Chương 1: Viên quản gia mất tích
Có một điều trái khoáy trong tính cách bạn tôi, Sơ-lốc Hôm, thường làm tôi chú ý. Trong cách suy nghĩ, anh là người gọn gàng, ngăn nắp nhất trần đời, và trong ăn mặc anh cũng giữ một vẻ chỉnh tề kín đáo, thế mà trong thói quen sinh hoạt, anh lại là một trong những người bừa bộn nhất từng làm người ở chung phát điên. Không phải tôi là người câu nệ gì về chuyện ấy. Những năm làm việc vất vả, xô bồ ở Áp-ga-ni-xtan, cộng với bản tính phóng khoáng sẵn có, đã khiến tôi có phần lỏng lẻo hơn mức một bác sĩ nên có. Nhưng với tôi, mọi thứ đều có giới hạn. Khi gặp một người cất xì gà trong thùng than, cất thuốc lá trong mũi một chiếc dép Ba Tư, và lấy dao nhíp ghim những lá thư chưa trả lời vào ngay giữa mặt lò sưởi bằng gỗ, thì tôi bắt đầu tỏ ra đạo mạo. Tôi cũng luôn cho rằng tập bắn súng lục rõ ràng phải là trò tiêu khiển ngoài trời. Thế nên khi Hôm, trong một cơn tâm trạng kỳ quặc, ngồi trên ghế bành với khẩu súng cò nhạy và một trăm viên đạn, rồi bắt đầu trang trí bức tường đối diện bằng hai chữ cái V. R., tên viết tắt của Nữ hoàng, kết bằng những lỗ đạn, tôi cảm thấy rõ rằng việc ấy chẳng làm không khí cũng như vẻ ngoài căn phòng của chúng tôi khá lên chút nào.
Phòng chúng tôi lúc nào cũng đầy hoá chất và những di vật của các vụ án, chúng hay lạc tới những chỗ không ai ngờ, có khi xuất hiện trong đĩa bơ, hay ở những chỗ còn tệ hơn thế. Nhưng giấy tờ của anh mới là nỗi khổ lớn nhất của tôi. Anh rất sợ phải huỷ tài liệu, nhất là những thứ liên quan tới các vụ án cũ, vậy mà phải một hai năm anh mới chịu gom sức một lần để ghi nhãn và sắp xếp chúng. Bởi lẽ, như tôi đã kể đâu đó trong những hồi ký lộn xộn này, sau những cơn bùng nổ năng lượng mãnh liệt, khi anh lập nên những kỳ tích gắn với tên tuổi anh, là những đợt uể oải kéo dài, anh nằm dài với cây vĩ cầm và mấy cuốn sách, hầu như chẳng nhúc nhích ngoài việc đi từ tràng kỷ tới bàn ăn. Thế là tháng này qua tháng khác, giấy tờ của anh chồng chất, cho tới khi góc nào trong phòng cũng chất đầy những bó bản thảo tuyệt đối không được đốt, mà ngoài chủ nhân ra cũng chẳng ai được cất đi. Một tối mùa đông, khi chúng tôi ngồi bên lò sưởi, tôi đánh liều gợi ý rằng anh vừa dán xong mấy mẩu trích vào cuốn sổ tay ghi chép, vậy hai tiếng tới anh có thể dành để làm căn phòng của chúng tôi dễ ở hơn một chút. Anh không thể chối rằng tôi đòi hỏi chính đáng, nên mặt mũi khá rầu rĩ, anh đi vào phòng ngủ, lát sau trở ra, kéo theo một chiếc hòm thiếc lớn. Anh đặt nó giữa sàn, ngồi xổm trên một chiếc ghế đẩu trước mặt nó, rồi lật nắp ra. Tôi thấy nó đã đầy một phần ba những bó giấy buộc dây đỏ thành từng gói riêng.
— Ở đây có đủ thứ vụ án đấy, Oát-xơn, anh nói, nhìn tôi bằng ánh mắt tinh nghịch. Tôi nghĩ nếu anh biết hết những gì tôi có trong hòm này, anh sẽ bảo tôi lấy bớt ra chứ chẳng bảo cất thêm vào.
— Vậy đây là hồ sơ những việc anh làm thời đầu à? tôi hỏi. Tôi vẫn thường ước có ghi chép về những vụ ấy.
— Phải, anh bạn ạ, đây đều là những vụ thời đầu, trước khi người viết tiểu sử của tôi xuất hiện để tôn vinh tôi.
Anh nhấc lên hết bó này tới bó khác, nâng niu, trìu mến.
— Không phải vụ nào cũng thành công đâu, Oát-xơn ạ, anh nói. Nhưng trong số này có vài bài toán nho nhỏ khá xinh xắn. Đây là hồ sơ các vụ giết người ở Ta-lơ-tơn, vụ Văm-bơ-ri, người buôn rượu vang, chuyện bà già người Nga, vụ kỳ lạ về cây nạng bằng nhôm, và một bản tường thuật đầy đủ về gã Ri-cô-lét-ti chân vẹo cùng người vợ đáng ghê tởm của hắn. Còn đây, à, cái này mới thật sự là thứ hơi cầu kỳ một chút.
Anh thọc tay xuống tận đáy hòm, lôi lên một chiếc hộp gỗ nhỏ có nắp kéo, loại hộp người ta vẫn dùng để cất đồ chơi trẻ con. Từ bên trong anh lấy ra một mẩu giấy nhàu nát, một chiếc chìa khoá bằng đồng thau kiểu cổ, một cái cọc gỗ có buộc một cuộn dây, và ba miếng kim loại tròn cũ kỹ hoen gỉ.
— Nào, anh bạn, anh nghĩ sao về đống này? anh hỏi, mỉm cười trước vẻ mặt của tôi.
— Một bộ sưu tập kỳ lạ.
— Rất kỳ lạ, và câu chuyện gắn với nó sẽ còn khiến anh thấy kỳ lạ hơn.
— Vậy là những di vật này có một lịch sử?
— Có tới mức chính chúng là lịch sử.
— Anh nói thế nghĩa là sao?
Sơ-lốc Hôm nhặt chúng lên từng thứ một, xếp dọc mép bàn. Rồi anh ngồi lại vào ghế, ngắm chúng, mắt ánh lên vẻ hài lòng.
— Đây, anh nói, là tất cả những gì còn lại để nhắc tôi nhớ tới vụ Nghi lễ nhà Mát-grêv.
Tôi đã nghe anh nhắc tới vụ ấy hơn một lần, nhưng chưa bao giờ biết được chi tiết.
— Tôi sẽ rất mừng, tôi nói, nếu anh kể lại cho tôi nghe.
— Mà để nguyên đống bừa bộn thế này à? anh tinh nghịch kêu lên. Thế ra tính ngăn nắp của anh cũng chẳng chịu được bao nhiêu thử thách, Oát-xơn ạ. Nhưng tôi cũng muốn anh thêm vụ này vào biên niên sử của anh, vì nó có những điểm khiến nó hoàn toàn độc nhất trong hồ sơ tội phạm của nước này, và tôi tin là của bất kỳ nước nào khác. Một tuyển tập những thành tích vặt vãnh của tôi chắc chắn sẽ thiếu sót nếu không kể lại chuyện hết sức kỳ lạ này.
Hẳn anh còn nhớ vụ con tàu “Gờ-lô-ri-a Xcốt”, và cuộc trò chuyện với con người bất hạnh có số phận tôi đã kể anh nghe, đã lần đầu hướng sự chú ý của tôi về phía cái nghề sau này trở thành sự nghiệp cả đời tôi. Bây giờ anh thấy tôi khi tên tuổi đã lan xa, khi cả công chúng lẫn lực lượng chính thức đều coi tôi là toà phúc thẩm cuối cùng trong những vụ còn ngờ vực. Ngay cả khi anh mới quen tôi, vào thời vụ án mà anh đã ghi lại trong Cuộc điều tra màu đỏ, tôi cũng đã có được một mạng lưới quan hệ đáng kể, dù chẳng sinh lời mấy. Vậy anh khó mà hình dung lúc đầu tôi đã gặp khó khăn tới mức nào, và đã phải chờ bao lâu mới bắt đầu tiến được chút ít.
Hồi mới lên Luân Đôn, tôi thuê phòng ở phố Mông-ta-gu, ngay góc phố gần Viện Bảo tàng Anh, và ở đó tôi chờ đợi, lấp đầy thì giờ rảnh rỗi quá nhiều của mình bằng việc nghiên cứu mọi ngành khoa học có thể giúp tôi làm việc giỏi hơn. Thỉnh thoảng cũng có vụ tìm đến tôi, chủ yếu qua lời giới thiệu của những bạn học cũ, vì trong những năm cuối ở đại học, người ta bàn tán khá nhiều về tôi và phương pháp của tôi. Vụ thứ ba trong số ấy chính là vụ Nghi lễ nhà Mát-grêv. Chính nhờ sự chú ý mà chuỗi sự việc kỳ lạ ấy khơi dậy, và những lợi ích to lớn hoá ra đang bị đe doạ, mà tôi có được bước tiến đầu tiên tới vị trí tôi đang có hôm nay.
Rê-gi-nan Mát-grêv học cùng trường với tôi, và tôi có quen biết sơ sơ với anh ta. Anh ta không được đám sinh viên ưa thích lắm, dù tôi luôn thấy cái mà người ta cho là kiêu ngạo thật ra là cố che giấu một tính nhút nhát bẩm sinh cực độ. Về dáng vẻ, anh ta thuộc kiểu quý tộc đặc sệt: gầy, mũi cao, mắt to, phong thái uể oải mà vẫn lịch thiệp. Anh ta quả thật là con cháu của một trong những dòng họ lâu đời nhất vương quốc, dù nhánh của anh ta là một nhánh thứ, đã tách khỏi dòng họ Mát-grêv phương bắc từ khoảng thế kỷ mười sáu, rồi lập nghiệp ở miền tây hạt Xu-xếch, nơi trang viên Hơn-xtôn có lẽ là toà nhà có người ở cổ nhất trong hạt. Dường như có cái gì đó của nơi chôn nhau cắt rốn còn vương lại trên con người anh ta, và mỗi lần nhìn khuôn mặt tái nhợt, sắc nét, hay dáng ngẩng đầu của anh ta, tôi lại liên tưởng tới những vòm cổng màu xám, những khung cửa sổ có song đá, và tất cả những tàn tích đáng kính của một pháo đài phong kiến. Đôi lần chúng tôi tình cờ trò chuyện, và tôi nhớ đã hơn một lần anh ta tỏ ra rất quan tâm tới phương pháp quan sát và suy luận của tôi.
Suốt bốn năm tôi chẳng gặp anh ta, cho tới một buổi sáng anh ta bước vào phòng tôi ở phố Mông-ta-gu. Anh ta ít thay đổi, ăn mặc như một chàng trai sành điệu, vì anh ta bao giờ cũng hơi ưa chưng diện, và vẫn giữ phong thái điềm đạm, nhã nhặn từng làm anh ta nổi bật ngày trước.
"Mọi việc của anh thế nào rồi, Mát-grêv?" tôi hỏi sau khi chúng tôi bắt tay nhau thân mật.
"Có lẽ anh đã nghe tin cha tôi mất," anh ta nói. "Ông qua đời khoảng hai năm trước. Từ đó dĩ nhiên tôi phải quản lý điền trang Hơn-xtôn, và vì tôi còn là nghị sĩ của khu tôi ở nữa, nên đời tôi khá bận rộn. Nhưng tôi nghe nói, Hôm ạ, anh đang đem cái tài từng làm chúng tôi kinh ngạc ra dùng vào việc thực tế?"
"Phải," tôi nói, "tôi đã bắt đầu sống bằng trí khôn của mình."
"Tôi mừng khi nghe thế, vì lúc này lời khuyên của anh sẽ vô cùng quý giá với tôi. Ở Hơn-xtôn vừa xảy ra những chuyện rất lạ, mà cảnh sát chẳng làm sáng tỏ được gì. Đây thật sự là một chuyện phi thường và không thể giải thích nổi."
Anh có thể hình dung, Oát-xơn ạ, tôi háo hức lắng nghe anh ta thế nào, vì chính cái cơ hội mà tôi khao khát suốt những tháng ăn không ngồi rồi dường như đã tới trong tầm tay. Tận đáy lòng, tôi tin rằng mình có thể thành công ở chỗ người khác thất bại, và giờ tôi có dịp thử sức mình.
"Xin anh kể chi tiết cho tôi nghe," tôi kêu lên.
Rê-gi-nan Mát-grêv ngồi xuống đối diện tôi, châm điếu thuốc tôi vừa đẩy sang.
"Anh cần biết," anh ta nói, "rằng tuy sống độc thân, tôi vẫn phải giữ một đội ngũ người làm khá đông ở Hơn-xtôn, vì đó là một ngôi nhà cổ rộng mênh mông, ngoằn ngoèo, đòi hỏi trông nom nhiều. Tôi còn nuôi chim thú để săn, và vào mùa săn gà lôi tôi thường mời khách tới ở, nên không thể thiếu người. Tất cả có tám cô hầu gái, một bà đầu bếp, một quản gia, hai người hầu nam và một cậu bé. Vườn tược và chuồng ngựa dĩ nhiên có người làm riêng.
Trong số người làm ấy, người phục vụ nhà tôi lâu nhất là Brân-tơn, viên quản gia. Hồi cha tôi nhận anh ta về, anh ta là một thầy giáo trẻ đang thất nghiệp. Nhưng anh ta là người rất năng nổ, có cá tính, và chẳng mấy chốc đã trở thành người không thể thiếu trong nhà. Anh ta cao lớn, đẹp trai, vầng trán rất đẹp, và dù đã ở với chúng tôi hai mươi năm, giờ anh ta cũng chưa thể quá bốn mươi tuổi. Với những ưu điểm về ngoại hình và tài năng phi thường như thế, vì anh ta nói được mấy thứ tiếng và chơi được gần như mọi loại nhạc cụ, thật lạ là anh ta lại bằng lòng với một địa vị như thế lâu đến vậy. Nhưng tôi đoán anh ta thấy dễ chịu, và không có đủ nghị lực để thay đổi. Ai tới thăm nhà tôi cũng nhớ mãi viên quản gia của Hơn-xtôn.
Nhưng con người mẫu mực này có một tật. Anh ta hơi đào hoa, và anh có thể hình dung với một người như anh ta thì đóng vai ấy ở một vùng quê yên tĩnh chẳng khó khăn gì. Hồi anh ta còn vợ thì không sao, nhưng từ khi goá vợ, anh ta gây cho chúng tôi biết bao phiền phức. Mấy tháng trước, chúng tôi đã hy vọng anh ta sắp yên bề trở lại, vì anh ta đính hôn với Rây-chơn Hao-en, cô hầu phòng thứ hai của chúng tôi. Nhưng từ đó anh ta đã bỏ rơi cô ấy, quay sang cặp với Gia-nét Tơ-rê-ghe-lít, con gái người trưởng toán gác rừng. Rây-chơn, một cô gái rất tốt nhưng có tính khí xứ Uên dễ kích động, đã bị một cơn sốt não khá nặng, và giờ đi lại trong nhà, hay đúng hơn là cho tới hôm qua vẫn đi lại, như cái bóng mắt thâm quầng của chính mình ngày trước. Đó là tấn kịch thứ nhất của chúng tôi ở Hơn-xtôn. Nhưng tấn kịch thứ hai đã tới, làm chúng tôi quên hẳn tấn kịch kia, và nó mở màn bằng việc viên quản gia Brân-tơn bị thất sủng và đuổi việc.
Chuyện xảy ra thế này. Tôi đã nói người này thông minh, mà chính sự thông minh ấy đã làm hại anh ta, vì nó dường như dẫn tới một tính tò mò không bao giờ thoả về những thứ hoàn toàn không liên quan gì tới anh ta. Tôi không hề biết nó sẽ đưa anh ta đi xa tới mức nào, cho tới khi một sự tình cờ thuần tuý làm tôi sáng mắt ra."
"Tôi đã nói ngôi nhà rộng mênh mông, ngoằn ngoèo," Rê-gi-nan Mát-grêv kể tiếp. "Một hôm tuần trước, nói cho đúng là đêm thứ năm, tôi không ngủ được, vì đã dại dột uống một tách cà phê đen đặc sau bữa tối. Trằn trọc tới hai giờ sáng, tôi thấy thế là vô vọng, bèn dậy thắp nến, định đọc tiếp cuốn tiểu thuyết đang đọc dở. Nhưng cuốn sách lại để quên trong phòng bi-a, nên tôi khoác áo ngủ đi lấy.
Muốn tới phòng bi-a, tôi phải đi xuống một dãy cầu thang, rồi băng qua đầu một hành lang dẫn tới thư viện và phòng để súng. Anh có thể hình dung tôi ngạc nhiên thế nào khi nhìn xuống hành lang ấy, thấy một tia sáng le lói từ cánh cửa thư viện đang mở. Chính tôi đã tắt đèn và đóng cửa trước khi đi ngủ. Dĩ nhiên ý nghĩ đầu tiên của tôi là có trộm. Tường các hành lang ở Hơn-xtôn treo đầy những bộ sưu tập vũ khí cổ. Tôi gỡ lấy một chiếc rìu chiến, rồi để nến lại phía sau, nhón chân rón rén đi dọc hành lang, nhìn trộm qua cánh cửa đang mở.
Brân-tơn, viên quản gia, đang ở trong thư viện. Anh ta ngồi trong ghế bành, quần áo chỉnh tề, trên đầu gối là một mẩu giấy trông như tấm bản đồ, trán tì lên bàn tay, chìm trong suy nghĩ. Tôi đứng sững vì kinh ngạc, theo dõi anh ta từ trong bóng tối. Một cây nến nhỏ đặt ở mép bàn toả ánh sáng yếu ớt, vừa đủ cho tôi thấy anh ta ăn mặc chỉnh tề. Bỗng, đang lúc tôi nhìn, anh ta đứng dậy, đi tới chiếc tủ có ngăn kéo kê bên cạnh, mở khoá, kéo ra một ngăn. Anh ta lấy từ đó ra một tờ giấy, trở về chỗ ngồi, trải phẳng nó bên cạnh cây nến ở mép bàn, và bắt đầu xem xét nó hết sức tỉ mỉ. Tôi phẫn nộ trước cảnh anh ta điềm nhiên xem xét giấy tờ gia đình chúng tôi tới mức bước lên một bước, và Brân-tơn ngước lên thấy tôi đứng ở cửa. Anh ta nhảy bật dậy, mặt tái mét vì sợ hãi, nhét vội tấm giấy giống như bản đồ mà anh ta xem lúc đầu vào trong ngực áo.
'Thế ra!' tôi nói. 'Anh đền đáp lòng tin của chúng tôi như thế này đấy. Ngày mai anh nghỉ việc.'
Anh ta cúi đầu với vẻ của một người hoàn toàn suy sụp, lặng lẽ lẻn qua tôi mà không nói một lời. Cây nến vẫn còn trên bàn, và nhờ ánh nến, tôi liếc nhìn xem tờ giấy Brân-tơn lấy trong tủ là gì. Tôi ngạc nhiên thấy nó chẳng có gì quan trọng cả, chỉ là một bản chép những câu hỏi và câu trả lời trong một tục lệ cổ kỳ lạ gọi là Nghi lễ nhà Mát-grêv. Đó là một kiểu nghi thức riêng của dòng họ chúng tôi, mà từ bao thế kỷ nay, mỗi người họ Mát-grêv đều phải trải qua khi tới tuổi trưởng thành. Một thứ chỉ có ý nghĩa riêng tư, và có lẽ đôi chút quan trọng với nhà khảo cổ, như huy hiệu gia tộc của chúng tôi vậy, nhưng chẳng có chút giá trị thực tế nào."
"Ta nên quay lại tờ giấy ấy sau," tôi nói.
"Nếu anh thấy thật sự cần thiết," anh ta đáp, có phần ngập ngừng. "Nhưng để tôi kể tiếp. Tôi khoá tủ lại bằng chiếc chìa Brân-tơn bỏ lại, rồi đang quay đi thì ngạc nhiên thấy viên quản gia đã quay lại, đang đứng trước mặt tôi.
'Thưa ông Mát-grêv,' anh ta kêu lên, giọng khàn đặc vì xúc động, 'tôi không chịu được nhục, thưa ông. Tôi vẫn luôn tự hào quá mức địa vị của mình, và nỗi nhục sẽ giết chết tôi. Máu tôi sẽ đổ lên đầu ông, thưa ông, thật đấy, nếu ông dồn tôi vào đường cùng. Nếu sau chuyện vừa rồi ông không thể giữ tôi lại, thì vì Chúa, xin để tôi xin thôi việc và đi trong một tháng, như thể tự ý tôi muốn đi. Như thế thì tôi chịu được, thưa ông Mát-grêv, chứ không phải bị tống cổ đi trước mặt bao người tôi quen biết.'
'Anh chẳng đáng được nể nang gì mấy, Brân-tơn ạ,' tôi đáp. 'Hành vi của anh thật đáng xấu hổ. Tuy vậy, vì anh đã ở với gia đình tôi lâu năm, tôi không muốn làm anh nhục nhã trước mọi người. Nhưng một tháng thì lâu quá. Anh hãy đi trong vòng một tuần, muốn lấy lý do gì thì tuỳ.'
'Chỉ một tuần thôi sao, thưa ông?' anh ta kêu lên, giọng tuyệt vọng. 'Hai tuần, xin ông ít ra cũng cho hai tuần!'
'Một tuần,' tôi nhắc lại, 'và anh có thể coi như mình đã được đối xử rất khoan dung.'
Anh ta lủi đi, mặt cúi gằm xuống ngực như một người tan nát, còn tôi tắt đèn quay về phòng.
Suốt hai ngày sau đó, Brân-tơn hết sức chăm chỉ làm phận sự. Tôi không nhắc gì tới chuyện đã xảy ra, và có phần tò mò chờ xem anh ta sẽ che giấu nỗi nhục của mình ra sao. Nhưng tới sáng ngày thứ ba, sau bữa điểm tâm, anh ta không xuất hiện để nhận chỉ thị công việc trong ngày như thường lệ. Ra khỏi phòng ăn, tôi tình cờ gặp Rây-chơn Hao-en, cô hầu gái. Tôi đã nói với anh là cô ấy mới ốm dậy, và trông cô xanh xao, hốc hác tới mức tôi trách cô sao lại đi làm.
'Cô phải nằm nghỉ chứ,' tôi nói. 'Khi nào khoẻ hơn hãy quay lại làm việc.'
Cô nhìn tôi với vẻ mặt kỳ lạ tới mức tôi bắt đầu ngờ rằng đầu óc cô có vấn đề.
'Tôi khoẻ rồi, thưa ông Mát-grêv,' cô nói.
'Để xem bác sĩ nói sao đã,' tôi đáp. 'Giờ cô phải nghỉ việc, và khi xuống dưới nhà, cô bảo là tôi muốn gặp Brân-tơn.'
'Ông quản gia đi rồi,' cô nói.
'Đi rồi! Đi đâu?'
'Ông ấy đi rồi. Không ai thấy ông ấy cả. Ông ấy không có trong phòng. Ồ phải, ông ấy đi rồi, ông ấy đi rồi!'
Cô ngã dựa vào tường, cười rú lên hết tràng này tới tràng khác, còn tôi, kinh hoàng trước cơn kích động đột ngột ấy, chạy tới giật chuông gọi người. Cô gái được đưa về phòng, vẫn vừa la hét vừa nức nở, trong khi tôi đi hỏi han về Brân-tơn. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, anh ta đã biến mất. Giường anh ta không có dấu vết người nằm, không ai thấy anh ta từ lúc anh ta về phòng tối hôm trước. Thế nhưng thật khó hiểu làm sao anh ta có thể ra khỏi nhà, vì sáng ra mọi cửa sổ và cửa ra vào đều cài then. Quần áo, đồng hồ, thậm chí cả tiền bạc của anh ta đều còn trong phòng, chỉ thiếu bộ đồ đen anh ta vẫn thường mặc. Đôi dép đi trong nhà cũng không còn, nhưng ủng thì vẫn để lại. Vậy viên quản gia Brân-tơn đã đi đâu trong đêm, và giờ anh ta ra sao?
Dĩ nhiên chúng tôi lục soát khắp nhà, từ hầm lên tới gác xép, nhưng chẳng thấy dấu vết gì. Như tôi đã nói, đó là một ngôi nhà cổ như mê cung, nhất là cái chái nguyên thuỷ, giờ hầu như không có người ở. Nhưng chúng tôi đã lục tung mọi căn phòng, mọi căn hầm mà không phát hiện được một dấu hiệu nhỏ nhất nào của người mất tích. Tôi không thể tin anh ta lại bỏ đi mà để lại hết của cải, vậy thì anh ta có thể ở đâu? Tôi đã gọi cảnh sát địa phương tới, nhưng chẳng ăn thua. Đêm trước trời có mưa, và chúng tôi đã xem xét bãi cỏ cùng những lối đi quanh nhà, nhưng vô ích. Mọi chuyện đang như thế thì một diễn biến mới đã kéo hẳn sự chú ý của chúng tôi khỏi bí ẩn ban đầu.
Suốt hai ngày, Rây-chơn Hao-en ốm nặng, lúc mê sảng, lúc lên cơn kích động, nên chúng tôi phải thuê một người hộ lý thức trông cô ban đêm. Vào đêm thứ ba sau khi Brân-tơn mất tích, người hộ lý thấy bệnh nhân ngủ ngon nên thiếp đi trên ghế bành. Rạng sáng tỉnh dậy thì thấy giường trống, cửa sổ mở toang, chẳng thấy bóng dáng người bệnh đâu. Tôi bị đánh thức ngay lập tức, và cùng hai người hầu nam đi tìm cô gái mất tích. Chẳng khó gì để biết cô đã đi hướng nào, vì từ dưới cửa sổ phòng cô, chúng tôi dễ dàng lần theo dấu chân cô băng qua bãi cỏ tới mép hồ, nơi dấu chân biến mất ở sát con đường rải sỏi dẫn ra khỏi khu vườn. Hồ ở chỗ ấy sâu chừng hai mét rưỡi, và anh có thể hình dung chúng tôi cảm thấy thế nào khi thấy dấu chân của cô gái mất trí đáng thương dừng lại ở mép nước.
Dĩ nhiên chúng tôi lập tức cho thả lưới vét, bắt tay vào việc tìm thi thể, nhưng chẳng thấy dấu vết gì của xác cô. Mặt khác, chúng tôi lại vớt lên một vật hoàn toàn không ngờ tới. Đó là một chiếc túi vải lanh, bên trong có một khối kim loại cũ hoen gỉ, bạc màu, và mấy viên trông như sỏi hay thuỷ tinh màu đục. Món đồ lạ lùng ấy là tất cả những gì chúng tôi vớt được từ hồ. Dù hôm qua chúng tôi đã tìm kiếm, hỏi han bằng mọi cách có thể, chúng tôi vẫn không biết gì về số phận của Rây-chơn Hao-en lẫn Ri-sát Brân-tơn. Cảnh sát hạt đã bó tay, và tôi tìm tới anh như phương sách cuối cùng."
Anh có thể hình dung, Oát-xơn ạ, tôi háo hức thế nào khi nghe chuỗi sự việc phi thường ấy, cố ráp chúng lại với nhau, tìm ra một sợi chỉ chung có thể xâu chúng lại. Viên quản gia đã biến mất. Cô hầu gái đã biến mất. Cô hầu đã yêu viên quản gia, nhưng sau đó có lý do để căm ghét anh ta. Cô mang dòng máu xứ Uên, nồng nhiệt và đam mê. Cô đã vô cùng kích động ngay sau khi anh ta mất tích. Cô đã ném xuống hồ một chiếc túi chứa những thứ kỳ lạ. Đó là tất cả những yếu tố phải đem ra cân nhắc, thế nhưng không yếu tố nào chạm tới được cốt lõi vấn đề. Đâu là điểm khởi đầu của chuỗi sự việc này? Đó chính là đầu mối của cuộn chỉ rối.
"Mát-grêv, tôi phải xem tờ giấy ấy," tôi nói, "tờ giấy mà viên quản gia của anh thấy đáng để xem, dù phải liều mất cả chỗ làm."
"Cái nghi lễ này của chúng tôi khá là vô lý," anh ta đáp. "Nhưng ít ra nó cũng được cái tuổi tác lâu đời bù lại. Tôi có mang theo bản chép những câu hỏi và câu trả lời đây, nếu anh muốn xem qua."
Anh ta đưa tôi chính tờ giấy tôi đang cầm đây, Oát-xơn, và đây là bài vấn đáp kỳ lạ mà mỗi người họ Mát-grêv phải trải qua khi tới tuổi trưởng thành. Tôi sẽ đọc anh nghe những câu hỏi và câu trả lời đúng như trong đó.
Nó là của ai?
Của người đã ra đi.
Ai sẽ có nó?
Người sẽ tới.
Mặt trời ở đâu?
Trên cây sồi.
Bóng ở đâu?
Dưới cây du.
Đi bước thế nào?
Về bắc mười bước rồi mười bước, về đông năm bước rồi năm bước, về nam hai bước rồi hai bước, về tây một bước rồi một bước, rồi xuống dưới.
Ta lấy gì để đổi lấy nó?
Tất cả những gì của ta.
Tại sao ta phải đổi?
Vì lòng trung tín.
"Bản gốc không ghi ngày tháng, nhưng viết theo lối chính tả giữa thế kỷ mười bảy," Mát-grêv nhận xét. "Tuy vậy tôi e nó chẳng giúp ích được mấy cho anh trong việc giải bí ẩn này."
"Ít ra," tôi nói, "nó cho ta thêm một bí ẩn nữa, mà còn thú vị hơn cả bí ẩn đầu. Có thể lời giải của bí ẩn này lại chính là lời giải của bí ẩn kia. Mát-grêv, xin anh thứ lỗi nếu tôi nói rằng tôi thấy viên quản gia của anh là một người rất thông minh, và đã nhìn thấu hơn cả mười đời chủ nhân của anh ta."
"Tôi không hiểu ý anh lắm," Mát-grêv nói. "Tôi thấy tờ giấy này chẳng có ý nghĩa thực tế gì."
"Nhưng tôi lại thấy nó vô cùng thực tế, và tôi đoán Brân-tơn cũng thấy như vậy. Có lẽ anh ta đã từng xem nó trước cái đêm anh bắt gặp."
"Rất có thể. Chúng tôi đâu có cất giấu gì nó."
"Tôi nghĩ lần cuối ấy anh ta chỉ muốn ôn lại cho nhớ. Theo tôi hiểu, anh ta có một thứ bản đồ hay sơ đồ gì đó, đang đem so với bản viết tay, và đã nhét vào túi khi thấy anh xuất hiện."
"Đúng thế. Nhưng anh ta thì liên quan gì tới cái tục lệ gia đình cổ lỗ này của chúng tôi, và mấy câu lằng nhằng này nghĩa là gì?"
"Tôi nghĩ chúng ta sẽ không khó khăn gì lắm để xác định điều đó," tôi nói. "Nếu anh cho phép, chúng ta sẽ đi chuyến tàu sớm nhất xuống Xu-xếch, xem xét kỹ hơn ngay tại chỗ."
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám