Truyện Đỉnh

🔍 Truyện trinh thám

Chàng rể biến mất

Sơ-lốc Hôm: Một vụ nhầm lẫn danh tính · Chương 1/2 · của Arthur Conan Doyle

⏱ 24 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 23.697 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Một tối, tôi và Sơ-lốc Hôm ngồi hai bên…
  2. 3:25Chừng mười hay mười hai vụ, nhưng chẳng vụ…
  3. 7:18Vâng, bố dượng. Tôi vẫn gọi là bố, dù…
  4. 10:33Vâng, thưa ông. Tôi gặp anh ấy tối hôm…
  5. 11:54Đến bưu điện phố Lê-đơn-hôn, để đó chờ người…
  6. 15:32Không.
  7. 17:06Địa chỉ của ông En-giơn thì cô chưa bao…
  8. 20:49Còn gì nữa? tôi hỏi, vô cùng thích thú,…

Chương 1: Chàng rể biến mất

Một tối, tôi và Sơ-lốc Hôm ngồi hai bên lò sưởi trong căn phòng trọ của anh ở phố Bây-cơ. Hôm nói:

— Anh bạn thân mến ạ, đời sống lạ lùng hơn gấp bội bất cứ thứ gì đầu óc con người có thể bịa ra. Có những điều thật ra chỉ là chuyện thường ngày, vậy mà chúng ta chẳng dám nghĩ tới. Giả sử hai ta có thể nắm tay nhau bay ra khỏi cửa sổ kia, lượn trên thành phố lớn này, khẽ nhấc từng mái nhà lên mà nhòm vào những chuyện kỳ quặc đang diễn ra bên dưới. Những sự trùng hợp lạ lùng, những mưu tính, những ý đồ ngược chiều nhau, những chuỗi sự kiện kỳ diệu nối dài qua bao thế hệ để rồi dẫn tới những kết cục quái lạ nhất. Khi ấy, mọi thứ tiểu thuyết với lối mòn và cái kết đoán trước được của nó sẽ hoá ra nhạt nhẽo và vô vị biết bao.

— Thế mà tôi vẫn chưa tin, tôi đáp. Những vụ án lên báo, nói chung, đều trơ trụi và tầm thường lắm. Trong các biên bản của cảnh sát, chủ nghĩa hiện thực đã bị đẩy tới tận cùng. Vậy mà phải thú thật, kết quả chẳng hấp dẫn, cũng chẳng có chút nghệ thuật nào.

— Muốn tạo được cảm giác chân thực thì phải biết chọn lọc và cân nhắc, Hôm nhận xét. Biên bản cảnh sát thiếu đúng cái đó. Ở đấy, người ta chú trọng những lời sáo rỗng của quan toà hơn là các chi tiết, mà với người biết quan sát, chi tiết mới chứa cốt tuỷ của cả sự việc. Anh cứ tin tôi đi, chẳng có gì trái tự nhiên bằng chính cái tầm thường.

Tôi mỉm cười, lắc đầu.

— Tôi hiểu vì sao anh nghĩ vậy, tôi nói. Dĩ nhiên rồi, ở cương vị người cố vấn không chính thức, người giúp đỡ bất kỳ ai đang hoàn toàn bế tắc khắp ba châu lục, anh được tiếp xúc với đủ mọi chuyện kỳ lạ và quái dị. Nhưng đây này.

Tôi nhặt tờ báo buổi sáng dưới sàn lên.

— Ta thử kiểm nghiệm trong thực tế xem. Đây là cái tít đầu tiên tôi bắt gặp: “Người chồng tàn nhẫn với vợ”. Bài dài nửa cột báo, nhưng chẳng cần đọc tôi cũng biết trong đó toàn những chuyện quen thuộc cả. Tất nhiên là có một người đàn bà khác, có rượu chè, có xô đẩy, có đánh đập, có vết bầm tím, có bà chị hay bà chủ nhà ra mặt bênh vực. Đến cây bút vụng về nhất cũng chẳng bịa ra được thứ gì vụng về hơn.

— Ấy thế mà ví dụ của anh lại rất xui cho lý lẽ của anh đấy, Hôm nói, cầm lấy tờ báo và đưa mắt lướt qua. Đây là vụ ly thân nhà Đan-đát. Tình cờ làm sao, chính tôi từng được nhờ làm sáng tỏ vài điểm nhỏ trong vụ này. Ông chồng không hề uống rượu, chẳng có người đàn bà nào khác. Điều bị đem ra kêu ca là ông ta dần dà mắc cái thói, hễ ăn xong bữa nào là tháo hàm răng giả ra ném thẳng vào vợ. Anh phải công nhận đó không phải là việc mà trí tưởng tượng của một người kể chuyện bình thường nghĩ ra được. Mời bác sĩ một nhúm thuốc hít, và thừa nhận rằng ngay với chính ví dụ của anh, tôi đã thắng anh một bàn.

Anh chìa ra một hộp thuốc hít bằng vàng cổ, chính giữa nắp gắn một viên thạch anh tím rất to. Vẻ lộng lẫy của nó trái hẳn với nếp sống giản dị, xuề xoà của anh, đến nỗi tôi không nhịn được phải hỏi.

— À, anh nói, tôi quên mất là đã mấy tuần nay ta không gặp nhau. Đây là món quà nhỏ của vua xứ Bô-hem, đáp lễ việc tôi giúp ngài trong vụ những giấy tờ của I-rin Át-lơ.

— Còn chiếc nhẫn? tôi hỏi, mắt liếc viên kim cương tuyệt đẹp lấp lánh trên ngón tay anh.

— Của hoàng gia Hà Lan. Có điều việc tôi giúp họ tế nhị đến mức tôi không thể kể cả với anh, người đã có lòng ghi chép lại dăm ba bài toán nho nhỏ của tôi.

— Thế hiện giờ anh có vụ nào trong tay không? tôi tò mò hỏi.

— Chừng mười hay mười hai vụ, nhưng chẳng vụ nào đáng chú ý. Anh hiểu cho, chúng quan trọng mà không thú vị. Thật ra tôi nhận thấy chính trong những việc không quan trọng mới có đất cho sự quan sát, cho lối phân tích nhanh nhạy nhân với quả, là thứ làm nên cái thú của một cuộc điều tra. Những tội ác lớn thường lại đơn giản hơn, vì tội càng lớn thì động cơ, nói chung, càng lộ rõ. Trong mấy vụ đang có, trừ một việc khá rắc rối người ta gửi từ Mác-xây sang, chẳng có gì đáng để tâm. Tuy vậy, chỉ ít phút nữa thôi, biết đâu tôi lại có việc gì hay hơn, vì nếu tôi không lầm thì kia là một thân chủ của tôi.

Anh đã đứng dậy khỏi ghế, đứng giữa hai cánh rèm vén hé, nhìn xuống con phố Luân Đôn xám xịt, đơn điệu. Nhìn qua vai anh, tôi thấy trên vỉa hè bên kia đường có một người đàn bà to lớn, cổ quàng chiếc khăn lông thú dày cộm. Trên đầu bà là chiếc mũ rộng vành cắm một chiếc lông đỏ to cong vút, đội lệch hẳn sang một bên tai, ra dáng điệu đà theo kiểu nữ công tước Đơ-vơn-sia. Từ dưới cả bộ trang phục đồ sộ ấy, bà ngước nhìn lên cửa sổ nhà chúng tôi, vẻ bồn chồn, lưỡng lự. Người bà cứ đung đưa tới lui, ngón tay mân mê mãi mấy chiếc khuy găng. Bỗng bà lao vụt qua đường, như người bơi rời khỏi bờ nhảy ùm xuống nước. Rồi chúng tôi nghe tiếng chuông cửa reo vang lanh lảnh.

— Tôi đã gặp những triệu chứng này rồi, Hôm nói, ném điếu thuốc vào lò sưởi. Đứng đung đưa trên vỉa hè như thế bao giờ cũng là chuyện tình cảm. Cô ấy muốn xin lời khuyên, nhưng chưa chắc chuyện có quá tế nhị để kể ra hay không. Tuy vậy, ngay cả ở đây ta vẫn phân biệt được. Khi một người đàn bà bị một người đàn ông làm hại nặng nề, cô ta không còn đung đưa nữa, và triệu chứng thường thấy là sợi dây chuông bị giật đứt. Còn ở đây, có thể đoán đây là chuyện tình, nhưng cô gái không giận dữ bằng bối rối, hay buồn phiền. Nhưng kìa, chính cô ấy đến để giải đáp thắc mắc của ta đây.

Anh vừa nói dứt thì có tiếng gõ cửa. Cậu bé hầu phòng mặc áo đính khuy bước vào báo có cô Ma-ri Xơ-thơ-lân tới. Bản thân quý cô sừng sững phía sau cái bóng đen nhỏ bé của cậu bé, như một chiếc thuyền buôn căng đầy buồm phía sau chiếc xuồng hoa tiêu tí xíu. Sơ-lốc Hôm đón cô với vẻ lịch thiệp thoải mái vốn rất đặc biệt ở anh. Anh đóng cửa, cúi chào mời cô ngồi vào ghế bành, rồi nhìn cô từ đầu tới chân, theo cái lối vừa tỉ mỉ lại vừa như lơ đãng chỉ riêng anh mới có.

— Cô không thấy rằng, anh nói, mắt cô cận như thế mà đánh máy nhiều như vậy thì hơi mệt sao?

— Lúc đầu thì có, cô đáp, nhưng giờ tôi không cần nhìn cũng biết các chữ nằm ở đâu.

Rồi bỗng hiểu ra trọn ý câu nói của anh, cô giật nảy mình, ngước lên, khuôn mặt to bè, phúc hậu đầy vẻ sợ hãi lẫn kinh ngạc.

— Ông đã nghe người ta nói về tôi rồi, thưa ông Hôm, cô kêu lên, không thì sao ông biết được cả chuyện đó?

— Cô đừng bận tâm, Hôm cười đáp. Biết mọi chuyện là nghề của tôi mà. Có lẽ tôi đã tự rèn cho mình nhìn ra những gì người khác bỏ qua. Nếu không thì cô tìm đến hỏi ý tôi làm gì?

— Thưa ông, tôi đến tìm ông vì nghe bà E-thơ-rít kể về ông. Chồng bà ấy, ông tìm ra dễ như trở bàn tay, trong khi cảnh sát và mọi người đã coi như ông ấy chết rồi. Ôi, thưa ông Hôm, tôi mong ông cũng làm được như thế cho tôi. Tôi không giàu, nhưng tôi có riêng một trăm bảng mỗi năm, chưa kể chút tiền kiếm được nhờ cái máy chữ. Tôi sẵn sàng bỏ ra hết để biết ông Hốt-mơ En-giơn ra sao rồi.

— Sao cô lại vội vã đi ra khỏi nhà để đến hỏi ý tôi như thế? Sơ-lốc Hôm hỏi, mười đầu ngón tay chụm vào nhau, mắt nhìn lên trần nhà.

Khuôn mặt hơi ngây ngô của cô Ma-ri Xơ-thơ-lân lại thoáng vẻ giật mình.

— Vâng, đúng là tôi đã đùng đùng bỏ ra khỏi nhà, cô nói. Vì tôi tức quá khi thấy ông Uyn-đi-băng, tức là bố tôi, cứ dửng dưng như không. Ông không chịu đi báo cảnh sát, cũng không chịu đến gặp ông. Rốt cuộc, thấy ông chẳng chịu làm gì mà cứ một mực bảo là có hại gì đâu, tôi phát điên lên, khoác vội quần áo rồi đi thẳng đến đây.

— Bố cô ư? Hôm nói. Hẳn là bố dượng chứ, vì họ khác nhau mà.

— Vâng, bố dượng. Tôi vẫn gọi là bố, dù nghe cũng buồn cười, vì ông chỉ hơn tôi có năm tuổi hai tháng.

— Mẹ cô vẫn còn sống chứ?

— Ồ vâng, mẹ tôi vẫn sống khoẻ mạnh. Thưa ông Hôm, tôi chẳng vui chút nào khi bố tôi mất chưa bao lâu mà mẹ đã đi bước nữa, lại lấy một người trẻ hơn bà gần mười lăm tuổi. Bố tôi làm thợ ống nước ở đường Tót-tơ-nam Cót, để lại một cửa hiệu làm ăn khấm khá. Mẹ tôi tiếp tục trông coi cùng với ông Hác-đi, người đốc công. Nhưng ông Uyn-đi-băng đến thì bắt mẹ bán cửa hiệu đi, vì ông ấy làm nghề chào hàng rượu vang, coi mình cao sang hơn. Bán cả lưng vốn lẫn khách hàng được bốn nghìn bảy trăm bảng, chẳng thấm vào đâu so với số bố tôi có thể bán được nếu ông còn sống.

Tôi đã tưởng Sơ-lốc Hôm sẽ sốt ruột trước câu chuyện lan man, chẳng đầu chẳng đuôi ấy. Nhưng trái lại, anh lắng nghe hết sức chăm chú.

— Khoản thu nhập nho nhỏ của riêng cô, anh hỏi, có phải lấy từ cửa hiệu ấy không?

— Ồ không, thưa ông. Đó là khoản riêng, chú Nét của tôi ở Ốc-lân để lại. Tiền gửi vào trái phiếu Niu Di-lân, lãi bốn phẩy năm phần trăm. Vốn là hai nghìn năm trăm bảng, nhưng tôi chỉ được tiêu tiền lãi thôi.

— Cô làm tôi thấy cực kỳ thú vị, Hôm nói. Đã có khoản lớn tới một trăm bảng mỗi năm, lại thêm tiền cô tự kiếm được, chắc hẳn cô cũng đi đây đi đó đôi chút và chẳng thiếu thứ gì. Tôi tin một cô gái độc thân sống rất thong thả với chừng sáu mươi bảng một năm.

— Thưa ông Hôm, tôi tiêu ít hơn thế nhiều cũng được. Nhưng ông hiểu cho, chừng nào còn ở nhà thì tôi không muốn làm gánh nặng cho họ. Nên trong lúc tôi ở với họ, họ được dùng số tiền ấy. Dĩ nhiên chỉ là tạm thời thôi. Cứ mỗi quý, ông Uyn-đi-băng lĩnh tiền lãi của tôi rồi đưa cho mẹ. Còn tôi thấy sống cũng khá ổn bằng tiền đánh máy. Mỗi trang được hai xu, mà ngày nào tôi cũng đánh được mười lăm đến hai mươi trang.

— Cô đã nói rõ hoàn cảnh của cô rồi, Hôm nói. Đây là bạn tôi, bác sĩ Oát-xơn. Trước mặt anh ấy cô cứ nói thoải mái như trước mặt tôi. Giờ xin cô kể cho chúng tôi nghe tất cả về mối quan hệ giữa cô với ông Hốt-mơ En-giơn.

Mặt cô Xơ-thơ-lân ửng đỏ. Cô lúng túng bứt bứt dải tua trên áo khoác.

— Tôi gặp anh ấy lần đầu ở buổi khiêu vũ của hội thợ lắp đặt ống khí đốt, cô kể. Hồi bố tôi còn sống, họ vẫn gửi vé mời bố. Về sau họ vẫn nhớ đến chúng tôi, gửi vé cho mẹ. Ông Uyn-đi-băng không muốn chúng tôi đi. Ông chẳng bao giờ muốn chúng tôi đi đâu cả. Đến cả chuyện tôi muốn đi dự buổi liên hoan của lớp giáo lý ngày Chủ nhật, ông cũng nổi cáu. Nhưng lần này tôi quyết đi, và nhất định phải đi. Ông lấy quyền gì mà cấm chứ? Ông bảo những người ấy không xứng để chúng tôi giao du, trong khi toàn là bạn bè của bố tôi. Ông lại bảo tôi chẳng có bộ nào ra hồn mà mặc, trong khi tôi còn bộ nhung tím chưa từng lấy ra khỏi ngăn kéo. Cuối cùng, thấy chẳng cách nào cản được, ông đi Pháp lo việc cho hãng. Còn mẹ con tôi thì vẫn đi, cùng với ông Hác-đi, người đốc công cũ của nhà. Chính ở đó tôi gặp ông Hốt-mơ En-giơn.

— Tôi đoán, Hôm nói, khi ở Pháp về, ông Uyn-đi-băng rất bực vì cô đã đi khiêu vũ.

— Ồ, ông lại rất dễ chịu về chuyện đó. Tôi nhớ ông cười, nhún vai, bảo rằng cấm đoán đàn bà cái gì cũng vô ích, đằng nào họ cũng làm theo ý họ.

— Tôi hiểu. Vậy ở buổi khiêu vũ của hội thợ khí đốt, như tôi hiểu, cô đã gặp một quý ông tên là Hốt-mơ En-giơn.

— Vâng, thưa ông. Tôi gặp anh ấy tối hôm đó. Hôm sau anh ấy đến hỏi thăm xem chúng tôi về nhà có bình an không. Sau đó chúng tôi gặp anh ấy, nói đúng ra, thưa ông Hôm, là tôi gặp anh ấy hai lần để đi dạo. Nhưng sau đó bố tôi về, và ông Hốt-mơ En-giơn không đến nhà được nữa.

— Không ư?

— Vâng, ông biết đấy, bố tôi không ưa những chuyện như vậy. Có thể tránh được là ông chẳng muốn tiếp ai. Ông vẫn bảo đàn bà phải biết vui trong vòng gia đình mình. Nhưng tôi vẫn nói với mẹ, đàn bà thì trước hết phải có vòng gia đình của riêng mình đã chứ, mà tôi thì chưa có.

— Thế còn ông Hốt-mơ En-giơn? Ông ấy không tìm cách gặp cô à?

— Dạ, một tuần sau bố tôi lại đi Pháp, nên Hốt-mơ viết thư bảo tốt hơn và an toàn hơn là đừng gặp nhau cho tới khi bố đi. Trong lúc ấy chúng tôi viết thư cho nhau, ngày nào anh ấy cũng viết. Buổi sáng tôi ra nhận thư, nên bố chẳng cần biết.

— Lúc ấy cô đã đính hôn với ông ta chưa?

— Ồ rồi, thưa ông Hôm. Chúng tôi đính hôn ngay sau lần đi dạo đầu tiên. Hốt-mơ, tức ông En-giơn, làm thủ quỹ ở một văn phòng trên phố Lê-đơn-hôn, và…

— Văn phòng nào?

— Khổ nhất là chỗ đó, thưa ông Hôm. Tôi không biết.

— Vậy ông ta sống ở đâu?

— Anh ấy ngủ ngay tại chỗ làm.

— Và cô không biết địa chỉ của ông ta?

— Không, chỉ biết là phố Lê-đơn-hôn.

— Vậy cô gửi thư đến đâu?

— Đến bưu điện phố Lê-đơn-hôn, để đó chờ người tới lấy. Anh ấy bảo nếu gửi về văn phòng, mấy anh thư ký khác sẽ trêu anh vì có thư của đàn bà. Tôi định đánh máy thư như anh ấy vẫn làm, nhưng anh không chịu. Anh bảo thư tôi viết tay thì như chính tôi gửi đến, còn thư đánh máy thì anh luôn thấy như cái máy đã chen vào giữa hai đứa. Ông xem, chỉ thế thôi cũng đủ thấy anh ấy yêu tôi biết chừng nào, thưa ông Hôm, và anh ấy để ý đến từng chuyện nhỏ nhặt như thế nào.

— Điều đó gợi ý rất nhiều, Hôm nói. Từ lâu tôi đã coi là chân lý rằng những chuyện nhỏ nhặt lại quan trọng hơn hết thảy. Cô có nhớ thêm điều nhỏ nhặt nào khác về ông Hốt-mơ En-giơn không?

— Anh ấy rất nhút nhát, thưa ông Hôm. Anh thích đi dạo với tôi buổi tối hơn là ban ngày, vì anh bảo anh ghét bị người ta để ý. Anh rất kín đáo, rất lịch sự. Đến giọng nói cũng nhỏ nhẹ. Anh kể hồi nhỏ bị viêm họng và sưng hạch, để lại cái cổ họng yếu, nên anh nói ấp úng, thì thào. Anh lúc nào cũng ăn mặc tươm tất, rất gọn gàng giản dị. Nhưng mắt anh yếu, cũng như mắt tôi, nên anh đeo kính màu cho đỡ chói.

— Được rồi. Thế chuyện gì xảy ra khi ông Uyn-đi-băng, bố dượng cô, trở sang Pháp?

— Ông Hốt-mơ En-giơn lại đến nhà, và ngỏ ý chúng tôi nên cưới trước khi bố về. Anh nghiêm trang ghê lắm, bắt tôi đặt tay lên cuốn Kinh Thánh mà thề rằng dù có chuyện gì xảy ra, tôi cũng mãi mãi chung thuỷ với anh. Mẹ tôi bảo anh bắt tôi thề như vậy là rất phải, và đó là dấu hiệu của tình yêu nồng nàn. Ngay từ đầu mẹ đã hết lòng ủng hộ anh, còn quý anh hơn cả tôi nữa. Rồi khi họ bàn chuyện cưới ngay trong tuần, tôi mới hỏi đến bố. Nhưng cả hai đều bảo đừng bận tâm đến bố, cứ cưới xong rồi hẵng báo, mẹ sẽ lo thu xếp ổn thoả với ông. Tôi không thích thế lắm, thưa ông Hôm. Phải xin phép ông thì cũng buồn cười thật, vì ông chỉ hơn tôi có vài tuổi. Nhưng tôi không muốn làm gì lén lút, nên tôi viết thư cho bố ở Boóc-đô, nơi hãng của ông có văn phòng bên Pháp. Thế mà lá thư bị trả lại cho tôi đúng vào buổi sáng hôm cưới.

— Vậy là thư không tới tay ông ấy?

— Vâng, thưa ông, vì ông đã lên đường về Anh ngay trước khi thư tới.

— Chà! Thật không may. Vậy là đám cưới định vào thứ Sáu. Có cử hành ở nhà thờ không?

— Có, thưa ông, nhưng rất đơn sơ. Hôn lễ làm ở nhà thờ Thánh Cứu Thế gần ga Kinh-xơ Crốt, sau đó chúng tôi ăn sáng ở khách sạn Xanh Pan-crát. Hốt-mơ đi xe ngựa hai bánh đến đón chúng tôi. Nhưng vì có hai mẹ con, anh để chúng tôi ngồi xe đó, còn anh bước lên một chiếc xe bốn bánh, chiếc xe duy nhất còn lại trên phố. Chúng tôi tới nhà thờ trước. Khi chiếc xe bốn bánh đỗ lại, chúng tôi chờ anh bước xuống, nhưng mãi chẳng thấy. Bác xà ích trèo xuống khỏi ghế nhìn vào, thì trong xe chẳng có ai cả! Bác xà ích bảo bác không tài nào hiểu nổi anh ấy biến đi đâu, vì chính mắt bác thấy anh bước lên xe. Chuyện đó xảy ra hôm thứ Sáu tuần trước, thưa ông Hôm. Từ đó tới nay tôi không hề thấy hay nghe được điều gì giúp tôi biết anh ấy ra sao.

— Tôi thấy hình như cô đã bị đối xử thật tệ bạc, Hôm nói.

— Ồ không, thưa ông! Anh ấy tốt và tử tế lắm, không đời nào bỏ tôi như thế. Này nhé, suốt buổi sáng hôm ấy anh cứ nhắc tôi rằng dù có chuyện gì xảy ra, tôi cũng phải chung thuỷ. Rằng kể cả có điều gì bất ngờ chia cắt hai đứa, tôi cũng phải luôn nhớ mình đã hứa với anh, và sớm muộn gì anh cũng sẽ đến đòi lời hứa ấy. Sáng ngày cưới mà nói những lời như thế thì nghe cũng lạ, nhưng chuyện xảy ra sau đó đã cho thấy ý nghĩa của chúng.

— Hẳn là vậy. Vậy theo ý cô, ông ấy đã gặp một tai hoạ bất ngờ nào đó?

— Vâng, thưa ông. Tôi tin anh ấy đã thấy trước một mối nguy nào đó, không thì anh đã chẳng nói như vậy. Và tôi nghĩ điều anh thấy trước đã xảy ra thật.

— Nhưng cô không đoán được đó là chuyện gì?

— Không.

— Một câu hỏi nữa. Mẹ cô đón nhận chuyện này thế nào?

— Mẹ giận lắm, và bảo tôi không bao giờ được nhắc đến chuyện đó nữa.

— Còn bố cô? Cô có kể với ông ấy không?

— Có. Ông cũng nghĩ như tôi, rằng đã có chuyện gì xảy ra, và rồi tôi sẽ lại có tin của Hốt-mơ. Như ông nói, ai lại có lợi gì khi đưa tôi đến tận cửa nhà thờ rồi bỏ đi? Giả như anh ấy đã vay tiền của tôi, hoặc đã cưới tôi rồi được tôi giao tiền cho, thì còn có lý do. Đằng này Hốt-mơ rất tự trọng về chuyện tiền nong, chẳng bao giờ thèm ngó tới một đồng si-linh của tôi. Vậy thì chuyện gì có thể xảy ra chứ? Và sao anh ấy không viết thư? Ôi, cứ nghĩ đến là tôi phát điên lên, đêm nào cũng không chợp mắt được.

Cô rút trong bao tay ra một chiếc khăn tay nhỏ, úp mặt vào khóc nức nở.

— Tôi sẽ xem xét vụ này giúp cô, Hôm vừa nói vừa đứng dậy, và tôi tin chắc chúng ta sẽ đi tới một kết quả rõ ràng. Giờ cô cứ để tôi gánh lấy chuyện này, đừng nghĩ ngợi về nó thêm nữa. Trên hết, hãy cố để ông Hốt-mơ En-giơn biến khỏi trí nhớ của cô, như ông ta đã biến khỏi đời cô.

— Vậy ông nghĩ tôi sẽ không gặp lại anh ấy nữa sao?

— Tôi e là không.

— Thế thì anh ấy đã ra sao?

— Câu hỏi ấy cô cứ để tôi lo. Tôi muốn có một bản mô tả chính xác về ông ta, và những lá thư nào của ông ta mà cô có thể để lại.

— Thứ Bảy vừa rồi tôi đã đăng tin tìm anh ấy trên báo “Crô-ni-cơn”, cô nói. Đây là mẩu báo, còn đây là bốn lá thư của anh ấy.

— Cảm ơn cô. Còn địa chỉ của cô?

— Số 31 phố Lai-ơn, khu Cam-bơ-oen.

— Địa chỉ của ông En-giơn thì cô chưa bao giờ có, tôi hiểu rồi. Còn bố cô làm việc ở đâu?

— Ông chào hàng cho hãng Oét-hao-xơ và Ma-băng, hãng nhập khẩu rượu vang đỏ lớn trên phố Phen-chơc.

— Cảm ơn cô. Cô đã trình bày rất rõ ràng. Cô cứ để giấy tờ lại đây, và hãy nhớ lời khuyên tôi đã nói. Hãy coi cả chuyện này như một cuốn sách đã gấp lại, đừng để nó ảnh hưởng đến đời cô.

— Ông thật tốt, thưa ông Hôm, nhưng tôi không làm thế được. Tôi sẽ chung thuỷ với Hốt-mơ. Khi anh ấy trở về, anh sẽ thấy tôi vẫn đợi.

Dù chiếc mũ lố bịch và khuôn mặt có phần ngây ngô, vẫn có một điều gì cao quý trong niềm tin chất phác của vị khách, khiến chúng tôi không thể không kính trọng. Cô đặt tập giấy nhỏ lên bàn rồi ra về, hứa sẽ trở lại bất cứ khi nào được gọi.

Sơ-lốc Hôm ngồi im lặng mấy phút, đầu ngón tay vẫn chụm vào nhau, hai chân duỗi thẳng ra trước, mắt hướng lên trần. Rồi anh với lấy trên giá chiếc tẩu đất sét cũ bóng dầu, thứ vẫn là người cố vấn của anh. Châm tẩu xong, anh ngả lưng ra ghế, những cuộn khói xanh đặc quánh xoáy lên quanh anh, gương mặt mang một vẻ uể oải vô cùng.

— Cô gái ấy là một đối tượng nghiên cứu khá thú vị, anh nhận xét. Tôi thấy cô ấy thú vị hơn cả bài toán nhỏ của cô, mà bài toán ấy, nhân tiện nói luôn, khá là cũ rích. Nếu tra sổ ghi chép của tôi, anh sẽ thấy những vụ tương tự ở An-đô-vơ năm bảy mươi bảy, và năm ngoái ở La Hay cũng có chuyện na ná. Ý tưởng tuy cũ, nhưng vẫn có một hai chi tiết mới với tôi. Còn bản thân cô gái thì dạy cho ta được nhiều điều lắm.

— Hình như anh đọc ra ở cô ấy khối điều mà tôi hoàn toàn không thấy, tôi nói.

— Không phải không thấy, mà là không để ý, Oát-xơn ạ. Anh không biết nhìn vào đâu, nên bỏ sót mọi thứ quan trọng. Tôi chẳng bao giờ làm anh hiểu được tầm quan trọng của ống tay áo, những điều móng tay cái gợi ra, hay những việc lớn có thể treo trên một sợi dây giày. Nào, anh rút ra được gì từ vẻ ngoài của người đàn bà ấy? Tả lại xem.

— Thì cô ấy đội chiếc mũ rơm rộng vành màu xám đá, cắm lông màu đỏ gạch. Áo khoác đen, đính hạt đen, viền một dải tua kết hạt huyền nhỏ. Váy nâu, sẫm hơn màu cà phê một chút, cổ và tay viền nhung tím. Găng tay màu xám nhạt, thủng ở ngón trỏ bên phải. Giày thì tôi không để ý. Cô đeo đôi khuyên tai vàng tròn, nhỏ, lủng lẳng. Nhìn chung ra dáng khá sung túc, theo kiểu bình dân, dễ dãi, thoải mái.

Sơ-lốc Hôm khẽ vỗ tay, cười khúc khích.

— Thề có trời, Oát-xơn ạ, anh tiến bộ thật đáng nể. Anh làm khá lắm. Đúng là anh bỏ sót mọi thứ quan trọng, nhưng anh đã nắm được phương pháp, và anh có con mắt tinh về màu sắc. Đừng bao giờ tin vào ấn tượng chung chung, anh bạn ạ, mà phải dồn sức vào chi tiết. Với đàn bà, cái nhìn đầu tiên của tôi bao giờ cũng là ống tay áo. Với đàn ông, có lẽ nên nhìn đầu gối quần trước. Anh thấy đấy, tay áo cô này có viền nhung, là thứ vải rất dễ lưu dấu vết. Hai vệt hằn ngay trên cổ tay, chỗ người đánh máy tì vào bàn, hiện ra rõ mồn một. Máy khâu quay tay cũng để lại dấu tương tự, nhưng chỉ ở cánh tay trái, và ở phía xa ngón cái, chứ không chạy ngang qua chỗ rộng nhất như vết này. Rồi tôi nhìn mặt cô, thấy hai bên sống mũi có vết lõm của kính kẹp mũi, nên tôi mạo muội nói một câu về chuyện mắt cận và đánh máy, khiến cô ngạc nhiên.

— Tôi cũng ngạc nhiên.

— Nhưng rõ ràng thế cơ mà. Sau đó tôi rất ngạc nhiên và thích thú khi nhìn xuống chân. Đôi giày cô đi tuy trông na ná nhau, thật ra lại là hai chiếc lẻ đôi. Một chiếc mũi có chút hoa văn, chiếc kia trơn. Một chiếc chỉ cài hai khuy dưới trong số năm khuy, chiếc kia cài khuy thứ nhất, thứ ba và thứ năm. Này nhé, khi anh thấy một tiểu thư ăn mặc gọn gàng tử tế mà lại ra khỏi nhà với hai chiếc giày lẻ đôi, cài khuy dở dang, thì chẳng cần suy luận ghê gớm gì cũng biết cô ấy đi vội.

— Còn gì nữa? tôi hỏi, vô cùng thích thú, như lần nào cũng vậy, trước lối suy luận sắc bén của bạn tôi.

— Tiện thể, tôi để ý thấy cô đã viết một mẩu thư trước khi rời nhà, nhưng là sau khi đã mặc quần áo xong xuôi. Anh nhận thấy găng tay phải của cô rách ở ngón trỏ, nhưng hình như anh không thấy cả găng lẫn ngón tay đều dính mực tím. Cô viết vội nên nhúng ngòi bút sâu quá. Hẳn là mới sáng nay thôi, không thì vết mực trên ngón tay đã chẳng còn rõ như thế. Mấy chuyện này cũng vui, tuy khá sơ đẳng. Nhưng tôi phải quay lại việc chính đây, Oát-xơn. Phiền anh đọc giùm tôi bản mô tả ông Hốt-mơ En-giơn trên mẩu tin đăng báo.

Tôi giơ mẩu báo nhỏ ra trước ánh đèn. Tin viết: “Mất tích sáng ngày mười bốn, một quý ông tên là Hốt-mơ En-giơn. Cao chừng một mét bảy, người vạm vỡ, da vàng vọt, tóc đen, hơi hói ở giữa đỉnh đầu, tóc mai và ria mép đen rậm. Đeo kính màu, nói hơi khó. Lần cuối cùng được trông thấy, mặc áo choàng dài màu đen ve lụa, gi-lê đen, dây đồng hồ vàng, quần vải tuýt xám, xà cạp nâu bọc ngoài đôi giày có thun hai bên. Được biết làm việc tại một văn phòng trên phố Lê-đơn-hôn. Ai đưa được tin…”, vân vân.

— Thế là đủ, Hôm nói. Còn mấy lá thư, anh liếc qua rồi nói tiếp, thì rất tầm thường. Tuyệt nhiên chẳng có manh mối nào về ông En-giơn, ngoài việc ông ta có một lần trích dẫn Ban-dắc. Tuy vậy, có một điểm đáng chú ý, chắc chắn anh sẽ nhận ra.

— Thư đánh máy, tôi nói.

— Không chỉ thế, cả chữ ký cũng đánh máy. Anh nhìn dòng chữ “Hốt-mơ En-giơn” gọn ghẽ dưới cuối thư mà xem. Có ghi ngày, anh thấy đấy, nhưng không có địa chỉ, ngoài mấy chữ phố Lê-đơn-hôn, khá mơ hồ. Cái điểm chữ ký ấy gợi ý rất nhiều. Thật ra có thể nói là nó quyết định cả vụ.

— Quyết định cái gì?

— Anh bạn thân mến, lẽ nào anh không thấy nó liên quan mật thiết tới vụ này đến thế nào sao?

— Tôi không dám nói là thấy, trừ phi ông ta muốn có đường chối chữ ký của mình, nếu có ai kiện ông ta tội bội hôn.

— Không, không phải chỗ ấy. Dù sao thì tôi sẽ viết hai lá thư, chắc là đủ để giải quyết xong chuyện. Một gửi cho một hãng buôn trong khu Thương mại, lá kia gửi cho bố dượng của cô gái, ông Uyn-đi-băng, hỏi xem ông có thể đến gặp chúng ta tại đây vào sáu giờ chiều mai được không. Làm việc với đàn ông trong nhà thì tốt hơn. Còn giờ, thưa bác sĩ, chưa có thư trả lời thì ta chẳng làm được gì, nên tạm gác bài toán nhỏ này lên giá đã.

Tôi đã có quá nhiều lý do để tin vào khả năng suy luận tinh tế và sức hành động phi thường của bạn tôi. Vì thế tôi cảm thấy anh hẳn phải có căn cứ vững chắc nên mới tỏ ra tự tin, ung dung đến vậy trước bí ẩn lạ lùng mà anh được nhờ tìm hiểu. Tôi chỉ biết anh thất bại có một lần, trong vụ vua xứ Bô-hem và tấm ảnh của I-rin Át-lơ. Nhưng khi nhớ lại vụ “Dấu bộ tứ” quái gở, và những tình tiết phi thường quanh vụ “Chiếc nhẫn tình cờ”, tôi thấy mớ bòng bong nào mà anh không gỡ nổi thì hẳn phải rối rắm lạ lùng lắm.

Tôi chào anh ra về khi anh vẫn còn rít chiếc tẩu đất đen sì. Tôi tin chắc rằng tối hôm sau quay lại, tôi sẽ thấy trong tay anh đã nắm đủ mọi đầu mối dẫn tới chân tướng của chàng rể mất tích của cô Ma-ri Xơ-thơ-lân.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơ-lốc Hôm: Một vụ nhầm lẫn danh tính

  1. 1Chàng rể biến mất24 phút
  2. 2Bức thư đánh máyĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảArthur Conan Doyle (1859 – 1930)
Năm mất1930
Xuất bản lần đầu1891
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: A Case of Identity, trong tập The Adventures of Sherlock Holmes, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →