Truyện Đỉnh

🔍 Truyện trinh thám

Lời mời năm mươi đồng ghi-nê

Sơ-lốc Hôm: Ngón tay cái của viên kỹ sư · Chương 1/3 · của Arthur Conan Doyle

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 15.887 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Trong tất cả những bài toán người ta mang…
  2. 3:45Thôi đi! tôi kêu lên. Hãy trấn tĩnh lại!
  3. 5:03Một thứ giống như dao chặt thịt, ông nói.
  4. 6:20Tôi sẽ làm hơn thế. Tôi sẽ đích thân…
  5. 9:23"Ông Ha-thơ-li?" ông ta nói, giọng hơi lơ lớ…
  6. 10:39Ông ta bỗng bật dậy, lao qua phòng nhanh…
  7. 11:56"Được lắm."
  8. 13:08"Tôi có nghe nói."

Chương 1: Lời mời năm mươi đồng ghi-nê

Trong tất cả những bài toán người ta mang tới nhờ bạn tôi, ông Sơ-lốc Hôm, giải giúp trong những năm chúng tôi thân thiết, chỉ có hai vụ do tôi đưa tới cho anh chú ý: vụ ngón tay cái của ông Ha-thơ-li và vụ đại tá Oóc-bơ-tơn hoá điên. Trong hai vụ ấy, vụ sau có lẽ cho một người quan sát sắc sảo, độc đáo nhiều đất dụng võ hơn, nhưng vụ trước lại kỳ lạ ngay từ khởi đầu và đầy kịch tính trong chi tiết, nên có lẽ đáng được ghi lại hơn, dù nó cho bạn tôi ít dịp hơn để thi thố những phương pháp suy luận đã đem lại cho anh những kết quả phi thường. Tôi tin câu chuyện đã được báo chí kể lại hơn một lần, nhưng cũng như mọi câu chuyện kiểu ấy, nó kém ấn tượng hơn nhiều khi được gói gọn trong nửa cột báo, so với khi các sự việc dần dần diễn ra trước mắt mình, và bí ẩn dần dần tan đi khi mỗi phát hiện mới lại thêm một bước dẫn tới toàn bộ sự thật. Hồi ấy, hoàn cảnh để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc, và hai năm trôi qua cũng chẳng làm nó phai nhạt được bao nhiêu.

Những sự việc mà giờ tôi sắp tóm lược xảy ra vào mùa hè năm 1889, không lâu sau khi tôi lấy vợ. Tôi đã trở lại hành nghề y, và rốt cuộc đã để Hôm lại một mình trong căn hộ ở phố Bây-cơ, dù tôi vẫn thường xuyên tới thăm anh, và thỉnh thoảng còn thuyết phục được anh tạm gác lối sống phóng túng để tới chơi nhà chúng tôi. Phòng khám của tôi ngày một đông khách, và vì tình cờ tôi sống không xa ga Pát-đinh-tơn lắm, nên có vài bệnh nhân là nhân viên đường sắt. Một người trong số đó, được tôi chữa khỏi một căn bệnh đau đớn, dai dẳng, chẳng bao giờ biết mệt trong việc quảng cáo tài năng của tôi, và tìm cách gửi tới tôi mọi người đau ốm mà anh ta có thể thuyết phục được.

Một buổi sáng, chưa tới bảy giờ, tôi bị cô hầu gõ cửa đánh thức, báo rằng có hai người từ ga Pát-đinh-tơn tới, đang chờ trong phòng khám. Tôi mặc vội quần áo, vì theo kinh nghiệm tôi biết những ca từ đường sắt hiếm khi là chuyện vặt, rồi vội vàng xuống nhà. Khi tôi xuống, người bạn cũ của tôi, anh trưởng tàu, từ trong phòng đi ra, đóng chặt cửa lại sau lưng.

— Tôi đưa ông ấy tới đây rồi, anh ta thì thầm, hất ngón tay cái qua vai. Ông ấy ổn cả.

— Có chuyện gì thế? tôi hỏi, vì dáng điệu anh ta khiến tôi tưởng anh ta vừa nhốt một sinh vật kỳ lạ nào đó trong phòng tôi.

— Một bệnh nhân mới, anh ta thì thầm. Tôi nghĩ tự tôi phải đưa ông ấy tới, thế thì ông ấy không lẩn đi đâu được. Ông ấy đấy, an toàn, chẳng sứt mẻ gì. Giờ tôi phải đi, bác sĩ ạ. Tôi cũng có nhiệm vụ như ông vậy.

Rồi anh ta đi luôn, người chèo kéo khách đáng tin cậy ấy, chẳng để tôi kịp nói lời cảm ơn.

Tôi bước vào phòng khám, thấy một quý ông đang ngồi cạnh bàn. Ông ăn mặc giản dị, bộ com-lê vải tuýt màu tím nhạt, chiếc mũ vải mềm đặt trên mấy cuốn sách của tôi. Một bàn tay ông quấn chiếc khăn tay lốm đốm vết máu. Ông còn trẻ, tôi đoán không quá hai mươi lăm tuổi, khuôn mặt cứng cỏi, đầy nam tính. Nhưng ông xanh xao lạ thường, cho tôi ấn tượng là một người đang bị một nỗi xúc động mạnh giày vò, phải dồn hết nghị lực mới kìm nén nổi.

— Tôi rất tiếc phải đánh thức ông sớm thế này, bác sĩ, ông nói, nhưng đêm qua tôi gặp một tai nạn rất nghiêm trọng. Sáng nay tôi đi tàu về, và khi hỏi ở ga Pát-đinh-tơn xem có thể tìm bác sĩ ở đâu, một người tốt bụng đã có lòng đưa tôi tới đây. Tôi đã đưa danh thiếp cho cô hầu, nhưng tôi thấy cô ấy để nó trên bàn cạnh kia.

Tôi cầm lên xem. Ông Vích-to Ha-thơ-li, kỹ sư thuỷ lực, số 16A phố Vích-to-ri-a, tầng ba. Đó là tên, nghề nghiệp và chỗ ở của vị khách buổi sáng của tôi.

— Tôi rất tiếc đã để ông phải chờ, tôi nói, ngồi xuống chiếc ghế ở bàn làm việc. Tôi hiểu là ông vừa qua một chuyến đi đêm, mà chuyện ấy tự nó đã đủ buồn tẻ.

— Ồ, đêm qua của tôi không thể gọi là buồn tẻ được, ông nói rồi bật cười.

Ông cười rất to, một tiếng cười cao, vang lanh lảnh, ngả người ra ghế, rung cả người. Mọi bản năng y khoa trong tôi đều cảnh giác trước tiếng cười ấy.

— Thôi đi! tôi kêu lên. Hãy trấn tĩnh lại!

Tôi rót nước từ bình ra cốc.

Nhưng vô ích. Ông đã rơi vào một cơn kích động, thứ thường ập đến với những người có bản tính mạnh mẽ khi một cơn khủng hoảng lớn đã qua đi. Lát sau ông tỉnh lại, mệt lả, mặt mày tái nhợt.

— Tôi vừa làm trò hề, ông hổn hển nói.

— Chẳng có gì đâu. Uống cái này đi.

Tôi rót chút bran-đi vào cốc nước, và đôi má không còn giọt máu của ông bắt đầu có lại chút sắc hồng.

— Đỡ hơn rồi! ông nói. Còn bây giờ, bác sĩ, có lẽ ông vui lòng xem giùm ngón tay cái của tôi, hay đúng hơn là chỗ trước kia có ngón tay cái.

Ông tháo chiếc khăn tay, chìa tay ra. Ngay cả thần kinh đã chai sạn của tôi cũng rùng mình khi nhìn thấy nó. Có bốn ngón tay chìa ra, và ở chỗ lẽ ra là ngón cái là một mặt thịt đỏ lòm, nham nhở đáng sợ. Ngón tay đã bị chặt hoặc bị giật đứt ngay tận gốc.

— Trời ơi! tôi kêu lên. Vết thương khủng khiếp quá. Hẳn là chảy máu nhiều lắm.

— Vâng, nhiều lắm. Bị chặt xong là tôi ngất đi, và tôi nghĩ tôi đã bất tỉnh rất lâu. Khi tỉnh lại, tôi thấy máu vẫn chảy, nên tôi buộc thật chặt một đầu khăn tay quanh cổ tay, rồi dùng một cành cây con xoắn cho chặt thêm.

— Tuyệt lắm! Lẽ ra ông nên làm bác sĩ phẫu thuật.

— Ông thấy đấy, đó là chuyện thuỷ lực, đúng chuyên môn của tôi.

— Vết thương này, tôi nói khi xem xét nó, là do một vật rất nặng và rất sắc gây ra.

— Một thứ giống như dao chặt thịt, ông nói.

— Tôi đoán là tai nạn?

— Hoàn toàn không.

— Sao! Có kẻ định giết ông?

— Đúng là định giết tôi.

— Ông làm tôi kinh hãi.

Tôi lấy bông thấm vết thương, rửa sạch, băng bó, cuối cùng phủ lên một lớp bông gòn và băng tẩm thuốc sát trùng. Ông ngả người ra sau, không hề nhăn mặt, dù thỉnh thoảng có cắn môi.

— Thấy thế nào? tôi hỏi khi đã làm xong.

— Tuyệt lắm! Nhờ rượu bran-đi và băng bó của ông mà tôi thấy mình như người mới. Tôi đã rất yếu, vì đã phải trải qua nhiều chuyện quá.

— Có lẽ ông đừng nói tới chuyện ấy thì hơn. Rõ ràng nó làm thần kinh ông căng thẳng.

— Ồ không, giờ thì không. Tôi sẽ phải kể chuyện của mình với cảnh sát. Nhưng nói riêng giữa chúng ta, nếu không có vết thương này làm bằng chứng, tôi sẽ ngạc nhiên nếu họ tin lời tôi, vì đó là một chuyện hết sức kỳ lạ, mà tôi lại chẳng có mấy bằng chứng để củng cố. Mà dù họ có tin tôi, những manh mối tôi đưa ra được lại mơ hồ tới mức khó mà biết công lý có được thực thi hay không.

— A! tôi kêu lên. Nếu đó là một bài toán mà ông muốn thấy được giải, thì tôi rất khuyên ông tìm tới bạn tôi, ông Sơ-lốc Hôm, trước khi tới cảnh sát chính thức.

— Ồ, tôi có nghe nói về ông ấy, người khách của tôi đáp, và tôi sẽ rất mừng nếu ông ấy nhận vụ này, dù dĩ nhiên tôi cũng phải báo cảnh sát chính thức. Ông có thể giới thiệu tôi với ông ấy không?

— Tôi sẽ làm hơn thế. Tôi sẽ đích thân đưa ông tới gặp ông ấy.

— Tôi vô cùng biết ơn ông.

— Ta sẽ gọi xe cùng đi. Vừa kịp ăn chút điểm tâm với anh ấy. Ông thấy đủ sức chứ?

— Đủ. Tôi sẽ không yên lòng chừng nào chưa kể được chuyện của mình.

— Vậy người nhà tôi sẽ gọi xe, và tôi sẽ ra ngay.

Tôi chạy lên lầu, giải thích ngắn gọn với vợ, và năm phút sau đã ngồi trong xe ngựa cùng người bạn mới quen đi tới phố Bây-cơ.

Đúng như tôi đoán, Sơ-lốc Hôm đang thơ thẩn trong phòng khách, mặc áo choàng ngủ, đọc mục nhắn tin trên báo “Thời Báo” và hút tẩu thuốc trước bữa điểm tâm, nhồi bằng tất cả những mẩu thuốc thừa từ hôm trước, được phơi khô và gom cẩn thận ở góc mặt lò sưởi. Anh đón chúng tôi với vẻ niềm nở điềm đạm, gọi thêm thịt lợn muối rán và trứng, rồi cùng chúng tôi ăn một bữa thịnh soạn. Ăn xong, anh mời người bạn mới nằm lên tràng kỷ, kê một chiếc gối dưới đầu, đặt một cốc bran-đi pha nước trong tầm tay ông.

— Dễ thấy là ông vừa trải qua một chuyện chẳng bình thường chút nào, ông Ha-thơ-li ạ, anh nói. Xin cứ nằm đó, coi như hoàn toàn ở nhà mình. Kể cho chúng tôi những gì ông có thể, nhưng mệt thì dừng, và uống chút rượu cho lại sức.

— Cảm ơn ông, bệnh nhân của tôi nói. Nhưng từ lúc bác sĩ băng bó cho tôi, tôi đã thấy mình như người khác, và tôi nghĩ bữa điểm tâm của ông đã chữa khỏi hẳn. Tôi sẽ cố chiếm ít thời gian quý báu của ông nhất có thể, nên xin bắt đầu ngay vào những chuyện kỳ lạ tôi đã gặp.

Hôm ngồi trong chiếc ghế bành lớn, vẻ mặt mệt mỏi, mí mắt nặng trĩu che giấu bản tính sắc sảo, háo hức của anh, còn tôi ngồi đối diện. Chúng tôi im lặng lắng nghe câu chuyện lạ lùng người khách kể cho chúng tôi.

— Các ông cần biết, ông nói, rằng tôi mồ côi, sống độc thân, ở trọ một mình tại Luân Đôn. Nghề của tôi là kỹ sư thuỷ lực, và tôi đã có khá nhiều kinh nghiệm trong suốt bảy năm học việc ở hãng Ven-nơ và Ma-thi-xơn, một hãng nổi tiếng ở Grin-uých. Hai năm trước, mãn hạn học việc, lại được thừa hưởng một khoản tiền kha khá sau khi người cha tội nghiệp của tôi qua đời, tôi quyết định tự mở cơ sở làm ăn, thuê một văn phòng ở phố Vích-to-ri-a.

Tôi đoán ai cũng thấy những bước đầu tự lập làm ăn thật ảm đạm. Với tôi thì đặc biệt ảm đạm. Suốt hai năm, tôi chỉ có ba lần được hỏi ý kiến và một việc nhỏ, đó là tất cả những gì nghề nghiệp mang lại cho tôi. Tổng thu nhập của tôi là hai mươi bảy bảng mười si-linh. Ngày nào cũng vậy, từ chín giờ sáng tới bốn giờ chiều, tôi ngồi chờ trong cái hang nhỏ của mình, cho tới khi lòng tôi bắt đầu chùng xuống, và tôi đi tới chỗ tin rằng mình sẽ chẳng bao giờ có khách.

Thế nhưng hôm qua, đúng lúc tôi đang nghĩ tới chuyện rời văn phòng, người thư ký của tôi vào báo có một quý ông đang chờ, muốn gặp tôi bàn công việc. Anh ta cũng mang lên một tấm danh thiếp, khắc tên đại tá Lai-xan-đơ Xtác. Theo sát gót anh ta là chính ông đại tá, một người cao hơn tầm thước một chút, nhưng gầy khủng khiếp. Tôi nghĩ tôi chưa bao giờ thấy người nào gầy đến thế. Cả khuôn mặt ông ta như thuôn nhọn lại thành chiếc mũi và cái cằm, da má căng ra trên những chiếc xương gò má nhô cao. Thế nhưng cái gầy gò ấy có vẻ là thể trạng tự nhiên của ông ta, chẳng phải do bệnh tật, vì mắt ông ta sáng, bước đi nhanh nhẹn, dáng điệu tự tin. Ông ta ăn mặc giản dị nhưng gọn gàng, và tôi đoán tuổi ông ta gần bốn mươi hơn là ba mươi.

"Ông Ha-thơ-li?" ông ta nói, giọng hơi lơ lớ kiểu Đức. "Ông Ha-thơ-li, người ta giới thiệu ông với tôi là một người không những giỏi nghề, mà còn kín đáo, biết giữ bí mật."

Tôi cúi chào, thấy hãnh diện như bất cứ chàng trai trẻ nào khi được nghe những lời như thế.

"Cho tôi hỏi ai đã khen tôi như thế?"

"Ồ, có lẽ lúc này tôi chưa nói với ông điều đó thì hơn. Cũng từ nguồn ấy, tôi được biết ông mồ côi, sống độc thân, ở một mình tại Luân Đôn."

"Hoàn toàn đúng," tôi đáp. "Nhưng xin ông thứ lỗi nếu tôi nói tôi không thấy những chuyện ấy liên quan gì tới năng lực chuyên môn của tôi. Tôi hiểu là ông muốn nói chuyện với tôi về công việc?"

"Đúng thế. Nhưng ông sẽ thấy mọi điều tôi nói đều thật sự đúng trọng tâm. Tôi có một việc chuyên môn cần nhờ ông, nhưng giữ bí mật tuyệt đối là điều hoàn toàn cần thiết, tuyệt đối, ông hiểu chứ, và dĩ nhiên chúng tôi có thể trông đợi điều đó ở một người sống một mình hơn là ở người sống giữa gia đình."

"Nếu tôi hứa giữ bí mật," tôi nói, "ông có thể hoàn toàn tin rằng tôi sẽ giữ."

Ông ta nhìn tôi chằm chằm trong lúc tôi nói, và tôi thấy dường như chưa bao giờ mình gặp một con mắt nghi ngờ, dò hỏi đến thế.

"Vậy ông hứa chứ?" cuối cùng ông ta nói.

"Vâng, tôi hứa."

"Im lặng tuyệt đối và hoàn toàn, trước, trong và sau? Không nhắc gì tới chuyện này, dù bằng lời hay bằng chữ?"

"Tôi đã hứa với ông rồi."

"Tốt lắm."

Ông ta bỗng bật dậy, lao qua phòng nhanh như chớp, mở toang cửa. Hành lang bên ngoài trống không.

"Ổn rồi," ông ta nói, quay lại. "Tôi biết bọn thư ký đôi khi tò mò về việc của chủ. Giờ ta có thể nói chuyện an toàn."

Ông ta kéo ghế sát lại ghế tôi, lại bắt đầu nhìn tôi chằm chằm với cái nhìn dò hỏi, đăm chiêu như trước.

Một cảm giác ghê sợ, và một cái gì giống như nỗi sợ, đã bắt đầu dâng lên trong tôi trước những trò kỳ quặc của con người chỉ có da bọc xương ấy. Ngay cả nỗi sợ mất khách cũng không ngăn được tôi tỏ ra sốt ruột.

"Thưa ông, xin ông nói cho biết công việc," tôi nói. "Thời gian của tôi quý lắm."

Lạy Trời tha thứ cho câu cuối cùng ấy, nhưng những chữ ấy cứ thế bật ra khỏi môi tôi.

"Năm mươi đồng ghi-nê cho một đêm làm việc, ông thấy sao?" ông ta hỏi.

"Tuyệt vời."

"Tôi nói một đêm làm việc, nhưng nói một tiếng thì đúng hơn. Tôi chỉ muốn ông cho ý kiến về một chiếc máy ép thuỷ lực bị trục trặc. Nếu ông chỉ ra chỗ hỏng, chúng tôi sẽ tự sửa nhanh thôi. Ông nghĩ sao về một việc như thế?"

"Việc có vẻ nhẹ mà tiền công thì hậu hĩnh."

"Đúng thế. Chúng tôi muốn ông tới ngay tối nay, bằng chuyến tàu cuối."

"Tới đâu?"

"Tới Ây-phớt, ở hạt Béc-sơ. Đó là một nơi nhỏ gần ranh giới hạt Ốc-xphớt, cách Rét-đinh chưa tới bảy dặm. Có một chuyến tàu từ ga Pát-đinh-tơn sẽ đưa ông tới đó vào khoảng mười một giờ mười lăm."

"Được lắm."

"Tôi sẽ đánh xe ra đón ông."

"Vậy là còn phải đi xe nữa?"

"Phải, chỗ chúng tôi ở khá sâu trong vùng quê. Cách ga Ây-phớt phải bảy dặm."

"Vậy thì khó mà tới nơi trước nửa đêm. Tôi đoán là chẳng có chuyến tàu nào quay về. Tôi sẽ phải ngủ lại qua đêm."

"Phải, chúng tôi dễ dàng thu xếp cho ông một chỗ ngả lưng."

"Thế thì bất tiện quá. Tôi không thể tới vào một giờ nào thuận tiện hơn sao?"

"Chúng tôi đã cân nhắc và thấy tốt nhất là ông tới muộn. Chính để đền bù cho ông mọi bất tiện mà chúng tôi trả ông, một người trẻ tuổi, chưa có tên tuổi, một khoản tiền đủ để mua ý kiến của những người đứng đầu ngành. Tuy vậy, dĩ nhiên nếu ông muốn rút lui thì vẫn còn thừa thời gian."

Tôi nghĩ tới năm mươi đồng ghi-nê, và chúng sẽ có ích cho tôi biết bao.

"Không đâu," tôi nói, "tôi rất sẵn lòng theo ý ông. Tuy vậy tôi muốn hiểu rõ hơn một chút ông muốn tôi làm gì."

"Đúng thế. Lời hứa giữ bí mật mà chúng tôi buộc ông phải hứa đã khơi dậy tính tò mò của ông, chuyện đó rất tự nhiên. Tôi không muốn ông dấn thân vào việc gì mà không được biết rõ đầu đuôi. Tôi đoán là chúng ta hoàn toàn an toàn, không có ai nghe trộm chứ?"

"Hoàn toàn."

"Vậy thì sự tình thế này. Có lẽ ông biết đất sét tẩy là một sản vật quý, và chỉ có ở một hai nơi trên nước Anh?"

"Tôi có nghe nói."

"Cách đây ít lâu, tôi mua một chỗ nhỏ, rất nhỏ, cách Rét-đinh chưa tới mười dặm. Tôi may mắn phát hiện ra một mỏ đất sét tẩy trong một thửa ruộng của mình. Nhưng xem xét kỹ thì tôi thấy mỏ ấy tương đối nhỏ, và nó là mắt xích nối giữa hai mỏ lớn hơn nhiều ở bên phải và bên trái, cả hai đều nằm trong đất của hàng xóm. Những người tốt bụng ấy hoàn toàn không biết đất của mình chứa một thứ quý giá chẳng kém mỏ vàng. Dĩ nhiên tôi có lợi nếu mua được đất của họ trước khi họ phát hiện ra giá trị thật của nó, nhưng không may tôi lại không có vốn để làm việc ấy. Tuy vậy, tôi đã cho vài người bạn biết bí mật, và họ gợi ý rằng chúng tôi nên lặng lẽ, bí mật khai thác cái mỏ nhỏ của mình, và bằng cách ấy kiếm tiền để mua những thửa ruộng bên cạnh. Chúng tôi đã làm như thế được một thời gian, và để giúp cho việc khai thác, chúng tôi dựng một chiếc máy ép thuỷ lực. Như tôi đã giải thích, chiếc máy ép ấy đã bị trục trặc, và chúng tôi muốn hỏi ý kiến ông về chuyện ấy. Nhưng chúng tôi giữ bí mật rất cẩn mật, và nếu người ta biết có kỹ sư thuỷ lực tới ngôi nhà nhỏ của chúng tôi, thì chẳng mấy chốc sẽ có người dò hỏi, rồi nếu sự thật lộ ra, thì coi như vĩnh biệt mọi cơ hội mua được những thửa ruộng kia và thực hiện kế hoạch của chúng tôi. Vì thế tôi mới bắt ông hứa không nói với một ai rằng tối nay ông tới Ây-phớt. Tôi mong là đã nói rõ mọi điều?"

"Tôi hoàn toàn hiểu," tôi nói. "Điểm duy nhất tôi chưa hiểu lắm là ông dùng máy ép thuỷ lực vào việc gì khi khai thác đất sét tẩy, vì theo tôi hiểu, người ta đào nó lên từ hố như đào sỏi."

"À!" ông ta hờ hững nói. "Chúng tôi có cách làm riêng. Chúng tôi nén đất lại thành gạch, để chở đi mà không lộ chúng là thứ gì. Nhưng đó chỉ là chi tiết vặt. Giờ tôi đã hoàn toàn tin cậy ông, ông Ha-thơ-li, và đã cho ông thấy tôi tin ông thế nào."

Vừa nói ông ta vừa đứng dậy.

"Vậy tôi sẽ chờ ông ở Ây-phớt lúc mười một giờ mười lăm."

"Nhất định tôi sẽ có mặt."

"Và không hé một lời với ai đấy."

Ông ta nhìn tôi lần cuối bằng một cái nhìn dài, dò hỏi, rồi siết tay tôi bằng một bàn tay lạnh ngắt, ẩm ướt, và vội vã ra khỏi phòng.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơ-lốc Hôm: Ngón tay cái của viên kỹ sư

  1. 1Lời mời năm mươi đồng ghi-nê15 phút
  2. 2Ngôi nhà không biết ở đâuĐang thu âm
  3. 3Cột khói ở Ây-phớtĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảArthur Conan Doyle (1859 – 1930)
Năm mất1930
Xuất bản lần đầu1892
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Adventure of the Engineer's Thumb, trong tập The Adventures of Sherlock Holmes, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →