Truyện Đỉnh

🔍 Truyện trinh thám

Tiệm thuốc phiện bên bến sông

Sơ-lốc Hôm: Người đàn ông môi trề · Chương 1/3 · của Arthur Conan Doyle

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 12.603 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07I-xa Uýt-ni, em trai của cố tiến sĩ thần…
  2. 2:05Bao giờ cũng thế. Người có chuyện buồn lại…
  3. 6:00Khi tôi bước vào, một gã hầu người Mã…
  4. 6:54Anh ta úp mặt vào hai cánh tay, bắt…
  5. 9:06Tôi có xe đang chờ bên ngoài.
  6. 10:43Kẻ thù?
  7. 12:27Biệt thự Tuyết Tùng?
  8. 14:26Anh quên là tôi chẳng biết gì về chuyện…

Chương 1: Tiệm thuốc phiện bên bến sông

I-xa Uýt-ni, em trai của cố tiến sĩ thần học Ê-lai-át Uýt-ni, hiệu trưởng trường Thần học Xanh Gioóc, nghiện thuốc phiện rất nặng. Theo tôi được biết, thói nghiện ấy bắt đầu từ một trò dại dột hồi anh ta còn học đại học. Đọc những trang Đơ Quyn-xi tả về những giấc mơ và cảm giác của mình, anh ta đã tẩm cồn thuốc phiện vào thuốc lá để thử tạo ra cảm giác giống thế. Cũng như bao người khác, anh ta nhận ra rằng thói ấy nhiễm thì dễ mà bỏ thì khó, và suốt nhiều năm anh ta làm nô lệ cho thứ thuốc ấy, khiến bạn bè và người thân vừa ghê sợ vừa thương hại. Tôi như còn thấy anh ta lúc này, mặt vàng bủng, mí mắt sụp xuống, con ngươi nhỏ như đầu kim, co rúm trong chiếc ghế, đống tàn tích đổ nát của một con người cao quý.

Một đêm tháng sáu năm 1889, chuông nhà tôi reo vào đúng cái giờ người ta bắt đầu ngáp và liếc nhìn đồng hồ. Tôi ngồi thẳng dậy trong ghế, còn vợ tôi đặt đồ khâu xuống lòng, khẽ nhăn mặt thất vọng.

— Bệnh nhân rồi! nhà tôi nói. Anh lại phải ra ngoài.

Tôi rên lên, vì vừa trở về sau một ngày mệt nhọc.

Chúng tôi nghe tiếng cửa mở, vài câu nói vội vã, rồi tiếng bước chân gấp gáp trên sàn vải sơn. Cửa phòng chúng tôi bật mở, và một người phụ nữ mặc đồ sẫm màu, đeo mạng đen, bước vào.

— Xin ông bà thứ lỗi vì tôi tới muộn thế này, bà bắt đầu nói, rồi bỗng mất hết tự chủ, chạy tới vòng tay ôm lấy cổ vợ tôi, gục lên vai nhà tôi mà nức nở. Ôi, tôi gặp chuyện khổ quá! bà kêu lên. Tôi cần người giúp quá!

— Ơ kìa, vợ tôi nói, vén mạng che mặt lên, chị Kết Uýt-ni. Chị làm em giật cả mình, chị Kết! Lúc chị bước vào em chẳng biết là ai.

— Chị chẳng biết làm sao, nên tìm thẳng tới em.

Bao giờ cũng thế. Người có chuyện buồn lại tìm tới vợ tôi như chim tìm về ngọn hải đăng.

— Chị tới thế này là quý lắm. Nào, chị phải uống chút rượu pha nước, ngồi đây cho thoải mái, rồi kể hết cho chúng em nghe. Hay chị muốn em bảo anh Giêm đi ngủ?

— Ồ không, không! Tôi cũng cần bác sĩ khuyên bảo, giúp đỡ nữa. Chuyện về anh I-xa. Đã hai ngày anh ấy không về nhà. Tôi lo cho anh ấy quá!

Đây không phải lần đầu bà kể với chúng tôi chuyện khổ của chồng, với tôi vì tôi là bác sĩ, với vợ tôi vì là bạn cũ, bạn học. Chúng tôi tìm mọi lời để vỗ về, an ủi bà. Bà có biết chồng mình đang ở đâu không? Liệu chúng tôi có thể đưa anh ta về cho bà không?

Hình như là có thể. Bà có tin chắc chắn rằng dạo gần đây, mỗi khi lên cơn nghiện, anh ta hay lui tới một tiệm hút thuốc phiện tận cuối phía đông khu Thành Phố. Trước nay những cuộc trác táng của anh ta chỉ kéo dài trong một ngày, và tối đến anh ta lại về nhà, người co giật, rã rời. Nhưng lần này cơn nghiện đã giữ anh ta suốt bốn mươi tám tiếng, và hẳn anh ta đang nằm đó giữa đám cặn bã của bến tàu, hít thứ chất độc hay ngủ cho tan cơn say. Bà chắc chắn sẽ tìm thấy anh ta ở đó, ở quán Thỏi Vàng, ngõ Thượng Xoan-đam. Nhưng bà phải làm sao? Làm sao bà, một người phụ nữ trẻ và nhút nhát, lại có thể vào một nơi như thế, lôi chồng ra khỏi đám côn đồ vây quanh anh ta?

Sự tình là thế, và dĩ nhiên chỉ có một lối thoát. Tôi có thể đưa bà tới chỗ ấy chăng? Rồi nghĩ lại, sao bà lại phải tới đó làm gì? Tôi là thầy thuốc của I-xa Uýt-ni, nên tôi có ảnh hưởng với anh ta. Nếu đi một mình, tôi sẽ xoay xở dễ hơn. Tôi hứa danh dự với bà rằng nếu anh ta quả thật ở địa chỉ bà cho, tôi sẽ cho anh ta lên xe về nhà trong vòng hai tiếng. Thế là mười phút sau, tôi đã bỏ lại chiếc ghế bành và căn phòng khách ấm cúng sau lưng, ngồi trên chiếc xe ngựa phóng về phía đông, làm một việc mà lúc ấy tôi thấy đã lạ lùng, dù chỉ tương lai mới cho biết nó còn lạ lùng tới đâu.

Nhưng chặng đầu cuộc phiêu lưu của tôi chẳng có gì khó khăn lắm. Ngõ Thượng Xoan-đam là một con hẻm bẩn thỉu lẩn khuất sau dãy bến tàu cao nằm dọc bờ bắc dòng sông, phía đông Cầu Luân Đôn. Giữa một hiệu bán quần áo cũ và một quán rượu gin, có một dãy bậc dốc đứng dẫn xuống một khe hở đen ngòm như miệng hang, và tôi tìm thấy cái tiệm mình đang tìm. Bảo xe chờ, tôi đi xuống những bậc thang đã mòn lõm ở giữa vì bước chân không ngớt của bọn say sưa. Dưới ánh ngọn đèn dầu leo lét trên cửa, tôi tìm thấy chốt cửa, rồi bước vào một căn phòng dài, thấp, đặc quánh khói thuốc phiện màu nâu, kê những dãy giường gỗ tầng tầng lớp lớp như khoang mũi của một con tàu chở dân di cư.

Qua bóng tối lờ mờ có thể thoáng thấy những thân người nằm trong những tư thế kỳ dị, vai còng, gối gập, đầu ngửa ra, cằm hếch lên, đây đó một con mắt đen, đờ đẫn quay nhìn người mới tới. Giữa những mảng bóng đen loé lên những vòng sáng nhỏ màu đỏ, lúc rực lúc mờ, khi thứ chất độc đang cháy trong nõ những chiếc tẩu kim loại bùng lên hay lụi xuống. Phần lớn nằm im lặng, nhưng có kẻ lẩm bẩm một mình, có kẻ nói chuyện với nhau bằng một giọng trầm, đều đều, kỳ lạ, câu chuyện tuôn ra từng đợt rồi bỗng lịm dần vào im lặng, mỗi người lầm bầm ý nghĩ riêng mà chẳng mấy để ý tới lời kẻ bên cạnh. Ở đầu phòng đằng kia có một lò than nhỏ đang cháy, bên cạnh, trên một chiếc ghế đẩu gỗ ba chân, một ông già cao gầy ngồi chống cằm lên hai nắm tay, khuỷu tay tì lên đầu gối, nhìn đăm đăm vào lửa.

Khi tôi bước vào, một gã hầu người Mã Lai mặt vàng bủng vội chạy tới, mang cho tôi một chiếc tẩu và một ít thuốc, vẫy tôi tới một giường trống.

— Cảm ơn. Tôi không tới để ở lại, tôi nói. Có một người bạn của tôi ở đây, ông I-xa Uýt-ni, tôi muốn nói chuyện với ông ấy.

Bên phải tôi có tiếng cựa mình và một tiếng kêu khẽ. Nhìn qua bóng tối, tôi thấy Uýt-ni, xanh xao, hốc hác, đầu tóc bù xù, đang trố mắt nhìn tôi.

— Chúa ơi! Oát-xơn đấy à, anh ta nói. Anh ta đang ở trong trạng thái vật vã đáng thương sau cơn thuốc, dây thần kinh nào cũng run bần bật. Này, Oát-xơn, mấy giờ rồi?

— Gần mười một giờ.

— Của ngày nào?

— Của ngày thứ sáu, mười chín tháng sáu.

— Trời đất! Tôi tưởng mới thứ tư. Đúng là thứ tư mà. Anh doạ người ta làm gì thế?

Anh ta úp mặt vào hai cánh tay, bắt đầu khóc thút thít bằng một giọng the thé.

— Tôi bảo anh là thứ sáu rồi, anh bạn ạ. Vợ anh đã chờ anh hai ngày nay. Anh phải biết xấu hổ chứ!

— Tôi xấu hổ lắm. Nhưng anh nhầm rồi, Oát-xơn, vì tôi mới ở đây vài tiếng thôi, ba tẩu, bốn tẩu, tôi quên mất bao nhiêu rồi. Nhưng tôi sẽ về với anh. Tôi không muốn làm Kết sợ, Kết bé bỏng tội nghiệp. Đưa tay đây! Anh có xe không?

— Có, có một chiếc đang chờ.

— Vậy tôi sẽ đi xe ấy. Nhưng hẳn tôi còn nợ tiền gì đấy. Xem giùm tôi nợ bao nhiêu, Oát-xơn. Tôi rã rời cả rồi. Tôi chẳng tự làm được gì cả.

Tôi đi dọc lối hẹp giữa hai dãy người đang ngủ, nín thở cho khỏi hít phải thứ khói thuốc ghê tởm làm mụ người, đưa mắt tìm chủ tiệm. Khi đi qua ông già cao gầy ngồi bên lò than, tôi bỗng thấy vạt áo mình bị giật nhẹ, và một giọng nói khẽ thì thầm: "Đi qua tôi, rồi nhìn lại tôi." Những chữ ấy lọt vào tai tôi rất rõ. Tôi liếc xuống. Chúng chỉ có thể phát ra từ ông già bên cạnh tôi, vậy mà ông ta vẫn ngồi đó, đắm chìm như trước, rất gầy, rất nhăn nheo, còng gập vì tuổi tác, một chiếc tẩu thuốc phiện lủng lẳng giữa hai đầu gối, như thể nó tuột khỏi những ngón tay rã rời. Tôi bước lên hai bước rồi ngoái lại. Tôi phải cố hết sức tự chủ mới không bật lên một tiếng kêu kinh ngạc. Ông ta đã quay lưng lại để không ai nhìn thấy mình ngoài tôi. Thân hình ông ta đầy đặn ra, những nếp nhăn biến mất, đôi mắt đờ đẫn đã lấy lại ánh lửa, và ngồi đó bên lò than, nhe răng cười trước vẻ kinh ngạc của tôi, không ai khác hơn là Sơ-lốc Hôm. Anh khẽ ra hiệu cho tôi lại gần, rồi ngay lập tức, khi quay nửa mặt về phía đám người kia, anh lại chìm vào dáng vẻ một ông già lẩm cẩm, môi trễ ra.

— Hôm! tôi thì thầm. Anh làm cái quái gì trong cái hang ổ này thế?

— Nói nhỏ hết mức có thể, anh đáp. Tai tôi thính lắm. Nếu anh có lòng tống khứ ông bạn nghiện ngập của anh đi, tôi sẽ rất mừng được nói chuyện với anh một chút.

— Tôi có xe đang chờ bên ngoài.

— Vậy thì cho anh ta đi xe ấy về nhà. Anh cứ yên tâm, vì anh ta có vẻ rã rời quá, chẳng gây chuyện gì được đâu. Tôi khuyên anh cũng nhờ người đánh xe mang về cho vợ anh một mẩu thư, báo rằng anh đã nhập bọn với tôi. Nếu anh chờ bên ngoài thì năm phút nữa tôi sẽ ra với anh.

Thật khó mà từ chối bất cứ đề nghị nào của Sơ-lốc Hôm, vì chúng bao giờ cũng rất cụ thể, và được đưa ra với vẻ làm chủ điềm tĩnh. Vả lại, tôi cảm thấy khi Uýt-ni đã yên vị trong xe thì nhiệm vụ của tôi coi như xong. Còn lại thì tôi chẳng mong gì hơn là được cùng bạn tôi tham gia một trong những cuộc phiêu lưu kỳ lạ, vốn là chuyện thường ngày trong đời anh. Chỉ vài phút sau tôi đã viết xong mẩu thư, trả tiền cho Uýt-ni, dẫn anh ta ra xe, và nhìn chiếc xe chở anh ta khuất vào bóng tối. Chẳng bao lâu sau, một bóng người lụ khụ bước ra khỏi tiệm thuốc phiện, và tôi đã đi xuống phố cùng Sơ-lốc Hôm. Qua hai con phố, anh vẫn lê bước, lưng còng, chân đi không vững. Rồi liếc nhanh xung quanh, anh đứng thẳng người lên và phá lên cười sảng khoái.

— Oát-xơn ạ, anh nói, chắc anh đang tưởng tôi đã thêm thói hút thuốc phiện vào thói tiêm cô-ca-in, và mọi tật xấu nho nhỏ khác mà anh đã có lòng góp ý với tôi dưới góc độ y khoa.

— Tôi quả là ngạc nhiên khi thấy anh ở đó.

— Nhưng không ngạc nhiên bằng tôi khi thấy anh.

— Tôi tới tìm một người bạn.

— Còn tôi tới tìm một kẻ thù.

— Kẻ thù?

— Phải, một trong những kẻ thù bẩm sinh của tôi, hay tôi nên nói là con mồi bẩm sinh của tôi. Nói ngắn gọn, Oát-xơn ạ, tôi đang giữa chừng một cuộc điều tra hết sức đặc biệt, và tôi đã hy vọng tìm được manh mối trong những lời lảm nhảm của đám nghiện ngập này, như tôi từng làm trước đây. Nếu bị nhận ra trong hang ổ ấy, mạng tôi không đáng giá nổi một giờ, vì trước đây tôi đã dùng nó cho mục đích riêng, và gã Lát-ca vô lại cầm đầu cái tiệm ấy đã thề sẽ trả thù tôi. Ở phía sau toà nhà ấy, gần góc bến Pôn, có một cửa sập, nó có thể kể những chuyện kỳ lạ về những gì đã đi qua nó trong những đêm không trăng.

— Sao! Anh không định nói là xác người đấy chứ?

— Đúng thế, xác người, Oát-xơn ạ. Chúng ta sẽ thành giàu nếu cứ mỗi kẻ khốn khổ bị giết trong cái hang ấy lại có một nghìn bảng. Đó là cái bẫy giết người đê tiện nhất trên cả dải bờ sông, và tôi e rằng Nê-vin Xanh Cle đã bước vào đó để không bao giờ trở ra nữa. Nhưng xe của chúng ta hẳn phải ở đây.

Anh đưa hai ngón trỏ lên miệng huýt một tiếng sáo lanh lảnh. Đáp lại là một tiếng huýt tương tự từ xa, rồi chẳng mấy chốc là tiếng bánh xe lọc cọc và tiếng vó ngựa lách cách.

— Nào, Oát-xơn, Hôm nói, khi một cỗ xe hai bánh cao lao tới qua bóng tối, hai chiếc đèn hai bên hắt ra hai đường hầm ánh sáng vàng óng. Anh đi với tôi chứ?

— Nếu tôi giúp được gì.

— Ồ, một người bạn tin cậy thì bao giờ cũng giúp được việc, mà một người chép sử thì còn hơn thế. Phòng tôi ở biệt thự Tuyết Tùng có hai giường.

— Biệt thự Tuyết Tùng?

— Phải, đó là nhà ông Xanh Cle. Tôi ở đó trong lúc tiến hành điều tra.

— Nó ở đâu?

— Gần Li, ở hạt Ken. Ta còn bảy dặm đường xe nữa.

— Nhưng tôi vẫn mù tịt.

— Dĩ nhiên rồi. Lát nữa anh sẽ biết hết. Nhảy lên đây. Được rồi, Giôn, chúng tôi không cần anh nữa. Nửa đồng cua-ron đây. Mai chờ tôi khoảng mười một giờ. Thả cương cho nó chạy. Tạm biệt nhé!

Anh quất nhẹ roi vào con ngựa, và chúng tôi lao đi qua một dãy dài bất tận những con phố u ám, vắng tanh. Phố xá rộng dần ra, cho tới khi chúng tôi phóng qua một cây cầu rộng có lan can, dòng sông đục ngầu lững lờ trôi bên dưới. Bên kia cầu lại là một vùng hoang vắng tẻ nhạt khác toàn gạch với vữa, sự im lặng chỉ bị phá vỡ bởi tiếng bước chân nặng nề, đều đặn của người cảnh sát tuần tra, hay tiếng hát, tiếng la hét của một đám chơi bời về khuya. Một dải mây mù chậm chạp trôi ngang bầu trời, đây đó một hai ngôi sao lờ mờ nhấp nháy qua những kẽ mây. Hôm đánh xe trong im lặng, đầu gục xuống ngực, dáng vẻ một người đang chìm trong suy nghĩ, còn tôi ngồi bên cạnh, tò mò muốn biết cuộc truy tìm mới này là gì mà có vẻ làm anh vắt óc đến thế, nhưng lại sợ cắt ngang dòng suy nghĩ của anh. Chúng tôi đã đi được mấy dặm, bắt đầu tới rìa vành đai những ngôi biệt thự ngoại ô, thì anh rũ mình, nhún vai, châm tẩu, với vẻ một người đã tự thuyết phục rằng mình đang làm điều tốt nhất.

— Anh có biệt tài im lặng tuyệt vời, Oát-xơn ạ, anh nói. Điều đó khiến anh trở thành người bạn đồng hành vô giá. Thật tình, có người để nói chuyện là điều quý giá với tôi lắm, vì những ý nghĩ của tôi chẳng dễ chịu gì. Tôi đang băn khoăn không biết tối nay sẽ nói gì với người đàn bà nhỏ bé đáng thương ấy khi bà ra đón tôi ở cửa.

— Anh quên là tôi chẳng biết gì về chuyện này.

— Tôi vừa đủ thời gian kể anh nghe sự việc trước khi tới Li. Chuyện có vẻ đơn giản đến buồn cười, vậy mà không hiểu sao tôi chẳng nắm được gì để bám vào. Chắc chắn là có rất nhiều chỉ, nhưng tôi không cầm được đầu sợi. Giờ tôi sẽ trình bày vụ việc rõ ràng, ngắn gọn cho anh nghe, Oát-xơn, biết đâu anh lại thấy được một tia sáng ở chỗ mà với tôi là tối om.

— Vậy anh kể đi.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơ-lốc Hôm: Người đàn ông môi trề

  1. 1Tiệm thuốc phiện bên bến sông15 phút
  2. 2Ô cửa sổ ở ngõ Xoan-đamĐang thu âm
  3. 3Năm cái gối và một gói thuốcĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảArthur Conan Doyle (1859 – 1930)
Năm mất1930
Xuất bản lần đầu1891
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Man with the Twisted Lip, trong tập The Adventures of Sherlock Holmes, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →