Truyện Đỉnh

🔍 Truyện trinh thám

Gương mặt sau ô cửa kính

Sơ-lốc Hôm: Người lính trắng bệch · Chương 1/2 · của Arthur Conan Doyle

⏱ 23 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 20.071 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07Những ý nghĩ của anh bạn Oát-xơn tuy hạn…
  2. 3:17Tôi chẳng thấy gì hơn ông, nhưng tôi đã…
  3. 6:08Tôi không thoả mãn, ông Hôm ạ. Toàn bộ…
  4. 9:43"Thế thì sao?" ông ta hỏi.
  5. 13:21"Cả trung đoàn không có ai gan dạ hơn.…
  6. 15:37Thân chủ của tôi ngừng lại như người đang…
  7. 19:30"Đúng thế. Chính xác," ông ta nói, với vẻ…
  8. 21:43Ông ta lặng lẽ đi về nhà chính, và…

Chương 1: Gương mặt sau ô cửa kính

Những ý nghĩ của anh bạn Oát-xơn tuy hạn hẹp nhưng cực kỳ dai dẳng. Đã từ lâu anh ấy cứ nằn nì tôi tự viết lại một trải nghiệm của mình. Có lẽ chính tôi đã chuốc lấy sự quấy rầy này, vì tôi thường chỉ ra cho anh ấy thấy những câu chuyện anh kể hời hợt thế nào, trách anh chiều theo thị hiếu công chúng thay vì bám chặt lấy sự kiện và con số. Anh vặn lại: "Anh thử tự viết xem, Hôm!", và tôi buộc phải thừa nhận rằng khi đã cầm bút, tôi bắt đầu nhận ra phải trình bày sự việc sao cho người đọc thấy thú vị. Vụ dưới đây khó mà không làm được điều đó, vì nó là một trong những chuyện kỳ lạ nhất trong bộ sưu tập của tôi, dù tình cờ Oát-xơn không có ghi chép gì về nó. Nhân nói về người bạn cũ kiêm người viết tiểu sử của mình, tôi xin nhân dịp này nhận xét rằng nếu tôi tự gánh thêm một người bạn đồng hành trong những cuộc điều tra nho nhỏ của mình, thì không phải vì tình cảm hay ý thích nhất thời, mà vì Oát-xơn có những phẩm chất đáng chú ý của riêng anh, những phẩm chất mà vì khiêm tốn anh ít để tâm, giữa những lời đánh giá phóng đại về việc làm của tôi. Một người cộng sự đoán trước được kết luận và hành động của ta bao giờ cũng nguy hiểm, nhưng một người mà mỗi diễn biến đều là một sự ngạc nhiên bất tận, và tương lai với anh ta luôn là cuốn sách khép kín, thì quả thật là một người trợ giúp lý tưởng.

Xem sổ ghi chép, tôi thấy vào tháng giêng năm 1903, ngay sau khi chiến tranh Bô-ơ kết thúc, tôi tiếp ông Giêm M. Đốt, một người Anh to lớn, tươi tắn, sạm nắng, đứng thẳng như cây cột. Hồi ấy Oát-xơn tốt bụng đã bỏ tôi để lấy vợ, hành động ích kỷ duy nhất tôi nhớ được trong suốt thời gian chúng tôi gắn bó. Tôi ở một mình.

Tôi có thói quen ngồi quay lưng ra cửa sổ và mời khách ngồi chiếc ghế đối diện, nơi ánh sáng rọi thẳng vào họ. Ông Giêm M. Đốt có vẻ lúng túng không biết bắt đầu câu chuyện thế nào. Tôi không cố giúp ông, vì sự im lặng của ông cho tôi thêm thời gian quan sát. Tôi thấy khôn ngoan là gây cho thân chủ ấn tượng về năng lực của mình, nên tôi nói ra vài kết luận.

— Ông từ Nam Phi về, tôi thấy thế.

— Vâng, thưa ông, — ông đáp, hơi ngạc nhiên.

— Kỵ binh tình nguyện Hoàng gia, tôi đoán thế.

— Chính xác.

— Chắc chắn là đội Mít-đơn-xếch.

— Đúng vậy. Ông Hôm, ông là phù thuỷ.

Tôi mỉm cười trước vẻ bối rối của ông.

— Khi một quý ông dáng vẻ mạnh mẽ bước vào phòng tôi với làn da rám nắng mà mặt trời nước Anh không bao giờ tạo ra được, và nhét khăn tay trong tay áo thay vì trong túi, thì chẳng khó gì đoán ông ta là ai. Ông để râu ngắn, cho thấy ông không phải lính chính quy. Ông có dáng của người cưỡi ngựa. Còn Mít-đơn-xếch thì tấm danh thiếp của ông đã cho tôi biết ông là người môi giới chứng khoán ở phố Thrốc-mo-tơn. Ông còn gia nhập trung đoàn nào khác được?

— Ông thấy hết mọi thứ.

— Tôi chẳng thấy gì hơn ông, nhưng tôi đã rèn luyện để chú ý tới những gì mình thấy. Tuy vậy, ông Đốt, sáng nay ông tới gặp tôi đâu phải để bàn về khoa học quan sát. Chuyện gì đang xảy ra ở trang viên Tắc-xbơ-ri?

— Ông Hôm...!

— Thưa ông, chẳng có gì bí ẩn cả. Thư ông gửi tới có đề địa chỉ ấy, và vì ông hẹn gặp bằng những lời hết sức khẩn thiết, rõ ràng đã có chuyện gì đó đột ngột và quan trọng xảy ra.

— Vâng, đúng vậy. Nhưng lá thư viết từ chiều, và từ đó tới giờ đã xảy ra khá nhiều chuyện. Nếu đại tá Em-xuốt không đá tôi ra...

— Đá ông ra!

— Chà, thực chất là thế. Đại tá Em-xuốt cứng như đinh. Thời của ông ấy, ông ấy là người kỷ luật khắt khe nhất trong quân đội, mà thời ấy lời lẽ cũng thô bạo lắm. Nếu không vì Gốt-phri thì tôi đã chẳng chịu nổi ông đại tá.

Tôi châm tẩu, ngả người ra ghế.

— Có lẽ ông nên giải thích ông đang nói về chuyện gì.

Thân chủ của tôi cười tinh nghịch.

— Tôi đã quen nghĩ là ông biết mọi chuyện mà chẳng cần ai kể, — ông nói. — Nhưng tôi sẽ kể ông nghe các sự việc, và cầu Chúa cho ông nói được với tôi chúng có nghĩa là gì. Cả đêm qua tôi thức trắng vắt óc suy nghĩ, càng nghĩ càng thấy khó tin.

— Khi tôi nhập ngũ vào tháng giêng năm 1901, cách đây đúng hai năm, cậu Gốt-phri Em-xuốt cũng vào cùng đại đội. Cậu ấy là con trai duy nhất của đại tá Em-xuốt, ông Em-xuốt từng được huân chương Chữ thập Vích-to-ri-a trong chiến tranh Crưm, và cậu mang dòng máu chiến binh, nên chẳng lạ gì khi cậu tình nguyện. Cả trung đoàn không có chàng trai nào tốt hơn. Chúng tôi kết bạn, thứ tình bạn chỉ có được khi người ta sống cùng một cuộc đời, chung những niềm vui nỗi buồn. Cậu ấy là bạn chiến đấu của tôi, mà trong quân ngũ thì điều đó có ý nghĩa lắm. Suốt một năm đánh nhau gian khổ, chúng tôi cùng nhau trải qua cả lúc ngọt lúc bùi. Rồi cậu ấy trúng một viên đạn súng săn voi trong trận đánh gần đồi Kim Cương ngoài thành Prê-tô-ri-a. Tôi nhận được một lá thư của cậu từ bệnh viện ở Kếp-tao, và một lá từ Xao-thăm-tơn. Từ đó không một chữ nào, không một chữ, ông Hôm ạ, suốt hơn sáu tháng, mà cậu ấy là người bạn thân nhất của tôi.

— Thế rồi khi chiến tranh kết thúc và tất cả chúng tôi trở về, tôi viết thư cho bố cậu hỏi Gốt-phri ở đâu. Không có trả lời. Tôi chờ một thời gian rồi viết lần nữa. Lần này tôi nhận được thư trả lời, ngắn ngủn và cộc cằn. Gốt-phri đã đi một chuyến vòng quanh thế giới, và chắc phải một năm nữa mới về. Thế thôi.

— Tôi không thoả mãn, ông Hôm ạ. Toàn bộ chuyện này với tôi thật trái tự nhiên quá thể. Cậu ấy là một chàng trai tốt, cậu ấy sẽ không bỏ rơi bạn bè như thế. Không giống cậu ấy chút nào. Rồi nữa, tôi tình cờ biết cậu ấy là người thừa kế một khoản tiền lớn, và cũng biết hai bố con không phải lúc nào cũng hợp nhau. Ông già có lúc độc đoán, còn cậu Gốt-phri thì quá cứng cỏi để chịu đựng. Không, tôi không thoả mãn, và tôi quyết tìm hiểu tới tận gốc rễ chuyện này. Có điều, sau hai năm vắng mặt, công việc riêng của tôi cần thu xếp lại nhiều, nên mãi tuần này tôi mới có thể quay lại chuyện của Gốt-phri. Nhưng đã bắt tay vào thì tôi định gác hết mọi việc để làm cho tới cùng.

Ông Giêm M. Đốt có vẻ là loại người nên có làm bạn hơn là làm kẻ thù. Trong lúc nói, đôi mắt xanh của ông nghiêm khắc, quai hàm vuông bạnh ra cứng rắn.

— Thế ông đã làm gì? — tôi hỏi.

— Bước đầu tiên của tôi là về tận nhà cậu ấy, trang viên Tắc-xbơ-ri gần Bét-phớt, để tận mắt xem tình hình. Vì thế tôi viết thư cho bà mẹ, vì tôi đã chán ngấy ông bố khó chịu rồi, và tôi tấn công thẳng mặt: Gốt-phri là bạn thân của tôi, tôi có thể kể cho bà nghe rất nhiều điều thú vị về những trải nghiệm chung của chúng tôi, tôi sẽ có dịp tới vùng ấy, bà có phản đối gì không, vân vân. Bà trả lời rất niềm nở và mời tôi ở lại qua đêm. Vì thế hôm thứ hai tôi đã xuống đó.

— Trang viên Tắc-xbơ-ri hẻo lánh, cách nơi nào cũng tám cây số. Ở nhà ga không có xe ngựa, nên tôi phải đi bộ, xách va li, và tới nơi thì trời đã gần tối. Đó là một ngôi nhà lớn lan man, nằm giữa một khu công viên khá rộng. Tôi đoán nó gồm đủ mọi thời kỳ, mọi phong cách, bắt đầu từ nền móng kiểu thời nữ hoàng Ê-li-da-bét khung gỗ lộ, kết thúc bằng một cổng vòm kiểu thời Vích-to-ri-a. Bên trong toàn là ván ốp tường, thảm thêu treo tường và những bức tranh cổ nhoà nhạt, một ngôi nhà của bóng tối và bí ẩn. Có một người quản gia, ông Ran-phơ già, trông chừng cũng già bằng ngôi nhà, và vợ ông, có lẽ còn già hơn. Bà từng là vú nuôi của Gốt-phri, và tôi đã nghe cậu nói về bà như người cậu thương thứ hai sau mẹ, nên tôi thấy mến bà dù bà có vẻ ngoài kỳ quặc. Tôi cũng mến bà mẹ, một người phụ nữ nhỏ bé hiền lành như con chuột bạch. Chỉ có ông đại tá là tôi không ưa.

— Chúng tôi xích mích với nhau ngay, và lẽ ra tôi đã đi bộ trở ra ga nếu không cảm thấy làm thế là đúng ý ông ta. Tôi được đưa thẳng vào phòng làm việc của ông ta, và thấy ông ngồi sau chiếc bàn bừa bộn, một người to lớn, lưng còng, da xạm như khói, bộ râu xám lưa thưa. Cái mũi nổi gân đỏ chìa ra như mỏ kền kền, và đôi mắt xám dữ tợn trừng trừng nhìn tôi dưới đôi lông mày rậm. Giờ tôi mới hiểu vì sao Gốt-phri hiếm khi nhắc tới bố.

— "Thế nào, thưa ông," ông ta nói bằng giọng rít rít. "Tôi rất muốn biết lý do thật của chuyến thăm này."

— Tôi đáp rằng tôi đã giải thích trong thư gửi vợ ông.

— "Phải, phải, ông nói ông quen Gốt-phri ở châu Phi. Dĩ nhiên chúng tôi chỉ có lời ông nói về chuyện đó."

— "Tôi có thư của cậu ấy gửi tôi trong túi đây."

— "Phiền ông cho tôi xem."

— Ông ta liếc qua hai lá thư tôi đưa, rồi ném trả lại.

— "Thế thì sao?" ông ta hỏi.

— "Tôi quý cậu Gốt-phri con ông, thưa ông. Nhiều mối dây và kỷ niệm gắn bó chúng tôi. Tôi lấy làm lạ trước sự im lặng đột ngột của cậu ấy và muốn biết cậu ấy ra sao, chẳng phải điều tự nhiên sao?"

— "Tôi nhớ là đã có thư từ với ông và đã nói với ông nó ra sao rồi, thưa ông. Nó đã đi một chuyến vòng quanh thế giới. Sau những gì trải qua ở châu Phi, sức khoẻ nó sa sút, và cả mẹ nó lẫn tôi đều cho rằng nó cần hoàn toàn nghỉ ngơi và thay đổi không khí. Phiền ông chuyển lời giải thích ấy tới bất cứ người bạn nào khác quan tâm tới chuyện này."

— "Dĩ nhiên rồi," tôi đáp. "Nhưng có lẽ ông vui lòng cho tôi biết tên con tàu và hãng tàu cậu ấy đi, cùng ngày khởi hành. Tôi chắc là mình sẽ gửi được thư tới cậu ấy."

— Lời đề nghị của tôi có vẻ vừa làm chủ nhà bối rối vừa làm ông ta bực mình. Đôi lông mày lớn sụp xuống che mắt, ngón tay ông ta gõ lên bàn sốt ruột. Cuối cùng ông ta ngẩng lên với vẻ mặt của người vừa thấy đối thủ đi một nước cờ nguy hiểm, và đã quyết định cách đối phó.

— "Ông Đốt," ông ta nói, "nhiều người sẽ phật ý trước sự dai dẳng quỷ quái của ông, và cho rằng sự khăng khăng ấy đã tới mức xấc xược đáng nguyền rủa."

— "Xin ông hiểu cho đó là vì tôi thật lòng quý con trai ông."

— "Đúng thế. Tôi đã rộng lượng hết mức vì lẽ ấy rồi. Tuy vậy, tôi phải xin ông thôi dò hỏi. Gia đình nào cũng có những điều hiểu biết riêng và những động cơ riêng, không phải lúc nào cũng có thể giải thích rõ cho người ngoài, dù họ có ý tốt tới đâu. Vợ tôi rất muốn nghe đôi điều về quá khứ của Gốt-phri mà ông có thể kể, nhưng tôi xin ông để yên hiện tại và tương lai. Những cuộc dò hỏi như thế chẳng có ích gì, thưa ông, và đặt chúng tôi vào một tình thế tế nhị và khó xử."

— Thế là tôi lâm vào ngõ cụt, ông Hôm ạ. Không có cách nào vượt qua. Tôi chỉ có thể vờ chấp nhận tình hình, và thầm thề với mình rằng sẽ không bao giờ yên chừng nào số phận của bạn tôi chưa được làm sáng tỏ. Đó là một buổi tối buồn tẻ. Ba chúng tôi lặng lẽ ăn tối trong một căn phòng cũ kỹ, u ám, phai màu. Bà chủ háo hức hỏi tôi về con trai, nhưng ông già có vẻ cau có, chán nản. Tôi chán ngấy cả buổi tới mức ngay khi lịch sự cho phép, tôi viện cớ về phòng ngủ. Đó là một căn phòng rộng, trống trải ở tầng trệt, ảm đạm như phần còn lại của ngôi nhà, nhưng sau một năm ngủ trên thảo nguyên, ông Hôm ạ, người ta chẳng kén chọn chỗ ở lắm. Tôi mở rèm nhìn ra vườn, thấy đó là một đêm đẹp, nửa vầng trăng sáng. Rồi tôi ngồi xuống bên lò sưởi đang cháy rực, ngọn đèn trên chiếc bàn bên cạnh, cố tìm cách khuây khoả bằng một cuốn tiểu thuyết. Tuy vậy, tôi bị ông Ran-phơ, người quản gia già, cắt ngang khi ông mang thêm than vào.

— "Tôi nghĩ đêm nay ông có thể thiếu than, thưa ông. Trời rét buốt, mà mấy phòng này lạnh lắm."

— Ông ngập ngừng trước khi ra khỏi phòng, và khi tôi quay lại thì thấy ông đứng nhìn tôi, gương mặt nhăn nheo lộ vẻ buồn rầu khắc khoải.

— "Xin lỗi ông, nhưng tôi không thể không nghe những điều ông nói về cậu Gốt-phri lúc ăn tối. Ông biết đấy, thưa ông, vợ tôi đã nuôi cậu ấy, nên có thể nói tôi là cha nuôi của cậu. Chúng tôi quan tâm cũng là lẽ tự nhiên. Ông bảo cậu ấy cư xử rất can đảm phải không, thưa ông?"

— "Cả trung đoàn không có ai gan dạ hơn. Có lần cậu ấy đã kéo tôi ra khỏi làn đạn của người Bô-ơ, không thì có lẽ giờ tôi chẳng còn ngồi đây."

— Ông quản gia già xoa đôi bàn tay gầy guộc.

— "Vâng, thưa ông, vâng, đúng là cậu Gốt-phri. Cậu ấy lúc nào cũng gan dạ. Trong công viên không có cái cây nào cậu chưa trèo, thưa ông. Không gì ngăn được cậu. Cậu là một cậu bé tuyệt vời, và ôi, thưa ông, cậu đã là một người đàn ông tuyệt vời."

— Tôi bật dậy.

— "Này!" tôi kêu lên. "Ông nói cậu ấy đã là. Ông nói như thể cậu ấy chết rồi. Bí ẩn này là thế nào? Gốt-phri Em-xuốt ra sao rồi?"

— Tôi nắm vai ông già, nhưng ông co rúm lại.

— "Tôi không hiểu ông muốn nói gì, thưa ông. Ông hãy hỏi ông chủ về cậu Gốt-phri. Ông chủ biết. Tôi không có quyền xen vào."

— Ông định ra khỏi phòng, nhưng tôi giữ tay ông lại.

— "Nghe này," tôi nói. "Ông phải trả lời một câu trước khi đi, dù tôi phải giữ ông cả đêm. Gốt-phri chết rồi phải không?"

— Ông không dám nhìn vào mắt tôi. Ông như người bị thôi miên. Câu trả lời bị lôi ra khỏi môi ông. Đó là một câu trả lời khủng khiếp và bất ngờ.

— "Lạy Chúa, ước gì cậu ấy đã chết!" ông kêu lên, rồi giằng ra, chạy vụt khỏi phòng.

— Ông có thể nghĩ, ông Hôm ạ, tôi quay về ghế với một tâm trạng chẳng vui vẻ gì. Lời ông già với tôi dường như chỉ có một cách hiểu. Rõ ràng người bạn tội nghiệp của tôi đã dính vào một chuyện phạm tội nào đó, hay ít ra là một chuyện ô nhục, đụng chạm tới danh dự gia đình. Ông già nghiêm khắc kia đã đẩy con trai đi xa và giấu cậu khỏi thiên hạ, sợ một vụ tai tiếng nào đó bị phơi ra. Gốt-phri là chàng trai liều lĩnh. Cậu dễ bị những người xung quanh ảnh hưởng. Chắc chắn cậu đã rơi vào tay kẻ xấu và bị dẫn dắt tới chỗ hư hỏng. Nếu đúng là thế thì thật đáng thương, nhưng ngay cả lúc ấy, bổn phận của tôi vẫn là tìm ra cậu và xem có giúp gì được không. Tôi đang băn khoăn suy nghĩ thì ngẩng lên, và Gốt-phri Em-xuốt đang đứng trước mặt tôi.

Thân chủ của tôi ngừng lại như người đang xúc động sâu sắc.

— Xin ông kể tiếp, — tôi nói. — Bài toán của ông có vài điểm rất khác thường.

— Cậu ấy ở ngoài cửa sổ, ông Hôm ạ, mặt áp vào kính. Tôi đã kể là tôi nhìn ra ngoài trời đêm. Khi làm thế, tôi để rèm mở hé. Bóng người cậu đóng khung trong khe hở ấy. Cửa sổ dài tới tận sàn nên tôi thấy được cả người cậu, nhưng chính gương mặt cậu mới giữ chặt ánh mắt tôi. Cậu trắng bệch như người chết, chưa bao giờ tôi thấy ai trắng tới thế. Tôi đoán ma quỷ có lẽ trông như vậy, nhưng mắt cậu gặp mắt tôi, và đó là đôi mắt của người sống. Thấy tôi đang nhìn, cậu nhảy lùi lại và biến vào bóng tối.

— Ở con người ấy có cái gì đó làm người ta bàng hoàng, ông Hôm ạ. Không chỉ là gương mặt ghê rợn trắng như pho mát lấp loáng trong bóng tối. Mà là cái gì đó tinh vi hơn, lén lút, vụng trộm, có lỗi, cái gì đó rất khác với chàng trai thẳng thắn, đàng hoàng tôi từng biết. Nó để lại trong tâm trí tôi một cảm giác kinh hoàng.

— Nhưng khi một người đã đi lính một hai năm, chơi với người Bô-ơ như với anh em, anh ta giữ được bình tĩnh và hành động nhanh. Gốt-phri vừa biến mất là tôi đã ở bên cửa sổ. Cái chốt cửa khó mở, tôi mất một lúc mới đẩy lên được. Rồi tôi chui ra, chạy xuống lối đi trong vườn theo hướng tôi đoán cậu đã đi.

— Đó là một lối đi dài, ánh sáng không tốt lắm, nhưng tôi có cảm giác có cái gì đó đang di chuyển phía trước. Tôi chạy tiếp và gọi tên cậu, nhưng vô ích. Tới cuối lối đi thì có mấy lối khác rẽ ra nhiều hướng tới những gian nhà phụ. Tôi đứng ngập ngừng, và lúc ấy tôi nghe rõ tiếng một cánh cửa đóng lại. Không phải ở phía sau tôi trong ngôi nhà, mà ở phía trước, đâu đó trong bóng tối. Chừng ấy đủ để tôi tin chắc những gì mình thấy không phải ảo ảnh, ông Hôm ạ. Gốt-phri đã chạy trốn tôi và đóng một cánh cửa lại sau lưng. Tôi chắc chắn điều đó.

— Tôi chẳng làm được gì hơn, và tôi qua một đêm bồn chồn lật đi lật lại chuyện ấy trong đầu, cố tìm một giả thuyết nào khớp với các sự việc. Hôm sau tôi thấy ông đại tá có vẻ dịu hơn, và nhân bà vợ nhắc tới vài nơi đáng xem trong vùng, tôi có dịp hỏi xem ở lại thêm một đêm có làm phiền họ không. Ông già miễn cưỡng ưng thuận, cho tôi trọn một ngày để quan sát. Tôi đã hoàn toàn tin chắc Gốt-phri đang trốn ở đâu đó gần đây, nhưng ở đâu và tại sao thì còn phải giải đáp.

— Ngôi nhà rộng và lan man tới mức có thể giấu cả một trung đoàn mà chẳng ai hay. Nếu bí mật nằm ở đó thì tôi khó mà thâm nhập. Nhưng cánh cửa tôi nghe đóng lại chắc chắn không ở trong nhà. Tôi phải sục sạo khu vườn xem tìm được gì. Chẳng có gì cản trở, vì hai ông bà già bận việc riêng theo cách của họ và để mặc tôi tự xoay xở.

— Có mấy gian nhà phụ nhỏ, nhưng ở cuối vườn có một toà nhà riêng khá lớn, đủ rộng làm nhà ở cho người làm vườn hay người giữ rừng. Liệu đó có phải nơi phát ra tiếng cửa đóng không? Tôi tới gần nó với vẻ thờ ơ, như đang thả bộ vô định quanh khu đất. Đúng lúc ấy, một người đàn ông nhỏ người, nhanh nhẹn, để râu, mặc áo khoác đen, đội mũ quả dưa, chẳng có chút gì giống người làm vườn, bước ra khỏi cửa. Tôi ngạc nhiên thấy ông ta khoá cửa lại sau lưng và bỏ chìa khoá vào túi. Rồi ông ta nhìn tôi, mặt có vẻ ngạc nhiên.

— "Ông là khách ở đây à?" ông ta hỏi.

— Tôi giải thích là đúng, và tôi là bạn của Gốt-phri.

— "Tiếc thật là cậu ấy đang đi du lịch xa, vì hẳn cậu ấy rất muốn gặp tôi," tôi nói tiếp.

— "Đúng thế. Chính xác," ông ta nói, với vẻ có phần lấm lét. "Chắc chắn ông sẽ ghé lại vào dịp nào thuận lợi hơn."

— Ông ta đi tiếp, nhưng khi tôi quay lại thì thấy ông ta đang đứng nhìn tôi, nửa khuất sau những bụi nguyệt quế ở cuối vườn.

— Đi ngang qua, tôi nhìn kỹ ngôi nhà nhỏ, nhưng cửa sổ buông rèm dày, và theo những gì có thể thấy thì nó trống không. Nếu quá liều lĩnh, tôi có thể làm hỏng việc của chính mình, thậm chí bị đuổi khỏi khu nhà, vì tôi vẫn cảm thấy mình đang bị theo dõi. Vì vậy tôi thong thả quay về nhà chính, chờ tới đêm mới tiếp tục dò xét. Khi mọi thứ đã tối và yên tĩnh, tôi lẻn ra qua cửa sổ phòng mình, và hết sức lặng lẽ tới căn nhà bí ẩn.

— Tôi đã nói cửa sổ buông rèm dày, nhưng giờ tôi thấy chúng còn đóng cả cửa chớp. Tuy vậy, có chút ánh sáng lọt qua một cửa sổ, nên tôi dồn chú ý vào đó. Tôi gặp may, vì rèm chưa kéo kín hẳn, và cửa chớp có một khe nứt, nên tôi nhìn được vào trong phòng. Đó là một chỗ khá ấm cúng, đèn sáng và lò sưởi cháy rực. Đối diện tôi là người đàn ông nhỏ người tôi đã gặp buổi sáng. Ông ta đang hút tẩu và đọc báo.

— Báo gì? — tôi hỏi.

Thân chủ của tôi có vẻ bực vì bị ngắt lời.

— Chuyện ấy có quan trọng gì? — ông hỏi.

— Cực kỳ cốt yếu.

— Thật tình tôi chẳng để ý.

— Có lẽ ông để ý được đó là tờ báo khổ rộng, hay loại khổ nhỏ hơn người ta thường gắn với các tuần báo.

— Giờ ông nhắc thì tôi nhớ là nó không lớn. Có thể là tuần báo Người Quan Sát. Tuy vậy, tôi chẳng còn tâm trí đâu cho những chi tiết ấy, vì có một người thứ hai ngồi quay lưng ra cửa sổ, và tôi dám thề người thứ hai ấy là Gốt-phri. Tôi không nhìn thấy mặt, nhưng tôi biết dáng vai xuôi quen thuộc. Cậu ngồi chống khuỷu tay với vẻ u sầu nặng nề, người quay về phía lò sưởi. Tôi đang phân vân không biết nên làm gì thì có ai vỗ mạnh vào vai, và đại tá Em-xuốt đang đứng bên cạnh tôi.

— "Lối này, thưa ông!" ông ta nói khẽ.

— Ông ta lặng lẽ đi về nhà chính, và tôi theo ông ta vào phòng ngủ của mình. Ông ta đã cầm theo một tờ lịch tàu ở hành lang.

— "Có chuyến tàu đi Luân Đôn lúc tám giờ rưỡi," ông ta nói. "Tám giờ xe ngựa sẽ có mặt ở cửa."

— Ông ta trắng bệch vì giận dữ, còn tôi thật tình cảm thấy mình ở vào một tình thế khó xử tới mức chỉ có thể lắp bắp vài lời xin lỗi rời rạc, cố bào chữa bằng nỗi lo cho bạn mình.

— "Chuyện này không cần bàn nữa," ông ta nói cộc lốc. "Ông đã xâm phạm đời tư gia đình chúng tôi một cách đáng nguyền rủa nhất. Ông tới đây với tư cách khách, và ông đã thành kẻ do thám. Tôi không còn gì để nói, thưa ông, ngoài việc tôi không bao giờ muốn gặp lại ông nữa."

— Tới đó thì tôi mất bình tĩnh, ông Hôm ạ, và tôi nói khá gay gắt.

— "Tôi đã thấy con trai ông, và tôi tin chắc vì một lý do riêng nào đó, ông đang giấu cậu ấy khỏi thiên hạ. Tôi không biết động cơ nào khiến ông cách ly cậu ấy như thế, nhưng tôi chắc chắn cậu ấy không còn được tự do. Tôi cảnh báo ông, đại tá Em-xuốt, chừng nào chưa yên tâm về sự an toàn và mạnh khoẻ của bạn tôi, tôi sẽ không bao giờ ngừng nỗ lực tìm hiểu tới tận cùng bí ẩn này, và chắc chắn tôi sẽ không để mình bị doạ dẫm bởi bất cứ điều gì ông nói hay làm."

— Ông già trông như quỷ dữ, và thật tình tôi tưởng ông ta sắp xông vào tôi. Tôi đã nói ông ta là một ông khổng lồ già gầy gò, dữ tợn, và dù tôi chẳng yếu đuối gì, có lẽ tôi cũng khó mà chống đỡ nổi. Tuy vậy, sau một hồi trừng mắt giận dữ, ông ta quay gót bỏ ra khỏi phòng. Về phần tôi, sáng hôm sau tôi đi chuyến tàu đã định, với ý định trọn vẹn là tới thẳng chỗ ông xin lời khuyên và sự giúp đỡ, theo cuộc hẹn tôi đã viết thư xin trước.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơ-lốc Hôm: Người lính trắng bệch

  1. 1Gương mặt sau ô cửa kính23 phút
  2. 2Một chữ viết trên mẩu giấyĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảArthur Conan Doyle (1859 – 1930)
Năm mất1930
Xuất bản lần đầu1926
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Adventure of the Blanched Soldier, trong tập The Case-Book of Sherlock Holmes, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →