Chương 1: Lời cảnh báo trong phong bì
Mỗi khi lật lại những ghi chép về các vụ án của Sơ-lốc Hôm từ năm 1882 tới năm 1890, tôi lại gặp quá nhiều vụ có những nét lạ lùng, thú vị, tới mức thật khó biết nên chọn vụ nào và bỏ vụ nào. Có những vụ đã được báo chí đưa tin. Có những vụ không cho thấy được những phẩm chất đặc biệt mà bạn tôi có ở mức rất cao, những phẩm chất mà các bài viết này muốn làm nổi bật. Lại có những vụ đã làm khó cả tài phân tích của anh, nếu kể ra thì chỉ là những câu chuyện có đầu mà không có đuôi. Còn có những vụ chỉ được làm sáng tỏ một phần, lời giải thích dựa vào phỏng đoán nhiều hơn là vào thứ chứng cứ lô-gích tuyệt đối mà anh vô cùng quý trọng. Tuy vậy, trong số những vụ sau cùng ấy, có một vụ có những chi tiết đặc biệt và một kết cục bàng hoàng tới mức tôi muốn kể lại, dù có những điểm liên quan tới nó chưa bao giờ được làm sáng tỏ hoàn toàn, và có lẽ sẽ chẳng bao giờ được làm sáng tỏ.
Năm 1887 mang tới cho chúng tôi cả một loạt dài các vụ án, vụ thì thú vị nhiều, vụ thì thú vị ít, mà tôi vẫn còn giữ hồ sơ. Trong các đề mục ghi chép suốt mười hai tháng ấy, tôi thấy có chuyện căn phòng Pa-ra-đôn, chuyện Hội Những Kẻ Ăn Mày Tài Tử, những kẻ có một câu lạc bộ xa hoa dưới tầng hầm một kho đồ gỗ, những sự việc liên quan tới vụ mất tích chiếc thuyền buồm Anh quốc “Xô-phi An-đéc-xơn”, những cuộc phiêu lưu kỳ lạ của nhà Grai-xơ Pa-tơ-xơn trên đảo Úp-pha, và cuối cùng là vụ đầu độc ở Cam-bơ-oen. Trong vụ sau cùng này, như có lẽ người ta còn nhớ, Sơ-lốc Hôm đã lên dây chiếc đồng hồ của người chết, và nhờ đó chứng minh được rằng nó đã được lên dây hai giờ trước, tức là người chết đã đi ngủ trong khoảng thời gian ấy, một suy luận có tầm quan trọng bậc nhất để làm sáng tỏ vụ án. Một ngày nào đó tôi có thể sẽ phác lại tất cả những chuyện này, nhưng không chuyện nào có những nét kỳ lạ bằng chuỗi sự việc lạ lùng mà giờ tôi cầm bút kể lại.
Đó là những ngày cuối tháng chín, mùa gió thu phân đã nổi lên dữ dội khác thường. Suốt ngày gió rít, mưa quất vào cửa kính, đến nỗi ngay giữa lòng thành phố Luân Đôn rộng lớn do bàn tay con người dựng nên, chúng tôi cũng phải tạm rời tâm trí khỏi nếp sống thường ngày, để nhận ra sự hiện diện của những sức mạnh lớn lao của đất trời đang gào thét vào loài người qua những song sắt văn minh, như những con thú hoang chưa thuần trong cũi. Khi chiều tối buông xuống, cơn bão càng mạnh, càng ầm ĩ, gió khóc nức nở như một đứa trẻ trong ống khói. Sơ-lốc Hôm ủ rũ ngồi một bên lò sưởi, sắp xếp các hồ sơ tội phạm vào sổ mục lục, còn tôi ngồi bên kia, đắm chìm trong một cuốn truyện về biển rất hay của Clác Rút-xen, cho tới khi tiếng bão gào bên ngoài như hoà vào trang sách, và tiếng mưa rơi như kéo dài thành tiếng sóng biển vỗ ì oạp. Vợ tôi về thăm mẹ, nên mấy hôm ấy tôi lại về ở căn phòng cũ trên phố Bây-cơ.
— Ơ kìa, tôi nói, ngước lên nhìn bạn tôi, chắc chắn là tiếng chuông. Tối nay ai lại tới nhỉ? Có lẽ một người bạn của anh?
— Ngoài anh ra tôi chẳng có bạn nào, anh đáp. Tôi không khuyến khích người ta tới thăm.
— Vậy thì là thân chủ?
— Nếu thế thì đây là một vụ nghiêm trọng. Chỉ chuyện hệ trọng mới khiến một người ra đường vào một ngày như thế này, giờ giấc như thế này. Nhưng tôi nghĩ có lẽ là một bà bạn nào đó của bà chủ nhà thì đúng hơn.
Nhưng Sơ-lốc Hôm đã đoán sai, vì có tiếng bước chân ngoài hành lang và tiếng gõ cửa. Anh vươn cánh tay dài xoay ngọn đèn khỏi phía mình, hướng về chiếc ghế trống mà người mới tới sẽ ngồi.
— Mời vào! anh nói.
Người bước vào còn trẻ, cùng lắm là hai mươi hai tuổi, chải chuốt, ăn mặc gọn gàng, dáng điệu có phần thanh nhã, tinh tế. Chiếc ô ướt sũng trong tay và chiếc áo mưa dài bóng nước cho thấy anh đã đi qua một thời tiết dữ dội thế nào. Anh lo lắng nhìn quanh dưới ánh đèn chói, và tôi thấy mặt anh tái nhợt, mắt nặng trĩu, như mắt một người đang bị một nỗi lo lớn đè nặng.
— Tôi xin lỗi, anh nói, nâng chiếc kính kẹp mũi gọng vàng lên mắt. Mong rằng tôi không làm phiền. Tôi e là đã mang chút dấu vết của mưa bão vào căn phòng ấm cúng của ông.
— Đưa tôi áo khoác và ô của anh, Hôm nói. Treo lên móc ở đây, lát nữa sẽ khô. Tôi thấy anh từ phía tây nam lên.
— Vâng, từ Hoóc-sam.
— Hỗn hợp đất sét và phấn trắng tôi thấy trên mũi giày của anh rất đặc trưng.
— Tôi tới để xin lời khuyên.
— Cái đó thì dễ.
— Và xin giúp đỡ.
— Cái đó không phải lúc nào cũng dễ.
— Tôi đã nghe nói về ông, thưa ông Hôm. Tôi nghe thiếu tá Pren-đơ-ghát kể ông đã cứu ông ấy trong vụ tai tiếng ở câu lạc bộ Tan-kơ-vin thế nào.
— À, phải rồi. Ông ấy bị buộc tội oan là gian lận khi đánh bài.
— Ông ấy bảo việc gì ông cũng giải được.
— Ông ấy nói quá đấy.
— Rằng ông chưa bao giờ thua.
— Tôi đã thua bốn lần. Ba lần thua đàn ông, một lần thua một người đàn bà.
— Nhưng thế thì thấm gì so với số lần ông thành công?
— Đúng là nói chung tôi đã thành công.
— Vậy thì với tôi ông cũng có thể thành công.
— Xin anh kéo ghế lại gần lò sưởi, và vui lòng cho tôi biết vài chi tiết về vụ của anh.
— Đây không phải vụ bình thường.
— Chẳng vụ nào tới tay tôi là bình thường cả. Tôi là toà phúc thẩm cuối cùng.
— Thế nhưng, thưa ông, tôi vẫn ngờ rằng trong suốt đời nghề của ông, ông đã bao giờ nghe một chuỗi sự việc bí ẩn và khó giải thích hơn những gì đã xảy ra trong gia đình tôi chưa.
— Anh làm tôi tò mò lắm đấy, Hôm nói. Xin anh kể những sự việc chính từ đầu, sau đó tôi sẽ hỏi thêm những chi tiết tôi thấy quan trọng nhất.
Chàng trai kéo ghế lại gần, duỗi đôi chân ướt về phía ngọn lửa.
— Tôi tên là Giôn Ô-pen-sô, anh nói, nhưng theo tôi hiểu thì chuyện riêng của tôi chẳng dính dáng mấy tới việc khủng khiếp này. Đây là chuyện truyền từ đời trước. Vì vậy, để ông hình dung được sự việc, tôi phải quay lại từ lúc khởi đầu.
Ông cần biết là ông nội tôi có hai người con trai, bác Ê-lai-át tôi và cha tôi là Giô-dép. Cha tôi có một xưởng nhỏ ở Cô-ven-tri, ông mở rộng nó vào thời người ta phát minh ra xe đạp. Ông được cấp bằng sáng chế loại lốp xe không thủng mang tên Ô-pen-sô, việc làm ăn thành công tới mức ông bán được cơ sở và về nghỉ với một số vốn khá lớn.
Bác Ê-lai-át tôi thì từ hồi trẻ đã di cư sang nước Mỹ, làm chủ đồn điền ở Phlo-ri-đa, và nghe nói làm ăn rất phát đạt. Hồi nội chiến, bác chiến đấu trong quân đội của tướng Giác-xơn, rồi sau đó dưới quyền tướng Hút, và lên tới cấp đại tá. Khi tướng Li hạ vũ khí, bác trở về đồn điền, ở đó ba bốn năm. Khoảng năm 1869 hay 1870, bác trở về châu Âu, mua một điền trang nhỏ ở hạt Xu-xếch, gần Hoóc-sam. Bác đã kiếm được một gia tài rất lớn ở bên Mỹ, và lý do bác bỏ nước ấy mà đi là vì bác có ác cảm với người da đen, không ưa chính sách của đảng Cộng hoà muốn mở quyền bầu cử cho họ. Bác là một con người kỳ lạ, dữ dằn, nóng nảy, lúc giận thì chửi rủa rất tục tằn, và cực kỳ thích sống tách biệt. Suốt những năm sống ở Hoóc-sam, tôi ngờ rằng bác chưa bao giờ đặt chân vào thị trấn. Quanh nhà bác có một khu vườn và vài ba thửa ruộng, bác tập thể dục ở đó, dù rất thường khi bác ở lì trong phòng hàng mấy tuần liền. Bác uống rất nhiều rượu bran-đi, hút thuốc rất nặng, nhưng không tiếp ai, không muốn có bạn bè, kể cả em ruột mình.
Bác không khó chịu với tôi, thật ra bác còn quý tôi, vì lần đầu bác gặp tôi, tôi mới là một thằng bé chừng mười hai tuổi. Đó là năm 1878, khi bác đã sống ở nước Anh tám chín năm. Bác xin cha tôi cho tôi về ở với bác, và theo cách của bác thì bác đối xử với tôi rất tốt. Những lúc tỉnh rượu, bác thích chơi cờ thỏ cáo và cờ đam với tôi. Bác cho tôi làm người thay mặt bác với cả người làm lẫn những người buôn bán, nên tới năm mười sáu tuổi tôi đã thực sự làm chủ cái nhà ấy. Tôi giữ mọi chìa khoá, muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm, miễn là không quấy rầy chốn riêng tư của bác. Tuy vậy có một ngoại lệ kỳ lạ. Bác có một căn phòng, một căn kho chứa đồ cũ trên gác xép, lúc nào cũng khoá, và bác không bao giờ cho tôi hay bất cứ ai khác bước vào. Với tính tò mò của con trẻ, tôi đã nhìn trộm qua lỗ khoá, nhưng chẳng bao giờ thấy gì hơn một đống rương cũ và những bọc đồ, đúng như người ta chờ đợi ở một căn phòng như thế.
Một hôm, đó là tháng ba năm 1883, trên bàn ăn, ngay trước đĩa của ông đại tá, có một lá thư dán tem nước ngoài. Bác ít khi nhận được thư, vì mọi hoá đơn bác đều trả tiền mặt, và bác chẳng có bạn bè gì. "Thư từ Ấn Độ!" bác nói khi cầm nó lên. "Dấu bưu điện Pông-đi-sê-ri! Cái gì thế này?" Bác vội vàng mở thư, và từ trong đó rơi ra năm hạt cam nhỏ đã khô, lách tách rơi xuống đĩa của bác. Tôi bật cười, nhưng tiếng cười tắt ngay trên môi khi tôi nhìn thấy mặt bác. Môi bác trễ xuống, mắt lồi ra, da xám ngoét như ma-tít. Bác trừng trừng nhìn chiếc phong bì vẫn đang cầm trong bàn tay run rẩy. "K, K, K!" bác rú lên, rồi: "Chúa ơi, Chúa ơi, tội lỗi của ta đã đuổi kịp ta rồi!"
"Chuyện gì thế, bác?" tôi kêu lên.
"Cái chết," bác nói, rồi đứng dậy khỏi bàn, đi về phòng, bỏ lại tôi tim đập thình thịch vì kinh hãi. Tôi cầm chiếc phong bì lên, thấy ở mặt trong nắp, ngay trên chỗ phết hồ, có viết nguệch ngoạc bằng mực đỏ ba chữ K liền nhau. Ngoài ra chẳng có gì khác ngoài năm hạt cam khô. Điều gì có thể khiến bác khiếp sợ tới mức ấy? Tôi rời bàn ăn sáng, và khi đi lên cầu thang thì gặp bác đang đi xuống, một tay cầm chiếc chìa khoá cũ hoen gỉ, hẳn là chìa khoá căn gác xép, tay kia cầm một chiếc hộp nhỏ bằng đồng thau, giống như hộp đựng tiền.
"Chúng muốn làm gì thì làm, nhưng ta vẫn sẽ chiếu tướng chúng," bác nói, kèm một câu chửi thề. "Bảo Ma-ri là hôm nay ta cần đốt lò sưởi trong phòng ta, và cho người đi mời Pho-đam, ông luật sư ở Hoóc-sam, tới đây."
Tôi làm theo lời bác. Khi ông luật sư tới, tôi được gọi lên phòng. Lửa đang cháy rừng rực, trong lò là một đống tro đen xốp như tro giấy bị đốt, còn chiếc hộp đồng thau thì mở toang, trống rỗng, nằm bên cạnh. Liếc nhìn chiếc hộp, tôi giật mình nhận ra trên nắp có in ba chữ K mà sáng nay tôi đã đọc thấy trên phong bì.
"Giôn," bác tôi nói, "bác muốn cháu làm chứng cho bản di chúc của bác. Bác để lại điền trang này, với tất cả những cái lợi và cái hại của nó, cho em trai bác, tức là cha cháu, rồi chắc chắn từ đó nó sẽ truyền lại cho cháu. Nếu cháu được hưởng nó trong yên ổn thì tốt quá! Còn nếu thấy không được yên ổn thì nghe lời bác, cháu ạ, hãy để lại nó cho kẻ thù tử địch của cháu. Bác tiếc phải trao cho cháu một thứ hai lưỡi như thế, nhưng bác không biết rồi mọi chuyện sẽ xoay ra sao. Cháu ký vào chỗ ông Pho-đam chỉ nhé."
Tôi ký vào giấy theo lời dặn, và ông luật sư mang nó đi. Như ông có thể nghĩ, sự việc kỳ lạ ấy để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất. Tôi suy đi tính lại, xoay nó đủ mọi chiều trong đầu mà không hiểu ra được gì. Thế nhưng tôi không sao rũ bỏ được cảm giác sợ hãi mơ hồ mà nó để lại, dù cảm giác ấy dịu dần khi tuần này qua tuần khác trôi đi mà chẳng có gì xáo trộn nếp sống thường ngày của chúng tôi. Nhưng tôi thấy bác tôi thay đổi. Bác uống nhiều hơn bao giờ hết, và càng ít muốn giao du với ai. Phần lớn thời gian bác ở trong phòng, khoá trái cửa bên trong. Nhưng thỉnh thoảng bác lại xông ra trong một cơn điên cuồng say rượu, lao ra khỏi nhà, chạy khắp vườn, tay lăm lăm khẩu súng lục, gào lên rằng bác không sợ ai cả, rằng người hay quỷ cũng không thể nhốt bác như nhốt con cừu trong chuồng. Nhưng khi cơn nóng ấy qua đi, bác lại cuống cuồng lao vào nhà, khoá cửa, cài then sau lưng, như một người không còn đủ sức gồng mình chống lại nỗi kinh hoàng đang bám rễ tận đáy tâm hồn. Những lúc ấy, tôi đã thấy mặt bác, ngay cả vào ngày rét, cũng ướt đẫm mồ hôi như vừa nhấc lên khỏi chậu nước.
Thôi, để đi tới cuối chuyện, thưa ông Hôm, và không bắt ông phải kiên nhẫn quá lâu, đã tới một đêm bác lại xông ra ngoài trong một cơn say như thế, và không bao giờ trở về nữa. Khi đi tìm, chúng tôi thấy bác nằm úp mặt trong một cái ao nhỏ phủ đầy rêu xanh ở cuối vườn. Không có dấu vết bạo lực nào, mà nước ao chỉ sâu chừng sáu tấc, nên bồi thẩm đoàn, xét tới tính khí lập dị ai cũng biết của bác, đã kết luận là tự sát. Nhưng tôi, người biết bác run sợ thế nào ngay cả khi chỉ nghĩ tới cái chết, khó mà tin được rằng bác lại tự tìm tới nó. Tuy vậy, chuyện rồi cũng qua, và cha tôi được hưởng điền trang, cùng khoảng mười bốn nghìn bảng gửi ở ngân hàng.
— Khoan đã, Hôm ngắt lời. Tôi đoán trước rằng lời kể của anh sẽ là một trong những lời kể lạ lùng nhất tôi từng nghe. Cho tôi biết ngày bác anh nhận được lá thư, và ngày bác anh được cho là tự sát.
— Lá thư tới vào ngày mười tháng ba năm 1883. Bác tôi chết bảy tuần sau đó, vào đêm mùng hai tháng năm.
— Cảm ơn anh. Xin kể tiếp.
— Khi cha tôi tiếp quản điền trang ở Hoóc-sam, theo lời tôi xin, ông đã xem xét kỹ căn gác xép xưa nay vẫn khoá. Chúng tôi tìm thấy chiếc hộp đồng thau ở đó, dù những thứ trong nó đã bị huỷ. Ở mặt trong nắp có dán một nhãn giấy, trên đó lặp lại ba chữ K, và bên dưới viết: Thư từ, ghi chú, biên lai và một cuốn sổ đăng ký. Chúng tôi đoán những chữ ấy cho biết loại giấy tờ đã bị đại tá Ô-pen-sô huỷ đi. Ngoài ra, trên gác xép chẳng có gì quan trọng mấy, ngoài rất nhiều giấy tờ và sổ ghi chép rải rác liên quan tới cuộc đời bác tôi bên Mỹ. Một số là từ thời chiến tranh, cho thấy bác đã làm tròn bổn phận và được tiếng là một người lính dũng cảm. Một số khác có từ thời tái thiết các bang miền Nam, phần lớn là chuyện chính trị, vì rõ ràng bác đã hăng hái chống lại bọn chính khách xách va-li từ miền Bắc được phái xuống.
Thế rồi, đầu năm 1884 cha tôi về sống ở Hoóc-sam, và mọi việc của chúng tôi đều êm đẹp hết mức có thể cho tới tháng giêng năm 1885. Vào ngày thứ tư sau năm mới, đang ngồi ăn sáng với cha, tôi nghe ông kêu lên một tiếng thảng thốt. Ông ngồi đó, một tay cầm chiếc phong bì vừa mở, trong lòng bàn tay kia đang xoè ra là năm hạt cam khô. Trước nay ông vẫn cười cái mà ông gọi là chuyện bịa vớ vẩn của tôi về ông đại tá, nhưng giờ chính ông gặp đúng chuyện ấy thì trông ông rất sợ hãi và bối rối.
"Thế này là nghĩa quái gì hả Giôn?" ông lắp bắp.
Tim tôi như hoá thành chì. "Là ba chữ K đấy," tôi nói.
Ông nhìn vào trong phong bì. "Đúng thế thật," ông kêu lên. "Đúng mấy chữ ấy đây. Nhưng còn cái gì viết phía trên thế này?"
"Đặt giấy tờ lên đồng hồ mặt trời," tôi đọc, nhìn qua vai ông.
"Giấy tờ nào? Đồng hồ mặt trời nào?" ông hỏi.
"Cái đồng hồ mặt trời trong vườn ấy. Chẳng có cái nào khác," tôi nói. "Còn giấy tờ thì hẳn là những thứ đã bị huỷ."
"Xì!" ông nói, cố trấn tĩnh lấy can đảm. "Đây là một đất nước văn minh, không thể có những trò ngớ ngẩn kiểu này. Cái thư này từ đâu tới?"
"Từ Đăn-đi," tôi đáp, liếc nhìn dấu bưu điện.
"Một trò đùa nhảm nhí nào đấy," ông nói. "Ta thì dính dáng gì tới đồng hồ mặt trời với giấy tờ? Ta chẳng thèm để ý tới chuyện vớ vẩn ấy."
"Con nghĩ chắc chắn là nên báo cảnh sát," tôi nói.
"Để rồi bị người ta cười cho à. Không đời nào."
"Vậy để con báo nhé?"
"Không, ta cấm. Ta không muốn làm ầm ĩ vì một chuyện nhảm nhí như thế."
Cãi lại ông cũng vô ích, vì ông là người rất bướng bỉnh. Nhưng tôi cứ đi ra đi vào, lòng đầy những linh cảm chẳng lành.
Ba ngày sau khi lá thư tới, cha tôi đi thăm một người bạn cũ, thiếu tá Phri-bô-đi, chỉ huy một trong những pháo đài trên đồi Pót-xđao. Tôi mừng khi ông đi, vì tôi nghĩ rời nhà thì ông sẽ xa nguy hiểm hơn. Nhưng tôi đã lầm. Vào ngày thứ hai ông đi vắng, tôi nhận được bức điện của ông thiếu tá, khẩn khoản bảo tôi tới ngay. Cha tôi đã ngã xuống một trong những hố khai thác đá phấn sâu hoắm có rất nhiều ở vùng ấy, và đang nằm bất tỉnh, sọ bị vỡ. Tôi vội tới bên ông, nhưng ông đã qua đời mà không hề tỉnh lại. Hình như lúc chạng vạng ông đang từ Phe-rơm trở về. Vì ông không thông thuộc vùng ấy, mà hố đá phấn lại không có rào chắn, nên bồi thẩm đoàn không ngần ngại kết luận là chết do tai nạn. Dù tôi đã xem xét kỹ lưỡng mọi sự việc liên quan tới cái chết của ông, tôi vẫn không tìm được điều gì gợi ra ý nghĩ đây là một vụ giết người. Không có dấu vết bạo lực, không có dấu chân, không bị cướp, không ai thấy người lạ nào trên đường. Thế nhưng tôi chẳng cần nói ông cũng biết, lòng tôi chẳng yên chút nào, và tôi gần như chắc chắn rằng đã có một âm mưu đen tối nào đó giăng ra quanh ông.
Tôi được hưởng gia tài một cách đầy điềm gở như thế. Ông sẽ hỏi tại sao tôi không bán nó đi? Tôi xin trả lời, vì tôi tin chắc rằng tai hoạ của chúng tôi phụ thuộc vào một sự việc nào đó trong đời bác tôi, và mối nguy hiểm sẽ đe doạ như nhau dù tôi ở nhà này hay nhà khác.
Người cha tội nghiệp của tôi mất vào tháng giêng năm 1885, và từ đó tới nay đã hai năm tám tháng. Suốt thời gian ấy tôi sống yên vui ở Hoóc-sam, và tôi đã bắt đầu hy vọng rằng lời nguyền này đã rời khỏi gia đình, rằng nó đã chấm dứt cùng thế hệ trước. Nhưng tôi đã yên lòng quá sớm. Sáng hôm qua, đòn giáng xuống đúng như cái cách nó đã giáng xuống cha tôi.
Chàng trai rút trong túi gi-lê ra một chiếc phong bì nhàu nát, quay sang bàn, dốc ra năm hạt cam nhỏ đã khô.
— Đây là chiếc phong bì, anh nói tiếp. Dấu bưu điện là Luân Đôn, khu phía đông. Bên trong có đúng những chữ đã có trong lời nhắn cuối cùng gửi cha tôi: ba chữ K, rồi tới câu: Đặt giấy tờ lên đồng hồ mặt trời.
— Anh đã làm gì? Hôm hỏi.
— Không làm gì cả.
— Không làm gì?
— Nói thật với ông, anh vùi mặt vào đôi bàn tay gầy, trắng xanh, tôi thấy mình bất lực. Tôi thấy mình như một con thỏ tội nghiệp khi con rắn đang trườn tới. Tôi như đang nằm trong nanh vuốt của một thế lực độc ác không gì cưỡng nổi, không gì lay chuyển được, mà không sự lo xa, không sự đề phòng nào chống đỡ được.
— Chậc, chậc! Sơ-lốc Hôm kêu lên. Anh phải hành động, anh bạn ạ, không thì anh mất mạng. Chỉ có hành động quyết liệt mới cứu được anh. Đây không phải lúc để tuyệt vọng.
— Tôi đã đi gặp cảnh sát.
— À!
— Nhưng họ nghe chuyện của tôi mà mỉm cười. Tôi tin chắc viên thanh tra đã cho rằng mấy lá thư chỉ là trò đùa ác, còn cái chết của những người thân của tôi đúng là tai nạn như bồi thẩm đoàn đã kết luận, chẳng liên quan gì tới những lời cảnh báo.
Hôm vung hai nắm tay lên trời.
— Ngu xuẩn không thể tin nổi! anh kêu lên.
— Dù vậy họ cũng cho tôi một cảnh sát, ở lại trong nhà với tôi.
— Tối nay anh ta có đi cùng anh không?
— Không. Anh ta được lệnh ở lại trong nhà.
Hôm lại vung tay giận dữ.
— Sao anh lại tìm tới tôi, anh nói, và trên hết, sao anh không tới ngay?
— Tôi không biết. Mãi hôm nay tôi mới kể chuyện mình với thiếu tá Pren-đơ-ghát, và được ông ấy khuyên tới gặp ông.
— Anh nhận được thư đã hai ngày rồi. Lẽ ra chúng ta phải hành động trước đây. Tôi đoán ngoài những gì anh vừa đưa ra, anh không còn bằng chứng nào khác, không còn chi tiết gợi ý nào có thể giúp chúng tôi?
— Còn một thứ, Giôn Ô-pen-sô nói. Anh lục túi áo khoác, lấy ra một mảnh giấy màu xanh nhạt đã bạc màu, trải lên bàn. Tôi còn nhớ mang máng, anh nói, hôm bác tôi đốt giấy tờ, tôi để ý thấy những mép giấy nhỏ chưa cháy hết nằm lẫn trong tro đều có đúng màu này. Tôi tìm thấy tờ giấy này trên sàn phòng bác, và tôi ngờ rằng nó có thể là một trong những tờ giấy ấy, có lẽ đã bay ra khỏi xấp giấy, và nhờ thế thoát khỏi bị đốt. Ngoài việc có nhắc tới hạt cam, tôi không thấy nó giúp ích được mấy. Tôi nghĩ đó là một trang trong cuốn nhật ký riêng nào đó. Nét chữ chắc chắn là của bác tôi.
Hôm dời ngọn đèn, và cả hai chúng tôi cùng cúi xuống tờ giấy. Mép giấy nham nhở cho thấy nó quả thật đã bị xé ra từ một cuốn sổ. Đầu trang ghi: Tháng ba năm 1869. Bên dưới là những dòng bí hiểm sau:
Ngày 4. Hớt-xơn tới. Vẫn cương lĩnh cũ.
Ngày 7. Gửi hạt cam cho Mác-cô-li, Pa-ra-mo và Giôn Xoên ở Xanh Ô-gu-xtin.
Ngày 9. Mác-cô-li đã dọn đi.
Ngày 10. Giôn Xoên đã dọn đi.
Ngày 12. Tới thăm Pa-ra-mo. Mọi việc ổn thoả.
— Cảm ơn anh! Hôm nói, gấp tờ giấy lại trả cho người khách. Giờ thì anh tuyệt đối không được để mất thêm một giây nào nữa. Chúng ta không còn thì giờ để bàn về những gì anh đã kể nữa. Anh phải về nhà ngay và hành động.
— Tôi phải làm gì?
— Chỉ có một việc phải làm. Và phải làm ngay. Anh phải bỏ mảnh giấy anh vừa cho chúng tôi xem vào chiếc hộp đồng thau mà anh đã tả. Anh cũng phải bỏ vào một mẩu giấy ghi rằng mọi giấy tờ khác đã bị bác anh đốt, và đây là tờ duy nhất còn lại. Anh phải khẳng định điều đó bằng những lời lẽ khiến người ta tin. Làm xong, anh phải đặt ngay chiếc hộp lên đồng hồ mặt trời, như chúng đã dặn. Anh hiểu chứ?
— Hoàn toàn hiểu.
— Lúc này đừng nghĩ tới chuyện trả thù hay gì tương tự. Tôi nghĩ chúng ta có thể đạt được điều đó nhờ pháp luật. Nhưng chúng ta còn phải giăng lưới, trong khi lưới của chúng đã giăng xong. Điều cần nghĩ trước tiên là gạt bỏ mối nguy cấp bách đang đe doạ anh. Điều thứ hai là làm sáng tỏ bí ẩn và trừng phạt kẻ có tội.
— Xin cảm ơn ông, chàng trai nói, đứng dậy khoác áo choàng vào. Ông đã cho tôi sức sống và hy vọng mới. Tôi nhất định sẽ làm theo lời ông khuyên.
— Đừng để mất một giây nào. Và trên hết, trong lúc này hãy giữ gìn cẩn thận, vì tôi nghĩ không còn nghi ngờ gì nữa, anh đang bị một mối nguy rất thật và rất gần đe doạ. Anh về bằng cách nào?
— Đi tàu từ ga Oa-tơ-lu.
— Giờ chưa tới chín giờ. Phố xá sẽ còn đông người, nên tôi mong là anh sẽ an toàn. Nhưng anh cẩn thận bao nhiêu cũng không thừa.
— Tôi có mang vũ khí.
— Thế thì tốt. Mai tôi sẽ bắt tay vào vụ của anh.
— Vậy tôi sẽ gặp ông ở Hoóc-sam chứ?
— Không, bí mật của anh nằm ở Luân Đôn. Tôi sẽ tìm nó ở đây.
— Vậy một hai ngày nữa tôi sẽ tới gặp ông, báo tin về chiếc hộp và giấy tờ. Tôi sẽ làm theo lời ông khuyên trong từng chi tiết.
Anh bắt tay chúng tôi rồi ra về. Bên ngoài gió vẫn rít, mưa vẫn quất lộp độp vào cửa kính. Câu chuyện lạ lùng, hoang dại ấy dường như từ giữa đất trời cuồng nộ mà tới với chúng tôi, bị gió thổi vào như một mớ rong biển giữa cơn bão, và giờ lại bị đất trời nuốt trở lại.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám