Chương 1: Ông già bán sách
Mùa xuân năm 1894, cả Luân Đôn xôn xao, còn giới thượng lưu thì kinh hoàng, trước vụ ám sát ngài Rô-nan Ê-đơ trong những hoàn cảnh hết sức khác thường và không sao giải thích nổi. Công chúng đã biết những chi tiết của vụ án được đưa ra trong cuộc điều tra của cảnh sát, nhưng lúc ấy còn nhiều điều bị giữ kín, vì chứng cứ buộc tội đã quá vững chắc, chẳng cần đưa ra hết mọi sự việc. Phải tới bây giờ, sau gần mười năm, tôi mới được phép bổ sung những mắt xích còn thiếu để làm nên trọn vẹn chuỗi sự kiện đáng kinh ngạc ấy. Bản thân tội ác đã đáng chú ý, nhưng với tôi, cái đáng chú ý ấy chẳng thấm vào đâu so với phần tiếp theo không thể tưởng tượng nổi của nó, điều đã khiến tôi bàng hoàng và sửng sốt hơn mọi biến cố trong cuộc đời nhiều phiêu lưu của mình. Ngay cả giờ đây, sau một thời gian dài như thế, nghĩ lại tôi vẫn còn run lên, và lại cảm thấy dâng trào cơn lũ vui mừng, kinh ngạc và ngờ vực đã nhấn chìm hoàn toàn tâm trí tôi lúc ấy. Tôi xin nói với công chúng, những người đã ít nhiều quan tâm tới những gì tôi thỉnh thoảng hé lộ về suy nghĩ và hành động của một con người rất phi thường, rằng xin đừng trách tôi vì đã không chia sẻ những điều mình biết. Lẽ ra tôi phải coi đó là bổn phận hàng đầu, nếu không bị chính miệng anh cấm tuyệt đối, một lệnh cấm mãi tới ngày mồng ba tháng trước mới được gỡ bỏ.
Có thể hình dung rằng tình thân thiết với Sơ-lốc Hôm đã khiến tôi rất quan tâm tới tội phạm, và sau khi anh mất tích, tôi chưa bao giờ bỏ qua việc đọc kỹ những vụ án được công bố. Thậm chí đã hơn một lần, cho riêng mình thoả mãn, tôi thử dùng phương pháp của anh để giải chúng, dù kết quả chẳng mấy khả quan. Nhưng không vụ nào cuốn hút tôi như tấn thảm kịch của Rô-nan Ê-đơ. Khi đọc những lời khai tại phiên khám nghiệm tử thi, nơi đưa ra phán quyết là cố ý giết người do một hay nhiều kẻ chưa rõ danh tính, tôi nhận ra rõ hơn bao giờ hết xã hội đã mất mát thế nào vì cái chết của Sơ-lốc Hôm. Tôi tin chắc trong chuyện lạ lùng này có những điểm hẳn sẽ đặc biệt hấp dẫn anh, và nỗ lực của cảnh sát hẳn đã được bổ sung, hay đúng hơn là được đi trước, bởi khả năng quan sát dày công rèn luyện và đầu óc nhạy bén của nhà điều tra tội phạm số một châu Âu. Suốt cả ngày, trong lúc ngồi xe đi thăm bệnh, tôi cứ lật đi lật lại vụ án trong đầu mà chẳng tìm ra lời giải thích nào thoả đáng. Dù có nguy cơ kể lại một chuyện ai cũng đã biết, tôi xin tóm tắt các sự việc như công chúng được biết khi phiên khám nghiệm kết thúc.
Ngài Rô-nan Ê-đơ là con trai thứ của bá tước Mây-nút, lúc ấy đang làm thống đốc một thuộc địa ở Úc. Mẹ Ê-đơ đã từ Úc về để mổ đục thuỷ tinh thể, và bà cùng con trai Rô-nan, con gái Hin-đa sống chung ở số 427 phố Pác Lên. Chàng trai giao du trong giới thượng lưu bậc nhất, và theo những gì người ta biết, không có kẻ thù, cũng chẳng có thói hư tật xấu gì đặc biệt. Anh từng đính hôn với cô Ê-đít Út-li ở Ca-xte, nhưng mấy tháng trước hôn ước đã được hai bên thoả thuận huỷ bỏ, và chẳng có dấu hiệu gì cho thấy nó để lại một mối tình cảm sâu nặng nào. Còn lại, cuộc đời anh trôi trong một vòng giao du hẹp, khuôn phép, vì anh có nếp sống trầm lặng và bản tính ít xúc động. Thế mà chính chàng quý tộc trẻ dễ tính ấy lại bị cái chết ập tới, dưới một hình thức hết sức lạ lùng và bất ngờ, trong khoảng từ mười giờ tới mười một giờ hai mươi đêm 30 tháng Ba năm 1894.
Rô-nan Ê-đơ mê chơi bài, chơi liên tục, nhưng chưa bao giờ đặt cược lớn tới mức có thể làm anh thiệt hại. Anh là hội viên của ba câu lạc bộ bài Bôn-uyn, Ca-vơn-đít và Ba-ga-ten. Người ta xác định được rằng hôm anh chết, sau bữa tối, anh đã chơi một ván bài huýt ở câu lạc bộ cuối cùng. Buổi chiều anh cũng chơi ở đó. Lời khai của những người chơi cùng anh, ông Mơ-ri, ngài Giôn Hác-đi và đại tá Mo-ran, cho thấy đó là bài huýt, và vận bài khá đồng đều. Ê-đơ có thể đã thua năm bảng, nhưng không hơn. Anh có một gia sản đáng kể, và khoản thua như thế chẳng thể ảnh hưởng gì tới anh. Gần như ngày nào anh cũng chơi ở câu lạc bộ này hay câu lạc bộ khác, nhưng anh là người chơi thận trọng, và thường đứng dậy với phần thắng. Các lời khai cho thấy mấy tuần trước, chơi cặp với đại tá Mo-ran, anh đã thắng tới bốn trăm hai mươi bảng chỉ trong một buổi, thắng của Gốt-phrây Min-nơ và huân tước Ban-mo-ran. Đó là những gì về cuộc sống gần đây của anh được đưa ra tại phiên khám nghiệm.
Tối xảy ra án mạng, anh từ câu lạc bộ về nhà đúng mười giờ. Mẹ và em gái anh đi thăm một người họ hàng. Cô hầu khai rằng cô nghe anh vào căn phòng phía trước trên tầng ba, nơi anh thường dùng làm phòng khách. Cô đã nhóm lửa ở đó, và vì lò sưởi bốc khói nên cô đã mở cửa sổ. Không nghe thấy tiếng động gì từ căn phòng cho tới mười một giờ hai mươi, giờ phu nhân Mây-nút và con gái về nhà. Muốn chúc con ngủ ngon, bà định vào phòng con trai. Cửa khoá trái từ bên trong, và gọi, gõ thế nào cũng không ai trả lời. Người ta gọi người tới giúp, phá cửa. Chàng trai bất hạnh được tìm thấy nằm gần chiếc bàn. Đầu anh bị một viên đạn súng lục loại đầu nở xé nát khủng khiếp, nhưng trong phòng không có bất cứ thứ vũ khí nào. Trên bàn có hai tờ giấy bạc mười bảng, và mười bảy bảng mười si-linh bằng tiền bạc và tiền vàng, xếp thành từng chồng nhỏ nhiều ít khác nhau. Trên một tờ giấy còn có mấy con số, đối diện là tên một vài người bạn trong câu lạc bộ. Từ đó người ta đoán rằng trước khi chết, anh đang tính toán xem mình thua hay thắng bài bao nhiêu.
Xem xét tỉ mỉ mọi tình tiết chỉ khiến vụ án thêm rắc rối. Trước hết, không ai giải thích được vì sao chàng trai lại khoá trái cửa từ bên trong. Có thể là kẻ sát nhân đã khoá, rồi sau đó trốn qua cửa sổ. Nhưng từ cửa sổ xuống đất cao ít nhất hơn sáu mét, mà bên dưới lại là một luống hoa nghệ tây đang nở rộ. Cả hoa lẫn đất đều không có dấu hiệu bị giẫm đạp, cũng chẳng có dấu vết gì trên dải cỏ hẹp ngăn cách ngôi nhà với đường cái. Vậy hình như chính chàng trai đã khoá cửa. Nhưng anh chết bằng cách nào? Không ai có thể trèo lên cửa sổ mà không để lại dấu vết. Giả sử có người bắn qua cửa sổ, thì kẻ đó phải là một tay thiện xạ phi thường mới gây được vết thương chí mạng như thế bằng một khẩu súng lục. Lại nữa, phố Pác Lên là một con phố đông người qua lại, cách nhà chưa tới trăm mét có một bến xe ngựa. Chẳng ai nghe thấy tiếng súng. Vậy mà người chết nằm đó, và viên đạn súng lục nằm đó, đầu đạn đã nở bung ra như các loại đạn đầu mềm, gây nên một vết thương hẳn đã làm chết ngay tức khắc. Đó là những tình tiết của bí ẩn phố Pác Lên, càng thêm rối rắm vì hoàn toàn không có động cơ, vì như tôi đã nói, không ai biết cậu Ê-đơ có kẻ thù nào, và chẳng ai động tới tiền bạc hay đồ quý giá trong phòng.
Suốt ngày tôi lật đi lật lại những sự việc ấy, cố tìm ra một giả thuyết dung hoà được tất cả, và tìm ra con đường ít trở ngại nhất mà người bạn tội nghiệp của tôi từng bảo là điểm khởi đầu của mọi cuộc điều tra. Tôi thú thật là chẳng tiến được bao nhiêu. Buổi tối tôi tản bộ băng qua công viên, và khoảng sáu giờ thì thấy mình đã tới đầu phố Pác Lên phía phố Óc-xphớt. Một đám người vô công rồi nghề trên vỉa hè, tất cả đang ngước nhìn lên một ô cửa sổ, chỉ cho tôi biết ngôi nhà tôi tới để xem. Một người cao gầy đeo kính màu, mà tôi rất ngờ là một thám tử mặc thường phục, đang giảng giải một giả thuyết của riêng mình, những người kia xúm quanh nghe ông ta nói. Tôi chen tới gần ông ta hết mức có thể, nhưng những nhận xét của ông ta nghe vô lý quá, nên tôi lại bực bội lùi ra. Đúng lúc ấy tôi va phải một ông già dị dạng đứng sau lưng, làm rơi mấy cuốn sách ông đang ôm. Tôi nhớ khi nhặt lên, tôi để ý tên một cuốn là “Nguồn gốc tục thờ cây”, và tôi nghĩ ông ta hẳn là một người mê sách nghèo, sưu tầm những cuốn sách ít người biết, có thể vì nghề, có thể vì thú vui. Tôi cố xin lỗi về chuyện vô ý, nhưng rõ ràng những cuốn sách tôi không may làm hỏng là những thứ hết sức quý giá trong mắt chủ nhân. Với một tiếng gầm gừ khinh bỉ, ông ta quay gót, và tôi thấy cái lưng còng cùng bộ tóc mai bạc trắng của ông ta khuất dần trong đám đông.
Việc quan sát ngôi nhà số 427 phố Pác Lên chẳng giúp gì nhiều cho bài toán mà tôi đang quan tâm. Ngôi nhà ngăn cách với đường phố bằng một bức tường thấp có hàng rào sắt, tất cả không cao quá một mét rưỡi. Vậy ai muốn vào vườn cũng hết sức dễ dàng, nhưng cửa sổ thì hoàn toàn không thể với tới, vì không có ống nước hay bất cứ thứ gì giúp được ngay cả người nhanh nhẹn nhất trèo lên. Càng bối rối hơn bao giờ hết, tôi quay về Ken-xinh-tơn. Tôi vào phòng làm việc chưa được năm phút thì cô hầu vào báo có người muốn gặp tôi. Tôi sửng sốt khi thấy đó không ai khác chính là ông già sưu tầm sách kỳ lạ, gương mặt nhăn nheo, sắc sảo ló ra giữa khung tóc bạc trắng, những cuốn sách quý, ít nhất cũng cả chục cuốn, kẹp dưới cánh tay phải.
— Ông ngạc nhiên khi thấy tôi, thưa ông, ông ta nói bằng một giọng khàn khàn lạ lùng.
Tôi thừa nhận là có.
— Chà, tôi cũng có lương tâm, thưa ông. Khi tôi tập tễnh đi theo sau ông, tình cờ thấy ông vào nhà này, tôi tự nhủ, mình sẽ ghé vào gặp quý ông tốt bụng ấy, nói với ông rằng nếu lúc nãy tôi có hơi cộc cằn thì cũng chẳng có ý gì xấu, và tôi rất cảm ơn ông đã nhặt sách giúp tôi.
— Ông làm to chuyện vặt rồi, tôi nói. Cho tôi hỏi sao ông biết tôi là ai?
— Chà, thưa ông, nếu không phải là quá đường đột thì tôi là hàng xóm của ông đấy, vì ông sẽ thấy cửa hiệu sách nhỏ của tôi ở góc phố Chơ-chơ, và tôi chắc chắn rất vui được đón ông. Có lẽ ông cũng sưu tầm sách, thưa ông. Đây là cuốn “Chim chóc nước Anh”, đây là thơ Ca-tun-lút, đây là cuốn “Thánh chiến”, cuốn nào cũng rẻ như cho. Chỉ năm cuốn là ông có thể lấp vừa khoảng trống trên ngăn thứ hai kia. Trông nó lôi thôi quá, phải không thưa ông?
Tôi quay đầu nhìn tủ sách sau lưng. Khi tôi quay lại, Sơ-lốc Hôm đang đứng mỉm cười nhìn tôi bên kia bàn làm việc. Tôi đứng bật dậy, nhìn anh trân trối mấy giây trong cơn kinh ngạc tột cùng, và rồi hình như tôi đã ngất đi, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong đời. Chắc chắn là một màn sương xám đã cuộn xoáy trước mắt tôi, và khi nó tan đi, tôi thấy cổ áo mình đã được cởi ra, và vị rượu mạnh còn tê tê trên môi. Hôm đang cúi xuống ghế tôi, tay cầm bình rượu.
— Oát-xơn thân mến, cái giọng quen thuộc mà tôi vẫn nhớ nói, tôi nợ anh cả nghìn lời xin lỗi. Tôi không ngờ anh lại xúc động tới mức ấy.
Tôi nắm chặt lấy hai cánh tay anh.
— Hôm! tôi kêu lên. Có thật là anh không? Có thật là anh còn sống không? Lẽ nào anh đã leo ra được khỏi cái vực khủng khiếp ấy?
— Khoan đã, anh nói. Anh có chắc mình đủ sức để bàn chuyện chưa? Tôi đã làm anh bị sốc nặng vì cái màn xuất hiện trở lại kịch tính không cần thiết của mình.
— Tôi ổn, nhưng thật tình, Hôm, tôi khó tin vào mắt mình. Trời ơi! Nghĩ mà xem, anh, chính anh chứ không phải ai khác, lại đang đứng trong phòng làm việc của tôi.
Tôi lại nắm lấy tay áo anh, và cảm thấy cánh tay gầy gò, rắn chắc bên dưới.
— Chà, dù sao anh cũng không phải hồn ma, tôi nói. Anh bạn thân mến, gặp lại anh tôi mừng khôn xiết. Ngồi xuống đi, và kể tôi nghe làm sao anh sống sót ra khỏi cái vực sâu khủng khiếp ấy.
Anh ngồi đối diện tôi, châm điếu thuốc lá theo cái kiểu thản nhiên quen thuộc ngày xưa. Anh vẫn mặc chiếc áo choàng dài sờn cũ của ông bán sách, nhưng phần còn lại của nhân vật ấy đã nằm thành một đống tóc bạc và sách cũ trên bàn. Hôm trông còn gầy hơn và sắc sảo hơn trước, nhưng gương mặt mũi khoằm của anh có một màu trắng bệch cho tôi biết dạo này anh sống chẳng mấy lành mạnh.
— Được duỗi thẳng người tôi mừng lắm, Oát-xơn ạ, anh nói. Một người cao lớn mà phải thu mình thấp đi cả ba tấc suốt mấy tiếng liền thì chẳng đùa được đâu. Còn bây giờ, anh bạn thân mến, về chuyện giải thích, nếu tôi được nhờ anh hợp tác, thì trước mặt chúng ta là một đêm làm việc vất vả và nguy hiểm. Có lẽ tốt hơn là xong việc ấy rồi tôi sẽ kể anh nghe toàn bộ tình hình.
— Tôi đang tò mò chết đi được. Tôi muốn nghe ngay bây giờ cơ.
— Tối nay anh sẽ đi với tôi chứ?
— Anh muốn lúc nào, ở đâu cũng được.
— Thế này thì đúng là y như ngày xưa. Chúng ta còn kịp ăn tối qua loa trước khi đi. Thôi được, về cái vực ấy. Tôi chẳng khó khăn gì để ra khỏi nó, vì một lý do rất đơn giản là tôi chưa bao giờ rơi xuống đó.
— Anh chưa bao giờ rơi xuống đó?
— Không, Oát-xơn, tôi chưa bao giờ rơi xuống đó. Mẩu thư tôi để lại cho anh hoàn toàn là thật. Tôi gần như không nghi ngờ gì rằng sự nghiệp của mình đã tới hồi kết, khi tôi thấy bóng dáng có phần đáng sợ của cố giáo sư Mô-ri-a-ti đứng chắn trên lối mòn hẹp dẫn về chỗ an toàn. Tôi đọc thấy một quyết tâm không gì lay chuyển trong đôi mắt xám của hắn. Vì thế tôi trao đổi với hắn vài câu, và được hắn lịch sự cho phép viết mẩu thư ngắn mà sau đó anh nhận được. Tôi để nó lại cùng hộp thuốc lá và cây gậy, rồi đi dọc lối mòn, Mô-ri-a-ti vẫn bám sát sau lưng. Tới cuối đường, tôi đứng quay lại đối mặt. Hắn không rút vũ khí, mà lao vào tôi, dùng đôi tay dài ôm chặt lấy tôi. Hắn biết mình đã thua, và chỉ còn nóng lòng trả thù tôi. Hai chúng tôi chao đảo bên mép thác. Nhưng tôi có biết chút ít về môn ba-rít-xu, một kiểu vật của người Nhật, thứ đã hơn một lần giúp ích cho tôi rất nhiều. Tôi trượt ra khỏi vòng tay hắn, còn hắn thì rú lên một tiếng khủng khiếp, đạp loạn xạ mấy giây, hai tay cào cấu vào không khí. Nhưng dù cố gắng thế nào hắn cũng không lấy lại được thăng bằng, và rơi xuống. Ghé mặt qua mép vực, tôi nhìn hắn rơi một quãng rất dài. Rồi hắn đập vào một tảng đá, nảy ra, và rơi ùm xuống nước.
Hôm vừa rít thuốc vừa kể, còn tôi kinh ngạc lắng nghe.
— Nhưng còn dấu chân! tôi kêu lên. Chính mắt tôi thấy có hai người đi xuống lối mòn mà không ai quay lại.
— Chuyện là thế này. Ngay khi giáo sư biến mất, tôi chợt nhận ra số phận vừa đặt vào tay tôi một cơ hội may mắn phi thường đến thế nào. Tôi biết Mô-ri-a-ti không phải kẻ duy nhất đã thề giết tôi. Còn ít nhất ba kẻ khác nữa, lòng muốn báo thù tôi của chúng sẽ chỉ càng tăng lên khi thủ lĩnh của chúng chết. Tên nào cũng cực kỳ nguy hiểm. Thế nào cũng có tên tóm được tôi. Mặt khác, nếu cả thế giới tin rằng tôi đã chết, thì những kẻ ấy sẽ lơi lỏng, chẳng mấy chốc sẽ để lộ sơ hở, và sớm muộn tôi sẽ tiêu diệt được chúng. Tới lúc ấy tôi mới tuyên bố mình vẫn còn trên cõi đời. Đầu óc hoạt động nhanh tới mức tôi tin là tôi đã nghĩ xong tất cả những điều ấy trước khi giáo sư Mô-ri-a-ti chạm tới đáy thác Rai-sen-bách.
Tôi đứng dậy xem xét vách đá sau lưng. Trong bài tường thuật đầy hình ảnh của anh về chuyện ấy, mà mấy tháng sau tôi đọc với sự thích thú lớn, anh khẳng định vách đá dựng đứng. Điều đó không hoàn toàn đúng theo nghĩa đen. Có vài chỗ đặt chân nhỏ, và có dấu hiệu của một mỏm đá nhô ra. Vách đá cao tới mức trèo lên tận đỉnh thì rõ ràng là không thể, mà đi dọc lối mòn ẩm ướt mà không để lại dấu chân cũng không thể nốt. Đúng là tôi có thể đi giày ngược, như tôi từng làm trong những dịp tương tự, nhưng nhìn thấy ba hàng dấu chân cùng một chiều thì thế nào người ta cũng nghĩ ngay tới một trò lừa. Vậy nhìn chung, tốt nhất là tôi liều trèo lên. Đó chẳng phải việc dễ chịu gì, Oát-xơn ạ. Thác nước gầm thét bên dưới. Tôi không phải người hay tưởng tượng, nhưng tôi thề với anh, tôi như nghe thấy tiếng Mô-ri-a-ti gào thét gọi tôi từ dưới vực sâu. Chỉ một sai sót là chết. Đã hơn một lần, khi túm cỏ bật ra trong tay hay chân tôi trượt trên những khấc đá ướt, tôi tưởng mình đi đứt rồi. Nhưng tôi cứ cố leo lên, và cuối cùng tới được một mỏm đá sâu vài bước chân, phủ đầy rêu xanh mềm mại, nơi tôi có thể nằm mà không ai thấy, hết sức dễ chịu. Tôi đang nằm dài ở đó thì anh, Oát-xơn thân mến, cùng cả đoàn người đi theo anh kéo tới, điều tra về hoàn cảnh cái chết của tôi một cách hết sức thương cảm và hết sức kém cỏi.
Cuối cùng, khi tất cả các anh đã đi tới những kết luận tất yếu mà hoàn toàn sai lầm, các anh trở về khách sạn, và tôi còn lại một mình. Tôi cứ tưởng cuộc phiêu lưu của mình đã kết thúc, nhưng một chuyện hết sức bất ngờ cho tôi thấy vẫn còn những điều ngạc nhiên đang chờ. Một tảng đá lớn từ trên rơi xuống, ầm ầm lao qua tôi, đập xuống lối mòn rồi nảy xuống vực. Thoạt tiên tôi tưởng là chuyện tình cờ, nhưng một lát sau, ngước lên, tôi thấy đầu một người đàn ông in trên nền trời đang sẫm lại, và một hòn đá nữa đập đúng vào mỏm đá tôi đang nằm, cách đầu tôi chưa đầy ba tấc. Dĩ nhiên ý nghĩa của chuyện này đã rõ. Mô-ri-a-ti không đi một mình. Một đồng bọn, mà chỉ một cái liếc mắt ấy cũng đủ cho tôi biết đồng bọn ấy nguy hiểm tới mức nào, đã đứng canh trong lúc giáo sư tấn công tôi. Từ xa, khuất khỏi tầm mắt tôi, hắn đã chứng kiến cái chết của bạn hắn và việc tôi thoát nạn. Hắn đã đợi, rồi vòng lên đỉnh vách đá, cố làm cho được điều mà đồng bọn hắn đã thất bại.
Tôi chẳng mất nhiều thời gian suy nghĩ, Oát-xơn ạ. Tôi lại thấy gương mặt hung ác ấy nhìn xuống qua mép vách đá, và tôi biết đó là dấu hiệu báo trước một hòn đá nữa. Tôi lần xuống lối mòn. Tôi không nghĩ mình có thể làm được điều đó nếu đang bình tĩnh. Nó khó gấp trăm lần leo lên. Nhưng tôi không có thời gian nghĩ tới nguy hiểm, vì một hòn đá nữa lại rít qua người tôi khi tôi đang đu hai tay bám mép mỏm đá. Xuống được nửa chừng thì tôi trượt chân, nhưng nhờ ơn Chúa, tôi rơi xuống lối mòn, rách tả tơi và chảy máu. Tôi co giò chạy, vượt mười sáu cây số đường núi trong bóng tối, và một tuần sau tôi đã có mặt ở Phlo-ren-xơ, tin chắc rằng không ai trên đời biết tôi ra sao.
Tôi chỉ cho đúng một người biết bí mật, là anh trai tôi, Mai-crốp. Tôi nợ anh nhiều lời xin lỗi, Oát-xơn thân mến, nhưng điều tối quan trọng là người ta phải tin rằng tôi đã chết, và chắc chắn anh đã không viết được một bài tường thuật thuyết phục đến thế về kết cục bất hạnh của tôi nếu chính anh không tin đó là sự thật. Mấy lần trong ba năm qua tôi đã cầm bút định viết thư cho anh, nhưng lần nào tôi cũng sợ rằng tình cảm thân thiết anh dành cho tôi sẽ khiến anh có một sơ suất nào đó làm lộ bí mật của tôi. Cũng vì lý do ấy mà tối nay, khi anh làm đổ sách của tôi, tôi đã quay đi, vì lúc ấy tôi đang gặp nguy hiểm, và chỉ cần anh tỏ ra ngạc nhiên hay xúc động một chút thôi là có thể khiến người ta chú ý tới danh tính của tôi, dẫn tới những hậu quả đáng tiếc nhất, không sao cứu vãn được. Còn với Mai-crốp, tôi buộc phải tin cậy anh ấy để có tiền tiêu. Mọi chuyện ở Luân Đôn không diễn ra suôn sẻ như tôi mong, vì phiên toà xử băng Mô-ri-a-ti đã để lọt hai kẻ nguy hiểm nhất trong băng, cũng là hai kẻ căm thù tôi nhất. Vì vậy tôi đi du lịch hai năm ở Tây Tạng, tiêu khiển bằng cách thăm thành La-xa, và ở vài ngày với vị đại lạt ma. Có thể anh đã đọc về những chuyến thám hiểm đáng chú ý của một người Na Uy tên là Xi-gơ-xơn, nhưng tôi chắc anh chẳng bao giờ nghĩ rằng đó là tin tức về bạn mình. Sau đó tôi đi qua Ba Tư, ghé thăm thánh địa Mét-ca, rồi có một chuyến ghé thăm ngắn nhưng thú vị tới vị Ca-li-pha ở Khác-tum, kết quả chuyến ấy tôi đã báo cho Bộ Ngoại giao. Trở về Pháp, tôi dành mấy tháng nghiên cứu các dẫn xuất của nhựa than đá, tiến hành trong một phòng thí nghiệm ở Mông-pơ-li-ê, miền nam nước Pháp. Nghiên cứu xong xuôi vừa ý, lại biết rằng kẻ thù của tôi giờ chỉ còn một tên ở Luân Đôn, tôi định quay về thì tin về bí ẩn phố Pác Lên hết sức đáng chú ý này khiến tôi phải về sớm hơn. Nó không chỉ hấp dẫn tôi vì bản thân nó, mà còn có vẻ mở ra cho riêng tôi những cơ hội rất đặc biệt. Tôi về Luân Đôn ngay, đường hoàng tới phố Bây-cơ trong vai chính mình, làm bà Hớt-xơn lên cơn kích động dữ dội, và thấy Mai-crốp đã giữ nguyên phòng ốc và giấy tờ của tôi đúng như xưa nay vẫn thế. Thế đấy, Oát-xơn thân mến, hai giờ chiều nay tôi đã ngồi trong chiếc ghế bành cũ, trong căn phòng cũ của mình, chỉ ước giá được thấy người bạn cũ Oát-xơn ngồi trong chiếc ghế kia, chỗ anh đã bao lần ngồi làm đẹp căn phòng.
Đó là câu chuyện phi thường tôi được nghe tối hôm ấy, một tối tháng Tư. Một câu chuyện hẳn tôi đã hoàn toàn không tin nổi, nếu nó không được xác nhận bằng chính hình dáng cao gầy và gương mặt sắc sảo, háo hức trước mắt tôi, những thứ tôi đã nghĩ chẳng bao giờ được thấy lại. Bằng cách nào đó anh đã biết tin tôi mới chịu cảnh tang thương, và anh tỏ lòng cảm thông qua cử chỉ hơn là lời nói.
— Công việc là liều thuốc giải sầu tốt nhất, Oát-xơn thân mến ạ, anh nói. Tối nay tôi có một việc cho cả hai chúng ta, nếu ta làm thành công thì riêng nó cũng đủ khiến một đời người trên trái đất này không uổng phí.
Tôi nài nỉ anh kể thêm, nhưng vô ích.
— Trước khi trời sáng anh sẽ nghe và thấy đủ, anh đáp. Chúng ta có cả ba năm quá khứ để bàn. Tạm thế đã, cho tới chín giờ rưỡi, khi chúng ta lên đường cho cuộc phiêu lưu đáng nhớ ở ngôi nhà trống.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám