Chương 1: Mẩu quảng cáo lạ lùng
Mùa thu năm ngoái, có một hôm tôi ghé thăm người bạn của tôi là ông Sơ-lốc Hôm, thì thấy anh đang mải chuyện với một ông khách đứng tuổi, người to béo, mặt đỏ au, tóc đỏ rực như lửa. Tôi xin lỗi vì đã vào không đúng lúc và định lui ra, nhưng Hôm đã kéo phắt tôi vào phòng rồi đóng cửa lại sau lưng tôi.
— Không thể có lúc nào anh đến đúng hơn lúc này, Oát-xơn thân mến ạ, anh niềm nở nói.
— Tôi sợ anh đang bận.
— Bận thật. Bận lắm.
— Vậy tôi sang phòng bên chờ cũng được.
— Không cần đâu. Thưa ông Uyn-xơn, đây là người cộng sự, người giúp sức cho tôi trong nhiều vụ thành công nhất. Tôi tin chắc anh ấy cũng sẽ giúp ích rất nhiều trong việc của ông.
Ông khách to béo nhổm nửa người khỏi ghế, gật đầu chào, đôi mắt ti hí lọt thỏm giữa hai gò má phúng phính liếc tôi một cái thật nhanh, như dò hỏi.
— Anh ngồi tạm cái tràng kỷ kia, Hôm nói, rồi ngả người trở lại chiếc ghế bành, chụm mười đầu ngón tay vào nhau như thói quen mỗi khi anh sắp cân nhắc phán xét điều gì. Oát-xơn thân mến, tôi biết anh cũng như tôi, ưa những gì kỳ quặc, những gì nằm ngoài khuôn phép và nếp sống nhàm chán hằng ngày. Anh đã tỏ rõ cái thú ấy qua lòng nhiệt tình ghi chép lại, và, xin lỗi anh cho tôi nói thẳng, có phần tô vẽ thêm cho biết bao chuyến phiêu lưu nho nhỏ của tôi.
— Những vụ của anh quả thật làm tôi say mê vô cùng, tôi đáp.
— Hẳn anh còn nhớ, hôm trước, ngay trước khi chúng ta bắt tay vào cái vấn đề rất giản dị mà cô Ma-ri Xơ-thơ-lân đem tới, tôi có nói rằng muốn tìm những chuyện lạ lùng, những sự kết hợp phi thường, thì phải tìm trong chính đời sống. Đời sống bao giờ cũng táo bạo hơn mọi trí tưởng tượng.
— Một mệnh đề mà tôi đã mạn phép nghi ngờ.
— Đúng thế, thưa bác sĩ. Nhưng rồi anh vẫn phải theo ý tôi thôi, bằng không tôi sẽ cứ chồng hết sự kiện này lên sự kiện khác lên đầu anh, cho tới khi lý trí của anh gãy gục mà nhận rằng tôi đúng. Này nhé, sáng nay ông Gia-bê Uyn-xơn đây đã có lòng tìm đến tôi, và bắt đầu kể một câu chuyện hứa hẹn là một trong những chuyện kỳ lạ nhất tôi được nghe từ lâu. Anh từng nghe tôi nói rằng những điều kỳ dị nhất, độc đáo nhất thường không dính tới những vụ trọng án mà dính tới những vụ nhỏ, có khi người ta còn chẳng biết chắc là có tội ác gì đã xảy ra hay không. Theo những gì tôi đã nghe tới giờ, tôi không thể nói vụ này có phải là tội ác hay không. Nhưng diễn biến của nó chắc chắn thuộc loại lạ lùng nhất mà tôi từng được nghe. Thưa ông Uyn-xơn, có lẽ ông sẽ vui lòng kể lại từ đầu. Tôi xin ông điều này không chỉ vì bạn tôi, bác sĩ Oát-xơn, chưa được nghe đoạn mở đầu, mà còn vì câu chuyện kỳ quặc tới mức tôi muốn được nghe từng chi tiết nhỏ nhất từ chính miệng ông. Thường thì, chỉ cần nghe phác qua diễn biến, tôi đã có thể dựa vào hàng nghìn vụ tương tự trong trí nhớ mà lần ra hướng đi. Còn lần này tôi buộc phải thừa nhận rằng, theo chỗ tôi biết, sự việc là độc nhất vô nhị.
Ông khách đẫy đà ưỡn ngực ra, có vẻ hơi tự hào, rồi rút từ túi trong chiếc áo khoác dày ra một tờ báo cũ nhàu nhĩ, bẩn thỉu. Trong lúc ông ta dò theo cột quảng cáo, đầu chúi về phía trước, tờ báo trải phẳng trên đầu gối, tôi ngắm kỹ ông ta, và cố bắt chước bạn tôi, đọc ra những dấu hiệu từ quần áo và dáng vẻ của ông.
Thế nhưng tôi chẳng thu được bao nhiêu. Ông khách của chúng tôi mang đủ mọi nét của một chủ hiệu buôn người Anh bình thường, tầm thường: béo phì, khệnh khạng và chậm chạp. Ông mặc chiếc quần kẻ ô xám khá rộng thùng thình, chiếc áo đuôi tôm đen chẳng sạch sẽ gì, để phanh vạt trước, và chiếc gi-lê màu xám nhạt có sợi dây đồng hồ to bằng đồng thau, đầu dây lủng lẳng một miếng kim loại vuông đục lỗ làm đồ trang sức. Trên chiếc ghế bên cạnh là cái mũ chóp cao đã sờn và chiếc áo choàng nâu bạc màu, cổ nhung nhăn nhúm. Nói tóm lại, tôi nhìn thế nào cũng chẳng thấy ông ta có gì đặc biệt, ngoài cái đầu đỏ rực như lửa và vẻ mặt vô cùng bực bội, buồn bực.
Đôi mắt tinh nhanh của Sơ-lốc Hôm đã thấy tôi đang làm gì. Anh mỉm cười lắc đầu khi bắt gặp những cái liếc dò hỏi của tôi.
— Ngoài mấy điều hiển nhiên là ông đây đã có thời làm việc tay chân, ông có hít thuốc lá bột, ông là hội viên hội Tam Điểm, ông từng ở bên Trung Hoa, và dạo gần đây ông viết lách khá nhiều, thì tôi chẳng suy ra được gì thêm.
Ông Gia-bê Uyn-xơn giật nảy người trên ghế, ngón tay trỏ vẫn đặt trên tờ báo nhưng mắt thì dán vào bạn tôi.
— Trời đất ơi, làm sao ông biết được tất cả những điều đó, thưa ông Hôm? ông hỏi. Chẳng hạn, sao ông biết tôi làm việc tay chân? Đúng như lời trong Kinh Thánh vậy, vì tôi khởi nghiệp là thợ mộc trên tàu biển.
— Nhờ đôi bàn tay của ông, thưa ông. Bàn tay phải của ông to hơn bàn tay trái hẳn một cỡ. Ông đã làm lụng bằng tay phải nên cơ bắp nở nang hơn.
— Thế còn chuyện hít thuốc bột, chuyện hội Tam Điểm?
— Tôi không dám coi thường trí khôn của ông mà giảng giải chuyện đó, nhất là khi ông, có phần trái với luật lệ nghiêm ngặt của hội, lại cài trên ngực một chiếc ghim hình cung tròn và com-pa.
— À phải, tôi quên mất. Còn chuyện viết lách?
— Thử hỏi còn gì khác nữa, khi cổ tay áo bên phải của ông bóng loáng cả một đoạn dài cỡ gang tay, còn tay áo bên trái thì có một mảng nhẵn thín gần khuỷu, chỗ ông tì lên bàn?
— Thế còn chuyện Trung Hoa?
— Con cá xăm ngay trên cổ tay phải của ông thì chỉ có thể xăm ở Trung Hoa. Tôi có chút nghiên cứu về các hình xăm, và thậm chí đã viết vài bài về đề tài này. Cái mẹo nhuộm vảy cá màu hồng phơn phớt là lối riêng của người Trung Hoa. Thêm vào đó, tôi lại thấy một đồng tiền Trung Hoa lủng lẳng trên dây đồng hồ của ông, thế thì càng đơn giản.
Ông Gia-bê Uyn-xơn cười khùng khục.
— Ồ, thật chẳng ngờ! ông nói. Lúc đầu tôi tưởng ông làm được điều gì tài tình lắm, hoá ra rốt cuộc cũng chẳng có gì.
— Oát-xơn ạ, Hôm nói, tôi bắt đầu nghĩ mình sai lầm khi giảng giải. Người xưa nói, cái gì chưa biết thì đều có vẻ huyền diệu. Nếu tôi cứ thật thà như thế này thì cái danh tiếng còm của tôi sẽ đắm tàu mất thôi. Ông tìm thấy mẩu quảng cáo chưa, ông Uyn-xơn?
— Rồi, tôi thấy rồi đây, ông đáp, ngón tay đỏ au, mập mạp đặt ở giữa cột báo. Nó đây. Mọi chuyện bắt đầu từ cái này. Ông cứ tự đọc lấy, thưa ông.
Tôi cầm tờ báo và đọc như sau:
Gửi Hội Tóc Đỏ. Theo di chúc của cố ông Ê-dê-ki-a Hốp-kin, ở thị trấn Li-ba-nông, bang Pen-xin-va-ni-a, nước Mỹ, nay hội lại có thêm một chỗ trống, cho phép một hội viên được nhận lương bốn bảng mỗi tuần để làm một công việc hoàn toàn chiếu lệ. Mọi người đàn ông tóc đỏ, khoẻ mạnh cả thể xác lẫn tinh thần, trên hai mươi mốt tuổi, đều đủ tư cách dự tuyển. Xin đích thân đến gặp ông Đăng-cân Rốt vào lúc mười một giờ sáng thứ hai, tại văn phòng của hội, số 7 ngõ Pốp, phố Phlít.
— Thế này nghĩa là cái quái gì? tôi buột miệng sau khi đọc đi đọc lại cái thông báo lạ lùng ấy hai lần.
Hôm cười khúc khích, cựa quậy trên ghế, như thói quen những khi anh khoái chí.
— Hơi lệch khỏi lối mòn một chút, phải không? anh nói. Nào, ông Uyn-xơn, xin ông kể lại từ đầu cho chúng tôi nghe mọi chuyện về ông, về gia cảnh của ông, và mẩu quảng cáo này đã ảnh hưởng tới vận số của ông ra sao. Bác sĩ, trước hết anh ghi lại tên tờ báo và ngày tháng.
— Báo “Thời Sự Buổi Sáng”, ngày 27 tháng 4 năm 1890. Vừa đúng hai tháng trước.
— Tốt lắm. Mời ông, ông Uyn-xơn.
— Vâng, thì đúng như tôi vừa kể với ông đấy, thưa ông Sơ-lốc Hôm, Gia-bê Uyn-xơn vừa nói vừa lau trán. Tôi có một hiệu cầm đồ nhỏ ở quảng trường Cô-bớc, gần khu Thành Phố. Cửa hiệu không lớn lắm, và mấy năm gần đây nó chỉ vừa đủ cho tôi sống. Trước kia tôi còn nuôi nổi hai người giúp việc, giờ chỉ còn một. Mà nếu cậu ta không chịu làm với nửa tiền công để học nghề thì tôi cũng khó trả nổi.
— Chàng trai tốt bụng ấy tên là gì? Sơ-lốc Hôm hỏi.
— Cậu ta tên là Vin-xăng Xpôn-đinh, mà cũng chẳng còn trai trẻ gì đâu. Khó nói cậu ta bao nhiêu tuổi. Thưa ông Hôm, tôi không mong có người giúp việc nào nhanh nhẹn hơn. Tôi biết rõ cậu ta có thể kiếm chỗ khá hơn, được gấp đôi số tiền tôi trả. Nhưng suy cho cùng, cậu ta đã bằng lòng thì việc gì tôi phải gieo ý nghĩ ấy vào đầu cậu ta?
— Phải, việc gì phải thế? Ông thật là may mắn có được một người làm công chịu nhận lương dưới giá thị trường. Thời buổi này, chủ thuê ít ai gặp được chuyện ấy. Tôi e rằng người giúp việc của ông cũng đáng chú ý chẳng kém gì mẩu quảng cáo kia.
— Ồ, cậu ta cũng có tật chứ, ông Uyn-xơn nói. Chưa thấy ai mê chụp ảnh như cậu ta. Lẽ ra phải lo trau dồi đầu óc thì cậu ta cứ ôm máy ảnh bấm lách tách, rồi lại lặn xuống hầm như con thỏ chui vào hang để rửa ảnh. Đó là cái tật chính của cậu ta, còn nhìn chung thì cậu ta làm ăn chăm chỉ. Cậu ta chẳng có thói hư tật xấu gì.
— Tôi đoán là cậu ta vẫn còn làm cho ông?
— Vâng, thưa ông. Cậu ta với một con bé mười bốn tuổi lo nấu nướng qua loa và quét dọn nhà cửa. Trong nhà tôi chỉ có thế, vì tôi goá vợ và chưa bao giờ có con cái. Ba chúng tôi sống rất lặng lẽ, thưa ông. Có mái nhà che đầu, nợ nần trả đủ, thế là được, chẳng mong gì hơn.
Cái làm chúng tôi đảo lộn đầu tiên chính là mẩu quảng cáo này. Đúng tám tuần trước, Xpôn-đinh cầm tờ báo này đi vào phòng làm việc, và cậu ta nói:
“Lạy Chúa, ước gì tôi là người tóc đỏ, ông Uyn-xơn ạ.”
“Sao lại thế?” tôi hỏi.
“Ấy là vì,” cậu ta nói, “lại có thêm một chỗ trống trong Hội Những Người Tóc Đỏ. Ai được chỗ ấy thì cũng như vớ được một gia tài nho nhỏ. Tôi nghe nói chỗ trống còn nhiều hơn người dự tuyển, đến nỗi mấy ông quản lý quỹ không biết làm gì với số tiền ấy. Giá mà tóc tôi đổi màu được, thì đây là một chỗ ngồi êm ấm chỉ chờ tôi bước vào.”
“Thế cái đó là cái gì?” tôi hỏi. Ông biết đấy, thưa ông Hôm, tôi là người rất ít ra khỏi nhà. Việc làm ăn tự tìm đến tôi chứ tôi không phải đi tìm nó, nên có khi hàng mấy tuần liền tôi không đặt chân ra khỏi bậc cửa. Vì thế tôi chẳng biết mấy chuyện bên ngoài, và lúc nào cũng thích được nghe tin tức.
“Ông chưa bao giờ nghe nói đến Hội Những Người Tóc Đỏ à?” cậu ta tròn mắt hỏi.
“Chưa bao giờ.”
“Lạ thật, vì chính ông cũng đủ tư cách nhận một chỗ.”
“Thế nó đáng giá bao nhiêu?” tôi hỏi.
“Ồ, chỉ vài trăm bảng một năm thôi, nhưng việc thì nhẹ, chẳng ảnh hưởng mấy tới công việc khác của mình.”
Ông cũng dễ hiểu là nghe thế tôi vểnh tai lên ngay, vì mấy năm nay việc làm ăn chẳng khấm khá gì, có thêm vài trăm bảng thì tiện biết bao.
“Kể tôi nghe đầu đuôi xem nào,” tôi nói.
“Thì đây,” cậu ta nói, đưa tôi xem mẩu quảng cáo, “ông tự xem thì thấy hội đang có chỗ trống, và kia là địa chỉ để đến hỏi cho rõ. Theo tôi biết thì hội này do một nhà triệu phú người Mỹ tên là Ê-dê-ki-a Hốp-kin lập ra, một người tính khí rất lạ. Bản thân ông ta tóc đỏ, nên ông ta rất thương cảm những người tóc đỏ. Khi ông ta chết, người ta mới biết ông ta để lại cả gia tài khổng lồ cho mấy người quản lý, dặn lấy tiền lãi lo những chỗ làm nhàn hạ cho đàn ông có mái tóc màu ấy. Nghe đâu lương thì hậu mà việc thì chẳng có bao nhiêu.”
“Nhưng mà,” tôi nói, “thế thì sẽ có hàng triệu người tóc đỏ nộp đơn.”
“Không nhiều như ông tưởng đâu,” cậu ta đáp. “Ông thấy đấy, hội chỉ nhận người Luân Đôn, và phải là người lớn. Ông người Mỹ này hồi trẻ khởi nghiệp từ Luân Đôn, nên muốn làm chút gì tốt cho thành phố cũ. Lại nữa, tôi nghe nói nếu tóc ông đỏ nhạt, hay đỏ sẫm, hay bất cứ màu gì không phải màu đỏ tươi rực rỡ như lửa, thì nộp đơn cũng vô ích. Ông Uyn-xơn ạ, nếu ông muốn nộp đơn thì ông cứ việc bước vào là được. Nhưng có lẽ vì mấy trăm bảng mà phải bỏ công bỏ việc thì cũng chẳng bõ.”
Thưa hai ông, như hai ông tự thấy đấy, quả thật tóc tôi có màu rất đậm và rất đẹp, nên tôi nghĩ nếu có cuộc tranh đua thì cơ hội của tôi cũng chẳng kém bất kỳ ai tôi từng gặp. Vin-xăng Xpôn-đinh có vẻ rành chuyện này quá, nên tôi nghĩ cậu ta có thể giúp được việc. Thế là tôi bảo cậu ta đóng cửa hiệu nghỉ một ngày, rồi đi ngay với tôi. Cậu ta mừng rỡ được nghỉ, nên chúng tôi đóng cửa và lên đường tới địa chỉ ghi trong mẩu quảng cáo.
Thưa ông Hôm, tôi không bao giờ mong được thấy lại cảnh tượng ấy nữa. Từ bắc chí nam, từ đông sang tây, hễ ai có chút màu đỏ trên tóc là lũ lượt kéo vào thành phố để ứng tuyển. Phố Phlít chật cứng người tóc đỏ, còn ngõ Pốp thì trông như xe cam của người bán rong. Tôi không ngờ cả nước lại có nhiều người tóc đỏ đến thế, vậy mà chỉ một mẩu quảng cáo đã gom họ lại một chỗ. Đủ mọi sắc đỏ: màu rơm, màu chanh, màu cam, màu gạch, màu lông chó săn Ai-len, màu gan, màu đất sét. Nhưng như Xpôn-đinh nói, chẳng có mấy người mang đúng cái màu lửa đỏ rực. Thấy người chờ đông như thế, tôi đã toan bỏ cuộc vì tuyệt vọng. Nhưng Xpôn-đinh nhất định không nghe. Tôi không hiểu cậu ta làm cách nào, nhưng cậu ta cứ đẩy, cứ kéo, cứ húc, cho tới khi đưa được tôi qua đám đông, tới ngay bậc thang dẫn lên văn phòng. Trên cầu thang có hai dòng người, một dòng đi lên đầy hy vọng, một dòng đi xuống ủ rũ. Chúng tôi cố lách vào, và chẳng mấy chốc đã đứng trong văn phòng.
— Chuyện ông trải qua quả là thú vị hết sức, Hôm nhận xét khi thân chủ của anh dừng lại, hít một nhúm thuốc bột thật to cho tỉnh trí. Xin ông kể tiếp câu chuyện rất hay của ông.
— Trong văn phòng chẳng có gì ngoài vài chiếc ghế gỗ và một cái bàn gỗ thông. Sau bàn là một người đàn ông nhỏ thó, đầu còn đỏ hơn đầu tôi. Ứng viên nào bước lên, ông ta cũng nói vài câu, rồi bao giờ cũng tìm ra được một điểm gì đó để loại người ta. Rốt cuộc thì kiếm được chỗ ấy hoá ra chẳng dễ chút nào. Thế nhưng khi tới lượt chúng tôi, người đàn ông nhỏ thó tỏ ra ưng tôi hơn hẳn mọi người khác. Ông ta đóng cửa lại khi chúng tôi bước vào, để nói chuyện riêng với chúng tôi.
“Đây là ông Gia-bê Uyn-xơn,” người giúp việc của tôi nói, “ông ấy muốn nhận chỗ trống trong hội.”
“Và ông ấy hợp với chỗ ấy một cách tuyệt vời,” người kia đáp. “Ông ấy có đủ mọi điều kiện. Tôi không nhớ đã bao giờ thấy mái tóc nào đẹp đến thế.” Ông ta lùi lại một bước, nghiêng đầu ngắm tóc tôi đến nỗi tôi phát ngượng. Rồi bất thình lình ông ta lao tới, nắm chặt tay tôi lắc mạnh, nhiệt liệt chúc mừng tôi đã thành công.
“Còn ngần ngừ thì thật là bất công,” ông ta nói. “Tuy vậy, tôi tin ông sẽ thứ lỗi cho tôi vì một biện pháp đề phòng tất yếu.” Nói rồi ông ta túm lấy tóc tôi bằng cả hai tay mà giật, giật mãi tới khi tôi kêu lên vì đau. “Ông chảy nước mắt rồi,” ông ta nói khi buông tôi ra. “Tôi thấy mọi thứ đều đúng như phải thế. Nhưng chúng tôi phải cẩn thận, vì đã hai lần bị lừa bằng tóc giả và một lần bằng thuốc nhuộm. Tôi có thể kể cho ông nghe những chuyện dùng sáp thợ giày, nghe xong ông sẽ phát ghê với cái bản chất con người.” Ông ta bước tới bên cửa sổ, gào to hết cỡ xuống dưới rằng chỗ trống đã có người. Dưới đường vọng lên một tiếng rên đầy thất vọng, rồi đám đông kéo nhau tản đi mọi ngả, cho tới khi chẳng còn thấy một cái đầu đỏ nào, ngoài đầu tôi và đầu ông quản lý.
“Tên tôi là Đăng-cân Rốt,” ông ta nói, “và chính tôi cũng là một người được hưởng trợ cấp từ quỹ của vị ân nhân cao quý của chúng ta. Ông có vợ chưa, ông Uyn-xơn? Ông có gia đình chưa?”
Tôi đáp là chưa.
Mặt ông ta lập tức xịu xuống.
“Trời ơi!” ông ta nghiêm trọng nói. “Chuyện này nghiêm trọng thật đấy! Tôi rất tiếc khi nghe ông nói vậy. Dĩ nhiên quỹ này lập ra không chỉ để nuôi người tóc đỏ, mà còn để nhân giống, để người tóc đỏ sinh sôi nảy nở. Ông lại sống độc thân, thật là không may vô cùng.”
Nghe thế, thưa ông Hôm, mặt tôi dài thượt ra, vì tôi tưởng rốt cuộc mình không được nhận. Nhưng ngẫm nghĩ một lúc, ông ta bảo là không sao.
“Nếu là người khác,” ông ta nói, “thì điều ấy có thể làm hỏng hết. Nhưng với một người có mái tóc như ông thì chúng tôi phải châm chước. Bao giờ ông có thể bắt đầu nhận việc mới?”
“Ấy, việc này hơi khó, vì tôi đã có một cửa hiệu rồi,” tôi nói.
“Ồ, ông đừng lo chuyện đó, ông Uyn-xơn!” Vin-xăng Xpôn-đinh nói. “Tôi có thể trông nom cửa hiệu thay ông.”
“Làm việc giờ nào?” tôi hỏi.
“Từ mười giờ sáng đến hai giờ chiều.”
Thưa ông Hôm, nghề cầm đồ thì phần lớn khách đến vào buổi tối, nhất là tối thứ năm và tối thứ sáu, ngay trước ngày lĩnh lương. Cho nên kiếm thêm chút tiền vào buổi sáng thì hợp với tôi lắm. Vả lại, tôi biết người giúp việc của tôi là người tốt, có việc gì cậu ta cũng lo liệu được.
“Giờ ấy thì hợp với tôi lắm,” tôi nói. “Còn lương?”
“Bốn bảng một tuần.”
“Còn công việc?”
“Hoàn toàn chiếu lệ.”
“Ông gọi thế nào là hoàn toàn chiếu lệ?”
“Thế này, ông phải có mặt trong văn phòng, hay ít ra là trong toà nhà, suốt thời gian ấy. Nếu ông bỏ đi, ông sẽ mất chỗ vĩnh viễn. Di chúc đã ghi rất rõ điều này. Hễ ông rời khỏi văn phòng trong giờ làm, tức là ông không tuân thủ điều kiện.”
“Chỉ có bốn tiếng mỗi ngày, tôi chẳng nghĩ tới chuyện bỏ đi đâu,” tôi nói.
“Không có lý do nào được chấp nhận,” ông Đăng-cân Rốt nói, “ốm đau cũng không, bận việc cũng không, chẳng gì cả. Ông phải ở lì đó, bằng không là mất chỗ.”
“Thế còn công việc?”
“Là chép lại bộ Bách khoa toàn thư Bri-ta-ni-ca. Tập thứ nhất ở trong cái tủ kia. Ông phải tự lo mực, bút và giấy thấm, còn chúng tôi cấp cho ông cái bàn và cái ghế này. Mai ông bắt đầu được chứ?”
“Được chứ,” tôi đáp.
“Vậy thì xin chào ông Gia-bê Uyn-xơn, và cho phép tôi chúc mừng ông lần nữa vì ông đã may mắn có được một chức vụ quan trọng như thế.” Ông ta cúi chào tiễn tôi ra khỏi phòng, còn tôi về nhà cùng người giúp việc, mừng vì vận may của mình đến nỗi chẳng biết nói gì, làm gì.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám