kêu lên và co rúm lại khi chính chồng mình lên tiếng.

— Anh thức à, anh Giắc! cô ấy kêu lên, cười gượng gạo. Ô kìa, em tưởng chẳng có gì đánh thức được anh cơ mà.

— Em đã đi đâu? tôi hỏi, giọng nghiêm khắc hơn.

— Anh ngạc nhiên cũng phải, cô ấy nói, và tôi thấy những ngón tay cô ấy run run khi tháo móc áo choàng. Ô kìa, em chẳng nhớ đời mình đã từng làm chuyện như thế bao giờ. Chả là em thấy như bị nghẹt thở, thèm được hít một hơi không khí trong lành quá. Em nghĩ nếu không ra ngoài chắc em đã ngất mất. Em đứng ở cửa vài phút, giờ thì em khoẻ lại hoàn toàn rồi.

Suốt lúc kể, cô ấy không một lần nhìn về phía tôi, và giọng cô ấy khác hẳn giọng thường ngày. Rõ ràng cô ấy đang nói dối. Tôi chẳng nói gì, chỉ quay mặt vào tường, lòng quặn thắt, đầu óc đầy ắp hàng nghìn mối nghi ngờ độc địa. Vợ tôi đang giấu tôi điều gì? Cô ấy đã đi đâu trong chuyến đi lạ lùng ấy? Tôi cảm thấy mình sẽ không yên ổn cho tới khi biết được, vậy mà tôi lại ngại hỏi lần nữa sau khi cô ấy đã nói dối một lần. Suốt phần còn lại của đêm tôi trằn trọc, dựng lên hết giả thuyết này tới giả thuyết khác, cái sau càng khó tin hơn cái trước.

Hôm ấy lẽ ra tôi phải lên khu tài chính, nhưng đầu óc tôi rối bời quá không thể chú tâm vào chuyện làm ăn. Vợ tôi có vẻ cũng xáo động không kém, và qua những cái liếc mắt dò hỏi cô ấy cứ ném về phía tôi, tôi thấy cô ấy hiểu rằng tôi không tin lời cô ấy, và cô ấy đang cùng quẫn chẳng biết làm gì. Suốt bữa sáng chúng tôi hầu như không nói với nhau câu nào, và ăn xong tôi đi dạo ngay, để nghĩ cho thông chuyện này trong không khí trong lành buổi sáng.

Tôi đi tới tận Cung điện Pha lê, dạo một tiếng trong khuôn viên, rồi một giờ chiều thì về tới Nóoc-bơ-ri. Tình cờ đường về đi ngang ngôi nhà nhỏ, và tôi dừng lại một lát nhìn lên cửa sổ, xem có thoáng thấy được gương mặt lạ lùng đã nhìn tôi hôm trước không. Ông thử hình dung tôi kinh ngạc thế nào, ông Hôm ạ, khi đang đứng đó thì cánh cửa bỗng mở ra, và vợ tôi bước ra.

Thấy cô ấy, tôi sững sờ câm lặng. Nhưng cảm xúc của tôi chẳng thấm gì so với những gì hiện lên trên mặt cô ấy khi mắt chúng tôi gặp nhau. Trong một thoáng cô ấy như muốn lùi lại vào trong nhà. Rồi thấy giấu giếm cũng vô ích, cô ấy bước tới, mặt trắng bệch, đôi mắt hoảng hốt trái ngược với nụ cười trên môi.

— A, anh Giắc, cô ấy nói, em vừa ghé vào xem có giúp gì được hàng xóm mới không. Sao anh nhìn em như thế, anh Giắc? Anh không giận em đấy chứ?

— Vậy ra, tôi nói, đây là chỗ em đã tới đêm qua.

— Anh nói gì vậy? cô ấy kêu lên.

— Em đã tới đây. Anh chắc chắn như vậy. Những người này là ai mà em phải tới thăm họ vào giờ ấy?

— Em chưa từng tới đây trước đó.

— Sao em có thể nói với anh điều mà em biết là dối trá? tôi kêu lên. Chính giọng em cũng thay đổi khi em nói. Đã bao giờ anh giấu em điều gì chưa? Anh sẽ vào ngôi nhà đó, và anh sẽ tìm hiểu tới tận cùng.

— Không, không, anh Giắc, lạy Chúa! cô ấy hổn hển, xúc động không kìm nổi.

Rồi khi tôi tiến lại gần cửa, cô ấy chộp lấy tay áo tôi và kéo giật lại với một sức mạnh như co giật.

— Em van anh đừng làm thế, anh Giắc, cô ấy kêu lên. Em thề một ngày nào đó em sẽ kể hết với anh, nhưng nếu anh vào ngôi nhà đó thì chỉ có khổ đau mà thôi.

Rồi khi tôi cố gỡ cô ấy ra, cô ấy bám lấy tôi, van nài như điên dại.

— Hãy tin em, anh Giắc! cô ấy kêu lên. Chỉ tin em lần này thôi. Anh sẽ không bao giờ phải hối tiếc. Anh biết em sẽ không giấu anh điều gì nếu không phải vì chính anh. Cả cuộc đời chúng ta phụ thuộc vào chuyện này. Nếu anh về nhà với em, mọi việc sẽ ổn. Nếu anh xông vào ngôi nhà kia, thì giữa chúng ta thế là hết.

Thái độ cô ấy tha thiết, tuyệt vọng đến nỗi lời cô ấy giữ chân tôi lại, và tôi đứng do dự trước cửa.

— Anh sẽ tin em với một điều kiện, chỉ một điều kiện thôi, cuối cùng tôi nói. Đó là bí ẩn này phải chấm dứt từ giờ. Em cứ giữ bí mật của em, nhưng em phải hứa với anh sẽ không còn những chuyến đi đêm nữa, không còn việc gì giấu anh nữa. Anh sẵn lòng quên những gì đã qua, nếu em hứa sau này sẽ không còn như vậy nữa.

— Em biết chắc anh sẽ tin em mà, cô ấy kêu lên, thở phào nhẹ nhõm. Anh muốn sao em cũng chiều. Đi thôi, ôi, đi về nhà thôi anh.

Vẫn kéo tay áo tôi, cô ấy dẫn tôi rời khỏi ngôi nhà nhỏ. Trong lúc đi, tôi ngoái lại, và gương mặt vàng vọt xám ngoét ấy vẫn đang nhìn theo chúng tôi từ ô cửa sổ trên lầu. Giữa cái sinh vật ấy với vợ tôi có thể có mối liên hệ gì? Hay người đàn bà thô lỗ cục cằn tôi gặp hôm trước có thể dính dáng gì tới cô ấy? Đó là một câu đố lạ lùng, và tôi biết đầu óc mình sẽ không bao giờ yên ổn được nữa cho tới khi giải được nó.

Hai ngày sau đó tôi ở nhà, và vợ tôi có vẻ giữ đúng lời hứa, vì theo tôi biết, cô ấy chẳng hề ra khỏi nhà. Nhưng đến ngày thứ ba, tôi có đủ bằng chứng rằng lời hứa long trọng của cô ấy không đủ để giữ cô ấy lại trước cái sức mạnh bí ẩn đang kéo cô ấy rời xa chồng, rời xa bổn phận của mình.

Hôm ấy tôi lên thành phố, nhưng tôi về bằng chuyến tàu hai giờ bốn mươi thay vì chuyến ba giờ ba mươi sáu như thường lệ. Tôi vừa bước vào nhà thì cô hầu gái chạy ra hành lang, mặt hốt hoảng.

— Bà chủ đâu? tôi hỏi.

— Cháu nghĩ là bà ra ngoài đi dạo ạ, cô ta đáp.

Lập tức đầu óc tôi tràn ngập nghi ngờ. Tôi chạy lên lầu để chắc chắn cô ấy không ở trong nhà. Trong lúc đó, tình cờ tôi nhìn qua một ô cửa sổ trên lầu, và thấy chính cô hầu gái vừa nói chuyện với tôi đang chạy băng qua cánh đồng về phía ngôi nhà nhỏ. Thế là dĩ nhiên tôi hiểu ngay mọi chuyện. Vợ tôi đã sang đó, và dặn người hầu gọi cô ấy về nếu tôi về. Giận run người, tôi lao xuống và vội vã băng qua, quyết chấm dứt chuyện này một lần cho xong. Tôi thấy vợ tôi và cô hầu đang vội vã quay về theo con ngõ, nhưng tôi không dừng lại nói gì với họ. Trong ngôi nhà kia có cái bí mật đang phủ bóng đen lên đời tôi. Tôi thề rằng dù có chuyện gì xảy ra, nó cũng sẽ không còn là bí mật nữa. Tới nơi tôi chẳng buồn gõ cửa, cứ vặn quả nắm và xông thẳng vào hành lang.

Tầng dưới hoàn toàn yên ắng, tĩnh lặng. Trong bếp, ấm nước đang reo trên bếp lửa, và một con mèo đen to nằm cuộn tròn trong giỏ. Nhưng chẳng thấy bóng dáng người đàn bà tôi gặp hôm trước. Tôi chạy sang phòng bên, nhưng phòng ấy cũng vắng tanh. Rồi tôi lao lên cầu thang, chỉ để thấy hai căn phòng khác ở trên cũng trống trơn không người. Cả ngôi nhà chẳng có một ai. Đồ đạc và tranh ảnh đều thuộc loại tầm thường, rẻ tiền nhất, trừ căn phòng có ô cửa sổ nơi tôi đã thấy gương mặt lạ lùng. Căn phòng ấy tiện nghi và trang nhã. Và mọi nghi ngờ trong tôi bùng lên thành một ngọn lửa dữ dội, cay đắng, khi tôi thấy trên mặt lò sưởi có một tấm ảnh chụp toàn thân vợ tôi, tấm ảnh chụp theo yêu cầu của tôi mới ba tháng trước.

Tôi ở lại đủ lâu để chắc chắn ngôi nhà hoàn toàn trống không. Rồi tôi rời khỏi đó, lòng nặng trĩu như chưa bao giờ nặng trĩu đến thế. Vợ tôi ra hành lang khi tôi bước vào nhà, nhưng tôi đau đớn và giận dữ quá không muốn nói chuyện với cô ấy. Tôi gạt cô ấy sang bên, đi thẳng vào phòng làm việc. Nhưng cô ấy theo vào trước khi tôi kịp đóng cửa.

— Em xin lỗi vì đã thất hứa, anh Giắc, cô ấy nói. Nhưng nếu anh biết hết mọi hoàn cảnh, em chắc anh sẽ tha thứ cho em.

— Vậy thì kể hết cho anh nghe đi, tôi nói.

— Em không thể, anh Giắc, em không thể, cô ấy kêu lên.

— Chừng nào em chưa nói cho anh biết ai đang sống trong ngôi nhà ấy, và em đã đưa tấm ảnh kia cho ai, thì giữa chúng ta không bao giờ còn lòng tin nữa, tôi nói.

Rồi tôi giằng ra khỏi cô ấy và bỏ ra khỏi nhà. Đó là chuyện hôm qua, ông Hôm ạ, và từ đó tới giờ tôi chưa gặp lại cô ấy, cũng chẳng biết gì thêm về chuyện lạ lùng này. Đó là bóng mây đầu tiên phủ lên giữa hai chúng tôi, và nó làm tôi chấn động tới mức không biết làm thế nào mới là tốt nhất. Sáng nay bỗng tôi chợt nghĩ ông chính là người có thể khuyên tôi, nên tôi vội vã tìm đến đây, và hoàn toàn trao mình vào tay ông. Nếu có điểm nào tôi chưa nói rõ, xin ông cứ hỏi. Nhưng trên hết, xin ông nói nhanh cho tôi biết tôi phải làm gì, vì nỗi khổ này đã quá sức chịu đựng của tôi.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơ-lốc Hôm: Gương mặt vàng

  1. 1Ngôi nhà bên kia cánh đồng25 phút
  2. 2Căn phòng trên lầuĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảArthur Conan Doyle (1859 – 1930)
Năm mất1930
Xuất bản lần đầu1893
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Yellow Face, trong tập The Memoirs of Sherlock Holmes, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →