Chương 2: Kẻ đi theo trong bóng tối
— Bạn đồng hành của hắn!
Hôm rút trong túi ra một tờ giấy lụa lớn, cẩn thận trải ra trên đầu gối.
— Anh thấy cái này là gì? anh hỏi.
Trên tờ giấy chi chít những dấu chân được đồ lại của một con vật nhỏ nào đó. Nó có năm đệm chân in rất rõ, có dấu vết của móng dài, mỗi dấu chân to gần bằng một cái thìa ăn tráng miệng.
— Đó là một con chó, tôi nói.
— Anh đã bao giờ nghe nói chó leo lên rèm cửa chưa? Tôi đã tìm thấy dấu vết rõ ràng là con vật này đã làm thế.
— Vậy thì là khỉ?
— Nhưng đây không phải dấu chân khỉ.
— Vậy nó là con gì?
— Không phải chó, không phải mèo, không phải khỉ, cũng chẳng phải con vật nào quen thuộc với chúng ta. Tôi đã thử dựng lại hình dáng nó qua các số đo. Đây là bốn dấu chân chỗ con vật đứng yên. Anh thấy đấy, từ chân trước tới chân sau dài không dưới bốn mươi phân. Thêm chiều dài cổ và đầu, anh sẽ có một con vật dài không dưới sáu mươi phân, có khi còn dài hơn nếu nó có đuôi. Nhưng giờ hãy xem số đo kia. Con vật đã di chuyển, và ta có độ dài sải bước của nó. Lần nào cũng chỉ chừng bảy phân rưỡi. Anh thấy đấy, đó là dấu hiệu của một thân mình dài với đôi chân rất ngắn. Nó chẳng có lòng tốt để lại sợi lông nào. Nhưng hình dáng chung của nó hẳn phải như tôi vừa nói, nó leo được lên rèm, và nó ăn thịt.
— Sao anh suy ra được điều đó?
— Vì nó đã leo lên rèm. Ở cửa sổ có treo một lồng chim hoàng yến, và có vẻ mục đích của nó là vồ con chim.
— Vậy nó là con gì?
— À, nếu tôi gọi được tên nó thì có lẽ đã tiến được một bước dài tới lời giải. Nhìn chung, có lẽ nó thuộc họ chồn, họ chồn ec-min, nhưng nó lại lớn hơn bất cứ con nào thuộc họ ấy mà tôi từng thấy.
— Nhưng nó dính líu gì tới tội ác?
— Điều đó cũng vẫn còn mù mờ. Nhưng anh thấy đấy, chúng ta đã biết được khá nhiều. Ta biết có một người đàn ông đứng ngoài đường nhìn vào cuộc cãi vã giữa hai vợ chồng Bác-lây, vì rèm chưa buông và trong phòng sáng đèn. Ta cũng biết hắn đã chạy băng qua bãi cỏ, vào phòng cùng một con vật lạ, và hắn hoặc đã đánh đại tá, hoặc, điều này cũng có khả năng như thế, đại tá đã ngã xuống chỉ vì kinh hoàng khi nhìn thấy hắn, và đập đầu vào góc tấm chắn lò sưởi. Cuối cùng, ta có một sự việc kỳ lạ là kẻ đột nhập đã mang theo chìa khoá khi bỏ đi.
— Những phát hiện của anh có vẻ lại làm sự việc mù mịt hơn trước, tôi nói.
— Đúng vậy. Chắc chắn chúng cho thấy vụ này sâu xa hơn nhiều so với phỏng đoán lúc đầu. Tôi suy nghĩ kỹ, và đi tới kết luận rằng phải tiếp cận vụ án từ một khía cạnh khác. Nhưng thật tình, Oát-xơn, tôi đang làm anh thức khuya, mà những chuyện này mai tôi kể anh nghe trên đường tới Ôn-đơ-sót cũng được.
— Cảm ơn anh, nhưng anh đã kể quá xa rồi, dừng lại không được nữa đâu.
— Chắc chắn rằng khi bà Bác-lây rời nhà lúc bảy giờ rưỡi, bà vẫn đang vui vẻ với chồng. Như tôi đã nói, bà chẳng bao giờ phô bày tình cảm, nhưng người đánh xe đã nghe bà trò chuyện thân mật với đại tá. Mà chắc chắn không kém là ngay khi về nhà, bà đã đi vào căn phòng mà bà ít có khả năng gặp chồng nhất, đòi uống trà như một người đàn bà đang bị kích động, và cuối cùng, khi ông vào gặp bà, bà đã buông ra những lời buộc tội dữ dội. Vậy là trong khoảng từ bảy giờ rưỡi tới chín giờ đã có chuyện gì đó xảy ra, làm thay đổi hoàn toàn tình cảm của bà với ông. Nhưng suốt một tiếng rưỡi ấy, cô Mo-ri-xơn luôn ở bên bà. Vì thế, dù cô có chối, chắc chắn hoàn toàn rằng cô phải biết điều gì đó về chuyện này.
Phỏng đoán đầu tiên của tôi là có lẽ đã có chuyện gì đó giữa cô gái trẻ này và người lính già, và giờ cô đã thú thật với người vợ. Điều đó giải thích được tâm trạng giận dữ lúc về, và cả việc cô gái chối không có chuyện gì xảy ra. Nó cũng không hoàn toàn mâu thuẫn với phần lớn những lời người ta nghe được. Nhưng còn chuyện nhắc tới Đa-vít, và ai cũng biết đại tá yêu vợ mình, những điều ấy đặt lên bàn cân chống lại giả thuyết kia, chưa kể sự đột nhập bi thảm của gã đàn ông nọ, dĩ nhiên có thể hoàn toàn chẳng liên quan gì tới những chuyện trước đó. Thật không dễ dò từng bước, nhưng nhìn chung tôi nghiêng về phía gạt bỏ ý nghĩ rằng có chuyện gì đó giữa đại tá và cô Mo-ri-xơn. Có điều, tôi càng tin chắc hơn bao giờ hết rằng cô gái trẻ nắm manh mối về điều đã khiến bà Bác-lây quay sang căm ghét chồng. Vì thế tôi đi theo con đường hiển nhiên: tới gặp cô Mo-ri-xơn, nói với cô rằng tôi hoàn toàn chắc chắn cô đang nắm được sự thật, và cam đoan với cô rằng bạn cô, bà Bác-lây, có thể phải ra đứng trước vành móng ngựa với tội danh có thể bị tử hình nếu chuyện này không được làm sáng tỏ.
Cô Mo-ri-xơn là một cô gái nhỏ nhắn, mảnh mai như sương khói, đôi mắt rụt rè, tóc vàng. Nhưng tôi thấy cô chẳng hề thiếu khôn ngoan và lẽ phải. Nghe tôi nói xong, cô ngồi suy nghĩ một lúc, rồi quay sang tôi với vẻ quả quyết, và kể ra một câu chuyện đáng chú ý mà tôi sẽ thuật lại vắn tắt cho anh.
Cô nói: Tôi đã hứa với bạn tôi là sẽ không nói gì về chuyện này, mà đã hứa thì phải giữ. Nhưng nếu tôi thật sự giúp được chị ấy khi chị ấy đang bị một tội danh nặng nề như vậy, và khi chính miệng chị ấy, tội nghiệp, đang bị bệnh tật làm cho câm lặng, thì tôi nghĩ tôi được miễn lời hứa. Tôi sẽ kể ông nghe chính xác chuyện gì đã xảy ra tối thứ Hai.
Chúng tôi từ nhà truyền giáo phố Oát trở về vào khoảng chín giờ kém mười lăm. Trên đường về phải đi qua phố Hớt-xơn, một con phố rất vắng vẻ. Ở đó chỉ có một ngọn đèn đường, ở phía bên trái. Khi chúng tôi tới gần ngọn đèn, tôi thấy một người đàn ông đi về phía chúng tôi, lưng gù hẳn xuống, trên một bên vai đeo thứ gì như một cái hộp. Ông ta có vẻ dị tật, vì ông ta cúi gằm đầu và đi khuỵu gối. Chúng tôi đang đi ngang qua thì ông ta ngẩng mặt lên nhìn chúng tôi trong quầng sáng của ngọn đèn. Vừa nhìn, ông ta đứng sững lại và rú lên bằng một giọng khủng khiếp: Lạy Chúa, là Nan-xi! Chị Bác-lây mặt trắng bệch như người chết, và hẳn đã ngã xuống nếu cái sinh vật trông khủng khiếp ấy không đỡ lấy. Tôi định gọi cảnh sát, nhưng tôi ngạc nhiên vì chị ấy lại nói chuyện với gã ta khá lịch sự.
— Em cứ tưởng anh đã chết ba mươi năm nay rồi, Hen-ri, chị ấy nói, giọng run run.
— Thì tôi đã chết đấy thôi, ông ta nói, và nghe cái giọng ông ta nói câu ấy thật rợn người. Ông ta có gương mặt rất đen sạm, đáng sợ, và một tia sáng trong mắt mà giờ vẫn còn trở lại trong giấc mơ của tôi. Tóc và râu ông ta đã lốm đốm bạc, mặt mũi nhăn nheo, quắt queo như một quả táo khô.
— Em đi trước một quãng đi, chị Bác-lây nói. Chị muốn nói vài câu với người này. Chẳng có gì phải sợ đâu.
Chị ấy cố nói cho cứng cỏi, nhưng mặt vẫn tái nhợt như người chết, môi run tới mức nói không ra lời.
Tôi làm theo lời chị, và họ nói chuyện với nhau vài phút. Rồi chị ấy đi xuống phố, mắt rực lửa. Tôi thấy gã tàn tật khốn khổ ấy đứng cạnh cột đèn, giơ hai nắm đấm lên trời mà lắc lắc, như thể giận đến phát điên. Chị ấy không nói một lời nào cho tới khi tới cửa nhà tôi đây, rồi chị nắm tay tôi, van tôi đừng kể với ai chuyện vừa xảy ra.
— Đó là một người quen cũ của chị đã sa cơ lỡ vận, chị ấy nói.
Khi tôi hứa sẽ không nói gì, chị hôn tôi, và từ đó tôi không gặp lại chị nữa. Giờ tôi đã kể ông nghe toàn bộ sự thật. Nếu tôi giấu cảnh sát, đó là vì lúc ấy tôi không nhận ra người bạn thân của tôi đang gặp nguy hiểm thế nào. Tôi biết rằng để mọi chuyện được phơi bày thì chỉ có lợi cho chị ấy mà thôi.
Đó là lời khai của cô, Oát-xơn ạ, và như anh có thể hình dung, với tôi nó như một ngọn đèn giữa đêm tối. Mọi thứ trước đó rời rạc lập tức bắt đầu trở về đúng chỗ của nó, và tôi đã lờ mờ cảm thấy toàn bộ chuỗi sự việc. Bước tiếp theo của tôi rõ ràng là tìm ra gã đàn ông đã gây cho bà Bác-lây một ấn tượng mạnh mẽ đến thế. Nếu hắn còn ở Ôn-đơ-sót thì chắc cũng chẳng khó lắm. Ở đó dân thường chẳng nhiều, mà một người dị tật thì chắc chắn sẽ bị để ý. Tôi mất một ngày tìm kiếm, và tới tối, chính tối nay đây, Oát-xơn, tôi đã tìm ra hắn. Tên hắn là Hen-ri Út, trọ ngay trên chính con phố nơi hai người đàn bà gặp hắn. Hắn mới tới đây được năm ngày. Đóng vai một nhân viên đăng ký hộ tịch, tôi đã có một buổi tán gẫu rất thú vị với bà chủ nhà trọ. Hắn làm nghề ảo thuật và biểu diễn, tối tối đi khắp các căng-tin trong trại lính, mỗi nơi diễn một tiết mục nho nhỏ. Hắn mang theo một con vật nào đó trong cái hộp ấy. Bà chủ nhà có vẻ khá sợ nó, vì chưa bao giờ thấy con vật nào như thế. Theo lời bà, hắn dùng nó trong vài trò ảo thuật. Bà chủ nhà chỉ kể được với tôi có thế, thêm rằng người hắn cong queo như thế mà còn sống được cũng là lạ, rằng thỉnh thoảng hắn nói một thứ tiếng lạ, và hai đêm nay bà nghe hắn rên rỉ, khóc lóc trong phòng ngủ. Về tiền nong thì hắn đàng hoàng, nhưng trong khoản đặt cọc hắn có đưa bà một đồng có vẻ là đồng hai si-linh giả. Bà cho tôi xem, Oát-xơn ạ, đó là một đồng ru-pi của Ấn Độ.
Vậy giờ, anh bạn thân mến, anh đã thấy rõ chúng ta đang ở đâu, và vì sao tôi cần anh. Rõ ràng sau khi hai người đàn bà chia tay hắn, hắn đã đi theo họ từ xa, nhìn qua cửa sổ thấy hai vợ chồng cãi nhau, rồi xông vào, và con vật hắn mang trong hộp đã sổng ra. Những điều đó đều rất chắc chắn. Nhưng hắn là người duy nhất trên đời có thể kể cho chúng ta biết chính xác chuyện gì đã xảy ra trong căn phòng ấy.
— Và anh định hỏi hắn?
— Chắc chắn rồi, nhưng phải có nhân chứng.
— Và tôi là nhân chứng?
— Nếu anh có lòng tốt như vậy. Nếu hắn làm sáng tỏ được chuyện này thì tốt. Nếu hắn từ chối, ta không còn cách nào khác ngoài xin lệnh bắt.
— Nhưng sao anh biết khi ta quay lại hắn vẫn còn ở đó?
— Anh cứ yên tâm là tôi đã đề phòng. Tôi đã cắt một trong mấy cậu bé phố Bây-cơ canh chừng hắn, cậu ta sẽ bám lấy hắn như cái gai ké, hắn đi đâu cũng theo. Mai chúng ta sẽ gặp hắn ở phố Hớt-xơn, Oát-xơn ạ. Còn bây giờ, nếu tôi còn giữ anh không cho đi ngủ nữa thì chính tôi mới là tội phạm.
Giữa trưa hôm sau chúng tôi đã có mặt ở nơi xảy ra thảm kịch, và theo sự dẫn đường của bạn tôi, chúng tôi đi thẳng tới phố Hớt-xơn. Dù Hôm có tài che giấu cảm xúc, tôi vẫn dễ dàng thấy anh đang ở trong trạng thái kích động bị kìm nén. Còn bản thân tôi thì rạo rực cái thú nửa như thể thao, nửa như trí tuệ mà lần nào cùng anh điều tra tôi cũng cảm thấy.
— Phố này đây, anh nói khi chúng tôi rẽ vào một con phố ngắn, hai bên là những ngôi nhà gạch hai tầng giản dị. A, Xim-xơn tới báo cáo đây.
— Hắn vẫn ở trong nhà, ông Hôm ạ, một cậu bé lang thang đầu đường xó chợ chạy tới kêu lên.
— Giỏi lắm, Xim-xơn! Hôm nói, xoa đầu cậu bé. Đi nào, Oát-xơn. Nhà này đây.
Anh gửi danh thiếp vào kèm lời nhắn rằng anh tới vì việc quan trọng, và một lát sau chúng tôi đã đối mặt với người mà chúng tôi tới gặp. Dù trời nóng, ông ta vẫn ngồi co ro bên lò lửa, và căn phòng nhỏ nóng như lò nướng. Ông ta ngồi vặn vẹo, co quắp trong ghế theo một kiểu khiến người ta có ấn tượng khó tả về sự dị dạng. Còn gương mặt ông ta quay về phía chúng tôi thì tuy tiều tuỵ, đen sạm, hẳn đã có thời đẹp đẽ lạ thường. Giờ ông ta nhìn chúng tôi đầy ngờ vực bằng đôi mắt vàng đục như người bệnh gan, không nói, không đứng dậy, chỉ phẩy tay về phía hai chiếc ghế.
— Ông Hen-ri Út, trước ở Ấn Độ, phải không? Hôm niềm nở nói. Tôi tới vì chuyện nhỏ liên quan tới cái chết của đại tá Bác-lây.
— Tôi thì biết gì về chuyện đó?
— Đó chính là điều tôi muốn xác định. Tôi đoán ông biết rằng nếu chuyện này không được làm sáng tỏ, thì nhiều khả năng bà Bác-lây, một người bạn cũ của ông, sẽ bị đem ra xử tội giết người.
Gã đàn ông giật nảy người.
— Tôi không biết các ông là ai, gã kêu lên, cũng không biết làm sao các ông biết được những gì các ông biết. Nhưng ông có dám thề rằng điều ông nói với tôi là thật không?
— Ấy, họ chỉ đang đợi bà ấy tỉnh lại là bắt thôi.
— Lạy Chúa! Ông là cảnh sát à?
— Không.
— Vậy chuyện này liên quan gì tới ông?
— Thấy công lý được thực thi là việc của mọi người.
— Ông cứ tin lời tôi, bà ấy vô tội.
— Vậy thì ông có tội.
— Không, tôi không có tội.
— Vậy ai đã giết đại tá Giêm Bác-lây?
— Chính trời cao công bằng đã giết hắn. Nhưng ông nhớ cho điều này: nếu tôi có đập vỡ sọ hắn, như lòng tôi muốn làm, thì hắn cũng chỉ nhận đúng cái hắn đáng phải nhận từ tay tôi. Nếu lương tâm tội lỗi của chính hắn không quật ngã hắn, thì rất có thể máu hắn đã dính lên linh hồn tôi. Các ông muốn tôi kể chuyện. Chà, tôi chẳng thấy lý do gì mà không kể, vì tôi chẳng có gì phải xấu hổ.
Chuyện là thế này, thưa ông. Giờ ông thấy tôi lưng gù như lạc đà, xương sườn cong vẹo hết cả, nhưng đã có thời hạ sĩ Hen-ri Út là người lính bảnh trai nhất trung đoàn bộ binh một trăm mười bảy. Hồi ấy chúng tôi đóng quân ở Ấn Độ, tại một nơi cứ tạm gọi là Bơ-ti. Bác-lây, kẻ vừa chết hôm trước, là trung sĩ cùng đại đội với tôi. Còn người đẹp nhất trung đoàn, phải, cô gái đẹp nhất từng có hơi thở sự sống trên đôi môi, là Nan-xi Đơ-voi, con gái viên trung sĩ cầm cờ. Có hai người đàn ông yêu cô, và một người được cô yêu. Các ông sẽ mỉm cười khi nhìn cái thân hình tội nghiệp co ro trước lò lửa này, mà nghe tôi nói rằng cô yêu tôi vì tôi đẹp trai.
Chà, dù tôi có được trái tim cô, cha cô lại nhất quyết gả cô cho Bác-lây. Tôi là một gã trai bộp chộp, liều lĩnh, còn hắn thì có học, và đã được nhắm cho lên chức sĩ quan. Nhưng cô gái vẫn một lòng với tôi, và có vẻ tôi đã cưới được cô nếu cuộc binh biến không nổ ra, khiến cả xứ sở như địa ngục sổng ra.
Chúng tôi bị vây hãm ở Bơ-ti, cả trung đoàn cùng nửa khẩu đội pháo binh, một đại đội lính người Xích, và cả đống thường dân với đàn bà. Mười nghìn quân nổi dậy vây quanh chúng tôi, hăng máu như một bầy chó sục quanh lồng chuột. Khoảng tuần thứ hai thì hết nước, và vấn đề là có liên lạc được với đạo quân của tướng Nin đang tiến lên từ phía nam không. Đó là cơ hội duy nhất của chúng tôi, vì chẳng hy vọng gì mở được đường máu thoát ra khi còn bao nhiêu đàn bà trẻ con. Thế là tôi xung phong đi ra báo cho tướng Nin biết chúng tôi đang lâm nguy. Lời xung phong của tôi được chấp nhận, và tôi bàn với trung sĩ Bác-lây, người được cho là thông thạo địa hình hơn ai hết. Hắn vạch cho tôi một lộ trình để lọt qua phòng tuyến quân nổi dậy. Mười giờ tối hôm đó tôi lên đường. Có cả nghìn mạng người cần cứu, nhưng khi nhảy qua bức tường đêm ấy, tôi chỉ nghĩ tới một người.
Đường tôi đi chạy dọc một lòng suối cạn, chúng tôi hy vọng nó sẽ che được tôi khỏi lính gác của địch. Nhưng khi tôi bò quanh một khúc quanh, tôi đâm sầm ngay vào sáu tên đang ngồi thụp trong bóng tối chờ sẵn. Trong nháy mắt tôi bị một đòn đánh ngất xỉu, rồi bị trói chặt chân tay. Nhưng đòn thật sự là giáng vào tim tôi chứ không phải vào đầu. Vì khi tỉnh lại và lắng nghe được phần nào câu chuyện của chúng, tôi nghe đủ để biết rằng người đồng đội của tôi, chính kẻ đã vạch đường cho tôi đi, đã bán đứng tôi cho kẻ thù qua một tên đầy tớ người bản xứ.
Chà, chẳng cần kể dài về đoạn ấy. Giờ thì các ông biết Giêm Bác-lây là kẻ có thể làm những gì rồi. Hôm sau tướng Nin giải vây được Bơ-ti, nhưng quân nổi dậy mang tôi theo khi rút chạy, và phải bao nhiêu năm dài đằng đẵng sau tôi mới lại thấy một khuôn mặt người da trắng. Tôi bị tra tấn, tìm cách trốn, lại bị bắt và bị tra tấn nữa. Các ông tự thấy tôi bị bỏ lại trong tình trạng thế nào rồi đấy. Một số tên chạy sang Nê-pan mang tôi theo, rồi sau đó tôi bị đưa lên quá Đác-gi-linh. Dân miền núi trên đó giết bọn nổi dậy đang giữ tôi, và tôi làm nô lệ cho họ một thời gian cho tới khi trốn thoát. Nhưng thay vì đi xuống phía nam, tôi lại phải đi lên phía bắc, cho tới khi thấy mình ở giữa người Áp-ga-ni-xtan. Ở đó tôi lang thang nhiều năm, cuối cùng quay về vùng Pun-giáp, chủ yếu sống giữa người bản xứ, kiếm ăn bằng những trò ảo thuật đã học được. Một kẻ tàn tật khốn khổ như tôi thì về nước Anh hay ra mắt đồng đội cũ để làm gì? Ngay cả lòng mong muốn trả thù cũng không khiến tôi làm thế. Tôi thà để Nan-xi và bạn bè cũ nghĩ rằng Hen-ri Út đã chết với cái lưng thẳng, còn hơn thấy hắn sống mà phải chống gậy bò lê như một con tinh tinh. Họ chẳng bao giờ nghi ngờ rằng tôi đã chết, và tôi muốn họ sẽ không bao giờ nghi ngờ. Tôi nghe tin Bác-lây đã cưới Nan-xi, và hắn thăng tiến nhanh trong trung đoàn, nhưng ngay cả điều đó cũng không khiến tôi lên tiếng.
Nhưng khi người ta già đi, người ta lại nhớ quê. Đã bao năm tôi mơ về những cánh đồng xanh tươi và những hàng rào cây của nước Anh. Cuối cùng tôi quyết phải thấy lại chúng trước khi chết. Tôi dành dụm đủ tiền để về, rồi tới đây, nơi có lính tráng, vì tôi biết nếp sống của họ, biết cách làm họ vui, và nhờ thế kiếm đủ sống.
— Câu chuyện của ông thật hết sức thú vị, Sơ-lốc Hôm nói. Tôi đã được nghe về cuộc gặp gỡ giữa ông và bà Bác-lây, và chuyện hai người nhận ra nhau. Rồi theo tôi hiểu, ông đi theo bà về nhà, nhìn qua cửa sổ thấy bà cãi nhau với chồng, mà hẳn là bà đã ném thẳng vào mặt ông ta việc ông ta đã làm với ông. Không kìm được lòng, ông chạy băng qua bãi cỏ và xông vào chỗ họ.
— Đúng thế, thưa ông. Vừa thấy tôi, hắn có một vẻ mặt mà tôi chưa từng thấy ở người nào trước đó, rồi ngã ngửa ra, đầu đập vào tấm chắn lò sưởi. Nhưng hắn đã chết trước khi ngã xuống. Tôi đọc thấy cái chết trên mặt hắn rõ như tôi đọc được câu kinh treo trên lò sưởi kia. Chỉ riêng việc nhìn thấy tôi đã như một viên đạn xuyên qua trái tim tội lỗi của hắn.
— Rồi sao?
— Rồi Nan-xi ngất đi, và tôi giật lấy chìa khoá cửa trong tay cô ấy, định mở cửa gọi người tới giúp. Nhưng đang làm thì tôi lại thấy tốt hơn là cứ để đó mà đi, vì sự việc có thể rất bất lợi cho tôi, và dù sao thì nếu bị bắt, bí mật của tôi cũng sẽ lộ ra. Trong lúc vội vã, tôi nhét chìa khoá vào túi, và đánh rơi cây gậy trong lúc đuổi theo Tét-đi, nó đã leo lên rèm. Khi bắt được nó vào lại cái hộp mà nó đã chuồn ra, tôi chạy đi nhanh hết mức có thể.
— Tét-đi là ai? Hôm hỏi.
Gã đàn ông cúi xuống, kéo nắp một thứ như cái chuồng nhỏ ở góc phòng lên. Trong nháy mắt, một con vật đẹp đẽ màu nâu đỏ trườn ra, thon thả, uyển chuyển, chân như chân chồn ec-min, mũi dài và nhọn, và đôi mắt đỏ đẹp nhất mà tôi từng thấy trên đầu một con vật.
— Đó là một con cầy mang-gút! tôi kêu lên.
— Chà, có người gọi nó thế, có người gọi là cầy Ai Cập, gã nói. Tôi thì gọi nó là con bắt rắn, và Tét-đi vồ rắn hổ mang nhanh lắm. Tôi có một con ở đây đã nhổ nanh, và tối nào Tét-đi cũng vồ nó để mua vui cho mọi người trong căng-tin. Còn điều gì nữa không, thưa ông?
— Chà, có thể chúng tôi sẽ phải nhờ ông lần nữa nếu bà Bác-lây gặp rắc rối nghiêm trọng.
— Trong trường hợp ấy, dĩ nhiên tôi sẽ ra mặt.
— Còn nếu không thì chẳng việc gì phải khơi lại vụ bê bối này để bôi nhọ một người đã chết, dù ông ta đã hành động bỉ ổi đến đâu. Ít ra ông cũng được an ủi khi biết rằng suốt ba mươi năm đời mình, lương tâm ông ta đã cay đắng cắn rứt vì việc làm độc ác ấy. À, thiếu tá Mơ-phi đang đi bên kia đường. Chào ông, Út. Tôi muốn biết từ hôm qua tới giờ có chuyện gì xảy ra không.
Chúng tôi kịp đuổi theo viên thiếu tá trước khi ông tới góc phố.
— A, ông Hôm, ông nói. Chắc ông đã nghe tin là cả chuyện ầm ĩ này rốt cuộc chẳng đi tới đâu?
— Sao vậy?
— Phiên khám nghiệm tử thi vừa xong. Chứng cứ y khoa cho thấy rõ ràng ông ấy chết vì đột quỵ. Ông thấy đấy, rốt cuộc chỉ là một vụ khá đơn giản.
— Ồ, nông cạn lạ thường, Hôm mỉm cười nói. Đi thôi, Oát-xơn, tôi nghĩ ở Ôn-đơ-sót người ta không cần tới chúng ta nữa.
— Còn một điều, tôi nói trong lúc chúng tôi đi bộ ra ga. Nếu tên người chồng là Giêm, còn người kia là Hen-ri, thì chuyện nhắc tới Đa-vít là sao?
— Chỉ một chữ ấy thôi, Oát-xơn thân mến, lẽ ra đã cho tôi biết toàn bộ câu chuyện, nếu tôi là nhà suy luận lý tưởng như anh vẫn thích mô tả. Rõ ràng đó là một lời trách móc.
— Trách móc?
— Phải. Anh biết đấy, vua Đa-vít thỉnh thoảng cũng lầm đường lạc lối một chút, và có một lần lạc theo đúng hướng mà trung sĩ Giêm Bác-lây đã đi. Anh còn nhớ chuyện nho nhỏ về U-ri-a và Bát-sê-ba chứ? Tôi e kiến thức Kinh Thánh của tôi đã hơi mai một, nhưng anh sẽ tìm thấy câu chuyện ấy trong sách Sa-mu-en thứ nhất hoặc thứ hai.
— Hết —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám