Chương 1: Căn phòng khoá trái
Một đêm mùa hè, vài tháng sau khi lấy vợ, tôi ngồi bên lò sưởi nhà mình hút tẩu thuốc cuối cùng trong ngày, gật gà gật gù trên một cuốn tiểu thuyết, vì cả ngày làm việc đã khiến tôi mệt lử. Vợ tôi đã lên lầu, và tiếng khoá cửa lớn dưới nhà lúc trước cho tôi biết người làm cũng đã đi nghỉ. Tôi vừa đứng dậy gõ tàn tẩu thì bỗng nghe tiếng chuông cửa vang lên.
Tôi nhìn đồng hồ. Mười hai giờ kém mười lăm. Giờ này thì không thể là khách tới chơi. Hẳn là bệnh nhân, và có khi phải thức trắng cả đêm. Nhăn nhó, tôi ra hành lang mở cửa. Tôi sửng sốt khi thấy người đứng trên bậc cửa nhà mình lại là Sơ-lốc Hôm.
— A, Oát-xơn, anh nói, tôi mong là chưa quá muộn để gặp anh.
— Anh bạn thân mến, mời vào.
— Trông anh ngạc nhiên, mà cũng chẳng lạ! Lại còn nhẹ nhõm nữa, tôi đoán vậy! Hừm! Vậy là anh vẫn hút thứ thuốc trộn hiệu Ác-ca-đi-a từ hồi còn độc thân! Nhìn tàn thuốc xốp nhẹ trên áo anh thì chẳng thể nhầm được. Dễ thấy anh từng quen mặc quân phục, Oát-xơn ạ. Chừng nào anh còn giữ cái thói nhét khăn tay trong ống tay áo thì anh chẳng bao giờ được coi là một thường dân chính hiệu. Tối nay anh cho tôi ngủ nhờ được không?
— Rất sẵn lòng.
— Anh có bảo tôi là anh có một phòng cho khách đàn ông, và tôi thấy hiện giờ anh không có vị khách nam nào. Cái giá treo mũ của anh nói lên điều đó.
— Anh ở lại thì tôi mừng lắm.
— Cảm ơn anh. Vậy tôi sẽ treo mũ vào cái móc còn trống. Tiếc là thấy nhà anh vừa có thợ đến. Thợ đến nhà là điềm chẳng lành. Mong không phải chuyện cống rãnh?
— Không, chuyện đường ống khí đốt.
— A! Hắn để lại hai vết đinh giày trên tấm vải sơn lót sàn nhà anh, ngay chỗ ánh đèn rọi vào. Không, cảm ơn anh, tôi đã ăn tối ở ga Oa-tơ-lu rồi, nhưng tôi rất vui được hút một tẩu với anh.
Tôi đưa anh túi thuốc. Anh ngồi đối diện tôi, lặng lẽ hút một lúc lâu. Tôi biết rõ chỉ có việc quan trọng mới đưa anh tới nhà tôi vào giờ này, nên kiên nhẫn đợi anh tự nói ra.
— Tôi thấy dạo này anh khá bận việc nghề, anh nói, liếc nhìn tôi rất sắc.
— Phải, hôm nay tôi bận cả ngày, tôi đáp. Có lẽ anh thấy tôi ngốc, tôi nói thêm, nhưng thật tình tôi không biết anh suy ra điều đó bằng cách nào.
Hôm cười khúc khích một mình.
— Tôi có cái lợi là biết thói quen của anh, Oát-xơn thân mến, anh nói. Khi đi thăm bệnh quãng ngắn thì anh đi bộ, quãng dài thì anh đi xe ngựa. Tôi thấy giày anh, tuy đã đi, nhưng chẳng hề bẩn, nên tôi không nghi ngờ gì rằng hiện giờ anh bận tới mức phải đi xe ngựa.
— Tuyệt vời! tôi kêu lên.
— Sơ đẳng thôi, anh nói. Đó là một trong những trường hợp mà người suy luận tạo ra được một hiệu quả có vẻ phi thường với người bên cạnh, chỉ vì người kia đã bỏ sót một điểm nhỏ làm nền cho suy luận. Anh bạn thân mến, cũng có thể nói như vậy về hiệu quả của mấy truyện ngắn anh viết, cái hiệu quả hoàn toàn hào nhoáng, vì nó dựa vào việc anh giữ riêng trong tay vài dữ kiện của bài toán mà không bao giờ cho người đọc biết. Còn bây giờ thì tôi lại đang ở vào vị trí của chính những người đọc ấy, vì trong tay tôi đang nắm mấy sợi chỉ của một trong những vụ án kỳ lạ nhất từng làm rối trí con người, vậy mà tôi lại thiếu một hai sợi cần thiết để hoàn chỉnh giả thuyết của mình. Nhưng tôi sẽ có chúng, Oát-xơn, tôi sẽ có chúng!
Mắt anh rực sáng, đôi má gầy thoáng ửng hồng. Chỉ trong một thoáng. Khi tôi nhìn lại, mặt anh đã trở về vẻ điềm tĩnh lạnh như đá, cái vẻ khiến biết bao người coi anh là một cỗ máy hơn là một con người.
— Bài toán này có những nét thú vị, anh nói. Thậm chí có thể nói là những nét thú vị khác thường. Tôi đã xem xét vụ việc, và tôi nghĩ mình đã tới gần lời giải. Nếu anh có thể đi cùng tôi bước cuối cùng ấy, anh có thể giúp tôi rất nhiều.
— Tôi rất sẵn lòng.
— Mai anh có thể đi tới tận Ôn-đơ-sót không?
— Chắc chắn Giác-xơn sẽ trông giúp phòng mạch cho tôi.
— Tốt lắm. Tôi muốn đi chuyến tàu mười một giờ mười từ ga Oa-tơ-lu.
— Vậy thì tôi kịp.
— Vậy nếu anh chưa buồn ngủ lắm, tôi sẽ phác qua cho anh những gì đã xảy ra, và những gì còn phải làm.
— Trước khi anh tới thì tôi buồn ngủ thật. Giờ thì tôi tỉnh hẳn rồi.
— Tôi sẽ kể thật gọn, nhưng không bỏ sót điều gì quan trọng. Có khi anh đã đọc được đôi dòng về chuyện này rồi cũng nên. Tôi đang điều tra cái chết được cho là án mạng của đại tá Bác-lây, thuộc trung đoàn Hoàng gia Ma-lâu, ở Ôn-đơ-sót.
— Tôi chưa nghe nói gì cả.
— Ngoài địa phương ra thì nó chưa gây chú ý mấy. Sự việc mới xảy ra hai ngày. Tóm tắt là thế này.
Như anh biết, trung đoàn Hoàng gia Ma-lâu là một trong những trung đoàn Ai-len nổi tiếng nhất trong quân đội Anh. Nó đã lập nên những chiến công phi thường cả ở bán đảo Crưm lẫn trong cuộc binh biến ở Ấn Độ, và từ đó tới nay đã làm rạng danh mình trong mọi dịp có thể. Cho tới tối thứ Hai, người chỉ huy trung đoàn là Giêm Bác-lây, một cựu binh dũng cảm, khởi đầu là lính trơn, được phong sĩ quan nhờ lòng dũng cảm thời binh biến, rồi sống tới ngày chỉ huy chính trung đoàn mà ông từng vác súng trong đó.
Đại tá Bác-lây lấy vợ hồi còn là trung sĩ. Vợ ông, tên thời con gái là Nan-xi Đơ-voi, là con gái một viên trung sĩ cầm cờ trước kia cũng thuộc trung đoàn ấy. Vì thế, như anh có thể hình dung, khi đôi vợ chồng trẻ, vì lúc ấy họ còn trẻ, bước vào môi trường mới, đã có đôi chút va chạm về mặt xã giao. Nhưng có vẻ họ đã nhanh chóng thích nghi, và tôi được biết bà Bác-lây xưa nay vẫn được các bà vợ sĩ quan trong trung đoàn quý mến chẳng kém gì chồng bà được các bạn đồng ngũ quý mến. Tôi cũng xin nói thêm bà là một người đàn bà rất đẹp, và ngay cả bây giờ, đã lấy chồng hơn ba mươi năm, bà vẫn có một vẻ đẹp nổi bật, uy nghi như một bà hoàng.
Cuộc sống gia đình của đại tá Bác-lây có vẻ lúc nào cũng hạnh phúc. Thiếu tá Mơ-phi, người cung cấp cho tôi hầu hết các sự kiện, cam đoan với tôi rằng ông chưa từng nghe nói hai vợ chồng có điều gì bất hoà. Nhìn chung, ông cho rằng tình yêu của Bác-lây với vợ còn lớn hơn tình yêu của vợ với ông ta. Xa vợ một ngày thôi là ông ta đã bồn chồn khôn tả. Còn bà, tuy tận tuỵ và chung thuỷ, lại ít bày tỏ tình cảm ra ngoài hơn. Nhưng trong trung đoàn người ta coi họ là hình mẫu của một đôi vợ chồng trung niên. Trong quan hệ giữa hai người, tuyệt nhiên chẳng có gì báo trước tấn thảm kịch sắp xảy ra.
Bản thân đại tá Bác-lây có vẻ có vài nét tính cách lạ lùng. Thường ngày ông là một người lính già hăng hái, vui tính, nhưng có những lúc ông tỏ ra có thể hung bạo và thù dai đáng kể. Tuy vậy, mặt này của ông có vẻ chưa bao giờ nhắm vào vợ. Một điều khác đã khiến thiếu tá Mơ-phi và ba trong năm sĩ quan khác mà tôi nói chuyện để ý, là cơn trầm uất kỳ lạ thỉnh thoảng lại ập tới với ông. Như lời viên thiếu tá, nhiều khi đang góp vui cười đùa trong bữa ăn ở câu lạc bộ sĩ quan, nụ cười bỗng tắt ngấm trên môi ông, như bị một bàn tay vô hình gạt đi. Những lúc tâm trạng ấy kéo tới, ông chìm trong u uất sâu sắc suốt mấy ngày liền. Điều đó, cùng với một chút mê tín, là những nét khác thường duy nhất trong tính cách ông mà các bạn đồng ngũ nhận thấy. Cái tật sau thể hiện ở chỗ ông không thích ở một mình, nhất là khi trời tối. Nét trẻ con ấy trong một bản tính vốn rõ ràng rất đàn ông đã nhiều lần khiến người ta bàn tán, phỏng đoán.
Tiểu đoàn một của trung đoàn Hoàng gia Ma-lâu, tức trung đoàn một trăm mười bảy cũ, đã đóng quân ở Ôn-đơ-sót được mấy năm. Các sĩ quan có vợ sống bên ngoài doanh trại, và suốt thời gian ấy đại tá ở một ngôi biệt thự tên là La-sin, cách trại phía bắc gần một cây số. Ngôi nhà có khuôn viên riêng, nhưng mặt phía tây chỉ cách đường cái chưa tới ba mươi mét. Người làm gồm một người đánh xe và hai cô hầu gái. Họ cùng với ông bà chủ là những người duy nhất sống ở La-sin, vì ông bà Bác-lây không có con, và cũng không có thói quen cho khách ở lại.
Giờ tới những sự việc xảy ra ở La-sin trong khoảng từ chín tới mười giờ tối thứ Hai vừa rồi.
Có vẻ bà Bác-lây là tín đồ Công giáo La Mã, và rất nhiệt tình với hội từ thiện mang tên Thánh Gioóc-giơ, lập ra cùng với nhà nguyện phố Oát để quyên góp quần áo cũ cho người nghèo. Tối hôm ấy hội có buổi họp lúc tám giờ, và bà Bác-lây đã ăn tối vội vàng để kịp tới dự. Lúc ra khỏi nhà, người đánh xe nghe thấy bà nói với chồng một câu bình thường, rằng bà sẽ về ngay thôi. Rồi bà ghé đón cô Mo-ri-xơn, một cô gái trẻ ở biệt thự bên cạnh, và hai người cùng đi họp. Buổi họp kéo dài bốn mươi phút, và lúc chín giờ mười lăm bà Bác-lây về tới nhà, sau khi để cô Mo-ri-xơn lại trước cửa nhà cô lúc đi ngang qua.
Ở La-sin có một căn phòng dùng làm phòng khách buổi sáng. Phòng này nhìn ra đường, và có một cánh cửa kính lớn hai cánh mở ra bãi cỏ. Bãi cỏ rộng chừng ba mươi mét, ngăn cách với đường cái chỉ bằng một bức tường thấp có hàng rào sắt bên trên. Về tới nhà, bà Bác-lây đi vào chính căn phòng này. Rèm chưa buông, vì buổi tối ít khi dùng phòng ấy, nhưng chính bà Bác-lây thắp đèn rồi rung chuông gọi cô hầu Gien Xtiu-ớt mang cho bà một tách trà, điều hoàn toàn trái với thói quen thường ngày của bà. Ông đại tá đang ngồi trong phòng ăn, nhưng nghe tin vợ về, ông sang phòng khách buổi sáng với bà. Người đánh xe thấy ông băng qua tiền sảnh rồi bước vào phòng ấy. Đó là lần cuối cùng người ta thấy ông còn sống.
Mười phút sau trà được mang lên. Nhưng khi tới gần cửa, cô hầu ngạc nhiên nghe thấy ông bà chủ đang cãi nhau dữ dội. Cô gõ cửa mà không ai trả lời, cô còn vặn cả quả nắm, nhưng cửa đã khoá trái từ bên trong. Lẽ tự nhiên cô chạy xuống báo bà đầu bếp, và hai người đàn bà cùng người đánh xe lên tiền sảnh lắng nghe cuộc cãi vã vẫn đang bùng nổ. Tất cả đều thống nhất rằng chỉ nghe thấy hai giọng nói, của ông Bác-lây và của vợ ông. Lời ông Bác-lây nhỏ và cộc lốc, những người đứng nghe chẳng nghe rõ câu nào. Còn lời bà thì vô cùng cay đắng, và khi bà cao giọng thì nghe rõ mồn một. Đồ hèn nhát! bà nhắc đi nhắc lại. Giờ còn làm gì được nữa? Giờ còn làm gì được nữa? Hãy trả lại đời tôi cho tôi. Tôi sẽ không bao giờ thở chung một bầu không khí với ông nữa! Đồ hèn nhát! Đồ hèn nhát! Đó là những mẩu trong câu chuyện của bà, rồi kết thúc bằng một tiếng thét khủng khiếp đột ngột bằng giọng đàn ông, một tiếng đổ vỡ, và một tiếng hét xé lòng của người đàn bà. Tin chắc có thảm kịch vừa xảy ra, người đánh xe lao tới cửa cố phá, trong khi tiếng hét cứ hết tiếng này tới tiếng khác vọng ra từ bên trong. Nhưng anh ta không vào được, còn hai cô hầu thì hoảng loạn quá chẳng giúp gì được. Nhưng bỗng anh ta nảy ra một ý, chạy ra cửa lớn vòng sang bãi cỏ, nơi có những cánh cửa sổ kiểu Pháp cao mở ra. Một bên cửa sổ đang mở, mà tôi được biết vào mùa hè thì đó là chuyện bình thường, và anh ta vào phòng chẳng khó khăn gì. Bà chủ đã thôi hét, nằm ngất lịm trên ghế dài. Còn người lính bất hạnh thì nằm chết cứng trong vũng máu của chính mình, hai chân vắt qua thành một chiếc ghế bành, đầu nằm trên sàn gần góc tấm chắn lò sưởi.
Lẽ tự nhiên, khi thấy mình chẳng làm gì được cho chủ nữa, ý nghĩ đầu tiên của người đánh xe là mở cửa. Nhưng ở đây lại nảy ra một khó khăn lạ lùng không ngờ. Chìa khoá không cắm ở mặt trong cánh cửa, mà tìm khắp phòng cũng chẳng thấy. Vì vậy anh ta lại trèo ra qua cửa sổ, nhờ được một cảnh sát và một bác sĩ rồi quay lại. Người đàn bà, lẽ tự nhiên là người bị nghi ngờ nhiều nhất, được đưa về phòng riêng, vẫn còn bất tỉnh. Thi thể đại tá được đặt lên ghế tràng kỷ, rồi người ta xem xét kỹ lưỡng hiện trường.
Vết thương của người cựu binh bất hạnh là một vết rách nham nhở dài chừng năm phân ở phía sau đầu, rõ ràng do một cú đánh mạnh bằng vật tày gây ra. Mà đoán ra vật đó là gì cũng chẳng khó. Trên sàn, sát cạnh thi thể, có một cây gậy lạ lùng bằng gỗ cứng chạm trổ, cán bằng xương. Đại tá có một bộ sưu tập vũ khí đủ loại mang về từ những xứ sở khác nhau nơi ông từng chiến đấu, và cảnh sát đoán cây gậy này là một trong những chiến lợi phẩm của ông. Người làm thì bảo chưa từng thấy nó, nhưng giữa vô số đồ lạ trong nhà, rất có thể họ đã không để ý. Cảnh sát không tìm thấy gì quan trọng khác trong phòng, trừ một sự thật không sao giải thích được, là cái chìa khoá mất tích không có trên người bà Bác-lây, không có trên người nạn nhân, cũng không có ở bất cứ chỗ nào trong phòng. Cuối cùng phải nhờ một thợ khoá ở Ôn-đơ-sót tới mở cửa.
Tình hình là như vậy, Oát-xơn, khi sáng thứ Ba, theo lời nhờ của thiếu tá Mơ-phi, tôi xuống Ôn-đơ-sót để hỗ trợ cảnh sát. Tôi nghĩ anh cũng thừa nhận rằng bài toán khi ấy đã thú vị rồi, nhưng những gì tôi quan sát được sớm cho tôi thấy thật ra nó còn phi thường hơn nhiều so với vẻ ngoài.
Trước khi xem xét căn phòng, tôi hỏi kỹ người làm, nhưng chỉ moi được những sự việc tôi vừa kể. Cô hầu Gien Xtiu-ớt nhớ thêm một chi tiết đáng chú ý. Anh còn nhớ là khi nghe tiếng cãi nhau, cô đi xuống rồi quay lại cùng những người làm khác. Lần đầu tiên, khi cô đứng một mình, cô bảo giọng ông bà chủ hạ rất thấp, cô hầu như chẳng nghe được gì, chỉ đoán qua giọng điệu chứ không qua lời nói rằng hai người đang bất hoà. Nhưng khi tôi gặng hỏi, cô nhớ ra đã nghe bà chủ nhắc tới cái tên Đa-vít hai lần. Điểm này cực kỳ quan trọng, vì nó hướng ta tới lý do của cuộc cãi vã đột ngột. Anh nhớ chứ, tên đại tá là Giêm.
Có một điều trong vụ này đã gây ấn tượng sâu sắc nhất cho cả người làm lẫn cảnh sát. Đó là nét mặt méo mó của đại tá. Theo lời họ, nó đã cứng lại trong một vẻ sợ hãi và kinh hoàng khủng khiếp nhất mà gương mặt con người có thể có. Đã có hơn một người ngất xỉu chỉ vì nhìn thấy ông, khủng khiếp đến thế. Chắc chắn ông đã thấy trước số phận của mình, và điều đó làm ông kinh hoàng tột độ. Dĩ nhiên điều này khá khớp với giả thuyết của cảnh sát, nếu đại tá đã thấy vợ mình lao vào định giết ông. Việc vết thương nằm ở phía sau đầu cũng không phải là lý lẽ bác bỏ chết người, vì ông có thể đã quay đi để tránh cú đánh. Còn chính người đàn bà thì không hỏi được gì, vì bà đang tạm thời mất trí do một cơn sốt não cấp tính.
Qua cảnh sát, tôi được biết cô Mo-ri-xơn, người mà anh còn nhớ đã đi cùng bà Bác-lây tối hôm ấy, khẳng định không biết gì về điều đã khiến bạn mình trở về trong tâm trạng bực bội như vậy.
Gom được những sự kiện ấy rồi, Oát-xơn, tôi hút mấy tẩu thuốc mà suy ngẫm, cố tách những điều mấu chốt ra khỏi những điều chỉ là ngẫu nhiên. Không còn nghi ngờ gì nữa, điểm đặc biệt nhất và gợi ý nhiều nhất trong vụ này là việc chiếc chìa khoá cửa biến mất một cách lạ lùng. Lục soát hết sức kỹ mà không tìm thấy nó trong phòng. Vậy nó phải đã bị mang ra khỏi phòng. Nhưng cả đại tá lẫn vợ đại tá đều không thể mang nó đi. Điều đó hoàn toàn rõ ràng. Vậy phải có một người thứ ba đã vào phòng. Và người thứ ba ấy chỉ có thể vào qua cửa sổ. Tôi thấy rằng xem xét kỹ căn phòng và bãi cỏ có lẽ sẽ phát hiện ra dấu vết nào đó của nhân vật bí ẩn này. Anh biết phương pháp của tôi rồi, Oát-xơn. Chẳng có phương pháp nào tôi không áp dụng vào cuộc điều tra. Và cuối cùng tôi đã tìm thấy dấu vết, nhưng khác hẳn những gì tôi chờ đợi. Đã có một người đàn ông trong phòng, và hắn đã băng qua bãi cỏ từ phía đường cái. Tôi lấy được năm dấu chân rất rõ của hắn: một ngay trên mặt đường, chỗ hắn trèo qua bức tường thấp, hai trên bãi cỏ, và hai rất mờ trên mấy tấm ván sàn lấm bẩn gần cửa sổ nơi hắn vào. Có vẻ hắn đã chạy băng qua bãi cỏ, vì dấu mũi chân lún sâu hơn dấu gót nhiều. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên không phải là gã đàn ông. Mà là bạn đồng hành của hắn.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám