Chương 1: Cỗ xe dán kín cửa
Trong suốt thời gian dài quen biết thân thiết với ông Sơ-lốc Hôm, tôi chưa bao giờ nghe anh nhắc tới họ hàng, và hầu như chưa bao giờ nghe anh nói về thời thơ ấu của mình. Sự kín tiếng ấy càng làm tăng cái ấn tượng có phần thiếu tính người mà anh gây ra cho tôi, tới mức có lúc tôi thấy mình coi anh như một hiện tượng đơn độc, một bộ óc không có trái tim, thiếu tình cảm con người bao nhiêu thì xuất chúng về trí tuệ bấy nhiêu. Sự xa lánh đàn bà và việc không muốn kết bạn mới đều tiêu biểu cho tính cách không cảm xúc của anh, nhưng cũng chẳng rõ bằng việc anh hoàn toàn không bao giờ nhắc tới người nhà mình. Tôi đã tin rằng anh là một đứa trẻ mồ côi, chẳng còn người thân nào trên đời. Thế nhưng một hôm, trước sự ngạc nhiên rất lớn của tôi, anh bắt đầu nói với tôi về người anh của mình.
Đó là sau bữa trà một buổi chiều hè. Câu chuyện của chúng tôi lan man, nhảy cóc từ gậy đánh gôn tới nguyên nhân thay đổi độ nghiêng của hoàng đạo, cuối cùng quay sang vấn đề lại giống và năng khiếu di truyền. Điểm đang bàn là một tài năng đặc biệt ở một người nào đó do tổ tiên để lại tới mức nào, và do sự rèn luyện từ thuở nhỏ của chính người ấy tới mức nào.
— Trong trường hợp của anh, tôi nói, qua mọi điều anh đã kể với tôi, có vẻ hiển nhiên là khả năng quan sát và tài suy luận đặc biệt của anh là nhờ chính anh rèn luyện có hệ thống.
— Ở một mức độ nào đó, anh trầm ngâm đáp. Tổ tiên tôi là những điền chủ ở nông thôn, có vẻ đã sống cuộc đời bình thường như mọi người cùng tầng lớp. Nhưng dù vậy, cái thiên hướng ấy nằm trong máu tôi, và có lẽ đến từ bà nội tôi, em gái của Véc-nê, hoạ sĩ người Pháp. Nghệ thuật trong máu dễ biểu hiện ra bằng những hình thức kỳ lạ nhất.
— Nhưng sao anh biết đó là di truyền?
— Vì anh tôi, Mai-crốp, có nó ở mức cao hơn tôi.
Đây quả là chuyện mới với tôi. Nếu ở nước Anh còn một người nữa có tài năng phi thường như thế, sao cả cảnh sát lẫn công chúng đều chưa từng nghe nói tới? Tôi đặt câu hỏi ấy, kèm ý ngầm rằng chính sự khiêm tốn của bạn tôi khiến anh nhận anh trai giỏi hơn mình. Hôm bật cười trước gợi ý của tôi.
— Oát-xơn thân mến, anh nói, tôi không đồng ý với những người xếp khiêm tốn vào hàng đức tính. Với nhà lô-gích học, mọi sự vật phải được nhìn đúng như chúng là. Tự đánh giá thấp mình cũng xa rời sự thật chẳng kém gì phóng đại năng lực của mình. Vì vậy khi tôi nói Mai-crốp có khả năng quan sát giỏi hơn tôi, anh có thể coi như tôi đang nói sự thật chính xác theo nghĩa đen.
— Anh ấy kém tuổi anh à?
— Hơn tôi bảy tuổi.
— Sao lại chẳng ai biết tới anh ấy?
— Ồ, trong giới của anh ấy thì ai cũng biết.
— Vậy là ở đâu?
— À, chẳng hạn ở câu lạc bộ Đi-ô-giên.
Tôi chưa bao giờ nghe nói tới cơ sở ấy, và hẳn mặt tôi đã để lộ ra điều đó, vì Sơ-lốc Hôm rút đồng hồ ra.
— Câu lạc bộ Đi-ô-giên là câu lạc bộ kỳ quặc nhất Luân Đôn, còn Mai-crốp là một trong những con người kỳ quặc nhất. Anh ấy bao giờ cũng ở đó từ năm giờ kém mười lăm tới tám giờ kém hai mươi. Giờ là sáu giờ, vậy nếu anh muốn đi dạo trong buổi chiều đẹp trời này, tôi rất vui được giới thiệu với anh hai thứ kỳ lạ.
Năm phút sau chúng tôi đã ở ngoài phố, đi về phía quảng trường Ri-giân.
— Anh thắc mắc, bạn tôi nói, tại sao Mai-crốp không dùng tài năng của mình vào việc thám tử. Anh ấy không làm nổi.
— Nhưng tôi tưởng anh nói...
— Tôi nói anh ấy giỏi hơn tôi về quan sát và suy luận. Nếu nghệ thuật thám tử chỉ bắt đầu và kết thúc bằng việc ngồi trên ghế bành mà suy luận, thì anh tôi sẽ là nhà điều tra tội phạm vĩ đại nhất từng sống. Nhưng anh ấy chẳng có tham vọng, cũng chẳng có sức hăng hái. Anh ấy thậm chí còn không chịu nhích chân để kiểm chứng lời giải của chính mình, và thà bị cho là sai còn hơn chịu khó chứng minh mình đúng. Hết lần này tới lần khác tôi mang một bài toán tới cho anh ấy, và nhận được một lời giải thích mà về sau hoá ra là đúng. Thế nhưng anh ấy hoàn toàn không đủ sức xử lý những điểm thực tế phải làm rõ trước khi đưa một vụ án ra trước quan toà hay bồi thẩm đoàn.
— Vậy đó không phải nghề của anh ấy?
— Hoàn toàn không. Cái mà với tôi là kế sinh nhai, thì với anh ấy chỉ là thú tiêu khiển của một kẻ chơi tài tử. Anh ấy có biệt tài phi thường về con số, và làm công việc kiểm toán sổ sách cho một số bộ trong chính phủ. Mai-crốp ở trọ trên phố Pôn Mon, sáng nào cũng đi bộ vòng qua góc phố tới khu Oai-hôn, chiều lại đi về. Quanh năm suốt tháng anh ấy chẳng vận động gì khác, cũng chẳng thấy xuất hiện ở đâu khác, ngoài câu lạc bộ Đi-ô-giên ngay đối diện căn hộ của anh ấy.
— Tôi không nhớ có cái tên ấy.
— Có lẽ là không. Anh biết đấy, ở Luân Đôn có nhiều người, kẻ vì nhút nhát, kẻ vì ghét người, chẳng muốn bầu bạn với đồng loại. Nhưng họ vẫn không chê những chiếc ghế êm và những tờ báo mới nhất. Câu lạc bộ Đi-ô-giên được lập ra để phục vụ những người ấy, và giờ nó quy tụ những kẻ khó gần và ít ưa giao du nhất thành phố. Không hội viên nào được phép để ý dù chỉ chút xíu tới bất kỳ hội viên nào khác. Trừ Phòng Tiếp Khách, tuyệt đối không được nói chuyện trong bất cứ hoàn cảnh nào, và phạm ba lần, nếu ban quản trị biết được, thì kẻ nói chuyện có thể bị khai trừ. Anh tôi là một trong những người sáng lập, và chính tôi cũng thấy không khí ở đó rất dễ chịu.
Vừa nói chuyện, chúng tôi đã tới phố Pôn Mon, đi xuống từ đầu phố phía Xanh Giêm. Sơ-lốc Hôm dừng lại trước một cánh cửa cách câu lạc bộ Các-tơn một quãng ngắn, dặn tôi đừng nói gì, rồi dẫn tôi vào tiền sảnh. Qua những ô kính, tôi thoáng thấy một căn phòng lớn sang trọng, trong đó khá nhiều người đang ngồi đọc báo, mỗi người một góc nhỏ riêng. Hôm đưa tôi vào một phòng nhỏ nhìn ra phố Pôn Mon, để tôi lại một phút, rồi quay lại cùng một người mà tôi biết chỉ có thể là anh trai anh.
Mai-crốp Hôm to lớn, mập mạp hơn Sơ-lốc nhiều. Thân hình ông hoàn toàn béo phục phịch, nhưng khuôn mặt, dù to bè, vẫn giữ được phần nào vẻ sắc sảo vốn rất nổi bật ở người em. Đôi mắt ông, màu xám nhạt như nước một cách lạ lùng, dường như lúc nào cũng giữ cái nhìn xa xăm, hướng vào trong, mà tôi chỉ thấy ở mắt Sơ-lốc những khi anh dồn hết năng lực.
— Rất vui được gặp ông, ông nói, chìa ra một bàn tay to bè, múp míp như vây con hải cẩu. Từ khi ông làm người chép sử cho Sơ-lốc, đi đâu tôi cũng nghe nói về nó. À này, Sơ-lốc, tuần trước anh tưởng chú sẽ ghé qua hỏi ý kiến anh về vụ trang viên ấy. Anh nghĩ có khi vụ ấy hơi quá sức chú.
— Không, em giải được rồi, bạn tôi mỉm cười đáp.
— Dĩ nhiên là A-đam.
— Vâng, là A-đam.
— Anh đã chắc thế ngay từ đầu.
Hai người cùng ngồi xuống bên cửa sổ lồi của câu lạc bộ.
— Ai muốn nghiên cứu loài người thì đây là chỗ lý tưởng, Mai-crốp nói. Hãy nhìn những mẫu người tuyệt vời kia! Chẳng hạn, nhìn hai người đang đi về phía chúng ta kia.
— Anh ghi điểm bi-a và người kia?
— Đúng thế. Chú thấy người kia thế nào?
Hai người đàn ông đã dừng lại đối diện cửa sổ. Vài vết phấn phía trên túi gi-lê là dấu hiệu duy nhất về bi-a mà tôi thấy ở một người. Người kia rất nhỏ con, nước da ngăm, mũ đẩy ra sau gáy, dưới nách kẹp mấy gói đồ.
— Một cựu binh, em thấy thế, Sơ-lốc nói.
— Và mới giải ngũ gần đây thôi, người anh nhận xét.
— Từng phục vụ ở Ấn Độ, em thấy thế.
— Và là hạ sĩ quan.
— Pháo binh hoàng gia, em đoán thế, Sơ-lốc nói.
— Và goá vợ.
— Nhưng có một đứa con.
— Nhiều đứa con, chú em ạ, nhiều đứa con.
— Thôi nào, tôi cười nói, thế này thì hơi quá đáng.
— Chắc chắn, Hôm đáp, chẳng khó gì để nói rằng một người có dáng điệu ấy, vẻ mặt quen ra lệnh ấy, nước da sạm nắng ấy, là một người lính, cao hơn lính trơn, và mới từ Ấn Độ về không lâu.
— Việc anh ta chưa rời quân ngũ lâu thể hiện ở chỗ anh ta vẫn đi đôi ủng nhà binh, như người ta vẫn gọi, Mai-crốp nhận xét.
— Anh ta không có dáng sải bước của kỵ binh, nhưng lại đội mũ lệch một bên, điều này thấy rõ ở chỗ da trán bên ấy trắng hơn. Vóc nặng nề của anh ta không hợp với công binh. Anh ta ở pháo binh.
— Rồi dĩ nhiên bộ đồ tang toàn thân cho thấy anh ta vừa mất một người rất thân. Việc anh ta tự đi mua sắm có vẻ cho thấy người mất là vợ anh ta. Chú thấy đấy, anh ta đang mua đồ cho trẻ con. Có một cái lúc lắc, cho thấy một đứa còn rất nhỏ. Có lẽ người vợ chết khi sinh nở. Việc anh ta kẹp dưới nách một cuốn sách tranh cho thấy còn một đứa nữa phải lo.
Tôi bắt đầu hiểu bạn tôi muốn nói gì khi anh bảo anh mình còn có những năng lực sắc bén hơn cả anh. Anh liếc sang tôi mỉm cười. Mai-crốp lấy thuốc hít từ một chiếc hộp bằng mai rùa, rồi phủi những hạt thuốc vương trên vạt áo bằng một chiếc khăn tay lụa đỏ to tướng.
— À này, Sơ-lốc, ông nói, anh vừa được người ta nhờ phán đoán một chuyện rất hợp ý chú, một bài toán hết sức lạ lùng. Anh thật sự không đủ sức theo đuổi nó, trừ một cách rất dở dang, nhưng nó cũng cho anh cơ sở để suy đoán vài điều thú vị. Nếu chú muốn nghe sự việc thì...
— Anh Mai-crốp thân mến, em rất sẵn lòng.
Người anh viết nguệch ngoạc vài chữ lên một trang sổ tay, bấm chuông, đưa nó cho người phục vụ.
— Anh đã nhờ ông Mê-lát sang đây, ông nói. Ông ấy ở tầng trên căn hộ của anh, và anh có quen biết sơ sơ với ông ấy, nên khi bối rối ông ấy đã tìm tới anh. Theo anh hiểu, ông Mê-lát gốc người Hy Lạp, và là một người thông thạo ngôn ngữ đáng nể. Ông ấy kiếm sống một phần bằng nghề thông ngôn ở toà án, một phần bằng việc làm người dẫn đường cho những vị khách phương Đông giàu có tới ở các khách sạn trên đại lộ Nóc-thăm-bơ-lân. Anh nghĩ anh sẽ để ông ấy tự kể câu chuyện hết sức lạ lùng của mình theo cách của ông ấy.
Mấy phút sau, có một người đàn ông thấp, mập tới ngồi cùng chúng tôi. Khuôn mặt màu ô liu và mái tóc đen nhánh như than cho thấy ông gốc người phương Nam, dù lời ăn tiếng nói của ông là của một người Anh có học. Ông bắt tay Sơ-lốc Hôm rất nồng nhiệt, đôi mắt đen sáng lên vì vui mừng khi biết nhà chuyên môn đang nóng lòng muốn nghe chuyện của mình.
— Tôi không tin là cảnh sát tin tôi, thề có trời đất, tôi không tin, ông nói, giọng than vãn. Chỉ vì họ chưa từng nghe chuyện như thế bao giờ, nên họ nghĩ chuyện như thế không thể có. Nhưng tôi biết tôi sẽ chẳng bao giờ yên lòng chừng nào chưa biết người đàn ông đáng thương có băng dính khắp mặt kia ra sao.
— Tôi đang chăm chú nghe đây, Sơ-lốc Hôm nói.
— Hôm nay là tối thứ tư, ông Mê-lát nói. Vậy thì mọi chuyện này xảy ra vào tối thứ hai, mới có hai ngày trước, các ông hiểu cho. Như có lẽ ông hàng xóm của tôi đây đã nói, tôi là người thông ngôn. Tôi thông ngôn mọi thứ tiếng, hay gần như mọi thứ tiếng. Nhưng vì tôi sinh ra là người Hy Lạp, lại mang tên Hy Lạp, nên người ta gắn tôi chủ yếu với thứ tiếng ấy. Nhiều năm nay tôi là người thông ngôn tiếng Hy Lạp hàng đầu ở Luân Đôn, và ở các khách sạn ai cũng biết tên tôi.
Chẳng hiếm khi người ta mời tôi vào những giờ giấc kỳ quặc, có khi là người nước ngoài gặp rắc rối, có khi là khách du lịch tới muộn cần tôi giúp. Vì thế tối thứ hai tôi chẳng ngạc nhiên khi một ông Lát-ti-mơ, một chàng trai ăn mặc rất sành điệu, lên phòng tôi, mời tôi đi cùng anh ta trên một chiếc xe đang chờ ngoài cửa. Anh ta bảo có một người bạn Hy Lạp tới gặp anh ta bàn chuyện làm ăn, mà người ấy lại chẳng nói được thứ tiếng nào ngoài tiếng mẹ đẻ, nên không thể thiếu người thông ngôn. Anh ta cho tôi hiểu rằng nhà anh ta ở cách đó một quãng, tận khu Ken-xinh-tơn, và anh ta có vẻ rất vội, xuống tới phố là hối hả đẩy tôi lên xe.
Tôi nói là lên xe, nhưng chẳng bao lâu tôi bắt đầu ngờ không biết thứ tôi đang ngồi có phải là một cỗ xe riêng không. Nó chắc chắn rộng rãi hơn những cỗ xe bốn bánh thường ngày làm xấu mặt Luân Đôn, đồ đạc bên trong tuy sờn cũ nhưng thuộc loại sang. Ông Lát-ti-mơ ngồi đối diện tôi, và chúng tôi chạy qua quảng trường Sa-rinh Crốt, ngược lên đại lộ Sáp-xbơ-ri. Chúng tôi đã ra tới phố Ốc-xphớt, và tôi vừa đánh bạo nhận xét rằng đi đường này tới Ken-xinh-tơn là đi vòng, thì lời tôi bị chặn đứng bởi hành vi kỳ lạ của người đồng hành.
Trước hết, anh ta rút trong túi ra một cây dùi cui đổ chì trông hết sức đáng sợ, vung qua vung lại mấy lần như để thử độ nặng và độ chắc của nó. Rồi chẳng nói một lời, anh ta đặt nó xuống ghế bên cạnh. Làm xong, anh ta kéo cửa kính hai bên lên, và tôi kinh ngạc thấy chúng đã được dán giấy kín để tôi không nhìn ra ngoài được.
"Tôi rất tiếc phải che mất tầm nhìn của ông, ông Mê-lát," anh ta nói. "Sự thật là tôi không muốn ông biết nơi chúng ta đang tới. Nếu ông có thể tìm lại đường tới đó thì có khi lại bất tiện cho tôi."
Như các ông có thể hình dung, tôi hoàn toàn sửng sốt trước những lời ấy. Người đồng hành của tôi là một thanh niên khoẻ mạnh, vai rộng, và chưa nói tới thứ vũ khí kia, nếu vật lộn với anh ta tôi cũng chẳng có lấy chút cơ hội nào.
"Hành vi của ông thật hết sức lạ lùng, ông Lát-ti-mơ," tôi lắp bắp. "Ông hẳn phải biết việc ông đang làm là hoàn toàn phạm pháp."
"Hẳn là có hơi tự tiện một chút," anh ta nói, "nhưng chúng tôi sẽ đền bù cho ông. Tuy vậy, tôi phải cảnh cáo ông, ông Mê-lát, rằng nếu đêm nay vào bất cứ lúc nào ông định kêu cứu hay làm gì trái với quyền lợi của tôi, ông sẽ thấy hậu quả rất nghiêm trọng. Xin ông nhớ rằng không ai biết ông đang ở đâu, và dù ông ở trong cỗ xe này hay trong nhà tôi, ông đều nằm trong tay tôi như nhau."
Anh ta nói nhỏ nhẹ, nhưng có cái giọng rít rít khi nói rất đáng sợ. Tôi ngồi im lặng, tự hỏi anh ta có lý do quái quỷ gì mà bắt cóc tôi theo cách lạ lùng thế này. Dù lý do là gì thì rõ ràng chống cự cũng chẳng ích gì, và tôi chỉ có thể chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra.
Gần hai tiếng chúng tôi đi xe mà tôi chẳng có chút manh mối nào về nơi mình đang tới. Lúc thì tiếng lạo xạo của đá cho biết đường lát đá, lúc thì xe chạy êm ru, lặng lẽ, gợi ra đường nhựa. Nhưng ngoài sự thay đổi âm thanh ấy, chẳng có gì giúp tôi đoán được, dù chỉ xa xôi, chúng tôi đang ở đâu. Giấy dán trên cửa kính không cho ánh sáng lọt qua, và một tấm rèm xanh kéo che ô kính phía trước. Lúc rời phố Pôn Mon là bảy giờ mười lăm, và đồng hồ tôi chỉ chín giờ kém mười khi xe cuối cùng dừng lại. Người đồng hành hạ cửa kính xuống, và tôi thoáng thấy một ô cửa vòm thấp có ngọn đèn cháy phía trên. Khi tôi bị hối hả kéo xuống xe thì cửa mở ra, và tôi thấy mình đã ở trong nhà, chỉ kịp có ấn tượng mơ hồ về bãi cỏ và cây cối ở hai bên lúc bước vào. Nhưng đó là vườn riêng hay đúng là vùng nông thôn thì tôi không dám nói.
Bên trong có một ngọn đèn khí có chụp màu, vặn nhỏ tới mức tôi chẳng thấy gì mấy, ngoài việc tiền sảnh khá rộng và treo nhiều tranh. Trong ánh sáng lờ mờ, tôi nhận ra người mở cửa là một gã trung niên nhỏ thó, trông bần tiện, vai còng. Khi hắn quay về phía chúng tôi, ánh đèn loé lên cho tôi thấy hắn đeo kính.
"Đây là ông Mê-lát à, Ha-rôn?" hắn hỏi.
"Phải."
"Giỏi lắm, giỏi lắm! Mong ông không để bụng, ông Mê-lát, nhưng không có ông thì chúng tôi chẳng xoay xở được. Nếu ông sòng phẳng với chúng tôi, ông sẽ không phải hối tiếc. Nhưng nếu ông giở trò gì thì Chúa phù hộ cho ông!"
Hắn nói giọng bồn chồn, giật cục, xen giữa là những tiếng cười khúc khích nho nhỏ, nhưng không hiểu sao hắn làm tôi sợ hơn gã kia.
"Các ông muốn gì ở tôi?" tôi hỏi.
"Chỉ muốn ông hỏi một vị khách người Hy Lạp đang ở chơi nhà chúng tôi vài câu, rồi cho chúng tôi biết câu trả lời. Nhưng không được nói gì hơn những gì người ta bảo ông nói, bằng không thì," tới đây lại vang lên tiếng cười khúc khích bồn chồn, "thà ông đừng sinh ra trên đời còn hơn."
Vừa nói hắn vừa mở một cánh cửa, dẫn vào một căn phòng có vẻ bày biện rất sang trọng, nhưng lại chỉ có ánh sáng của một ngọn đèn vặn nhỏ một nửa. Căn phòng chắc chắn rộng, và cái cách chân tôi lún xuống tấm thảm khi bước qua cho tôi biết nó đắt tiền tới mức nào. Tôi thoáng thấy những chiếc ghế bọc nhung, một mặt lò sưởi cao bằng đá cẩm thạch trắng, và một bên lò sưởi là thứ trông như một bộ áo giáp Nhật Bản. Có một chiếc ghế đặt ngay dưới ngọn đèn, và gã đứng tuổi ra hiệu cho tôi ngồi vào đó. Gã trẻ hơn đã đi ra, nhưng bỗng quay lại qua một cánh cửa khác, dẫn theo một quý ông mặc một thứ áo choàng ngủ rộng thùng thình, chậm chạp đi về phía chúng tôi. Khi ông ta bước vào vòng ánh sáng mờ, cho tôi thấy rõ hơn, tôi rùng mình kinh hãi trước dáng vẻ của ông. Ông xanh xao như xác chết, gầy rộc khủng khiếp, đôi mắt lồi ra sáng rực của một người mà tinh thần còn mạnh hơn sức lực. Nhưng điều làm tôi kinh hoàng hơn mọi dấu hiệu suy kiệt thể xác là khuôn mặt ông bị dán băng dính chằng chịt ngang dọc một cách quái dị, và một miếng băng to bịt kín miệng ông.
"Có tấm bảng đá chưa, Ha-rôn?" gã đứng tuổi kêu lên, khi con người kỳ lạ ấy gần như ngã chứ không phải ngồi xuống ghế. "Tay hắn cởi trói chưa? Nào, đưa bút chì cho hắn. Ông Mê-lát, ông hỏi, còn hắn sẽ viết câu trả lời. Trước hết hỏi hắn có chịu ký giấy tờ không?"
Mắt người đàn ông loé lửa.
"Không bao giờ!" ông viết bằng tiếng Hy Lạp lên tấm bảng.
"Dù với bất cứ điều kiện nào?" tôi hỏi, theo lệnh của kẻ bạo chúa.
"Chỉ khi tôi được tận mắt thấy cô ấy làm lễ cưới trước mặt tôi, do một linh mục Hy Lạp mà tôi quen cử hành."
Gã kia cười khúc khích một cách độc địa.
"Vậy mày biết cái gì đang chờ mày chứ?"
"Tôi chẳng màng gì tới bản thân."
Đó là vài mẫu những câu hỏi và câu trả lời trong cuộc trò chuyện kỳ lạ, nửa nói nửa viết của chúng tôi. Hết lần này tới lần khác tôi phải hỏi ông có chịu nhượng bộ mà ký giấy tờ không. Hết lần này tới lần khác tôi nhận được cùng một câu trả lời phẫn nộ. Nhưng rồi tôi nảy ra một ý hay. Tôi bắt đầu thêm vào mỗi câu hỏi một câu ngắn của riêng mình, thoạt đầu là những câu vô hại, để thử xem hai kẻ kia có hiểu chút gì không. Rồi khi thấy chúng chẳng tỏ dấu hiệu gì, tôi chơi một ván nguy hiểm hơn. Cuộc trò chuyện của chúng tôi đại loại như thế này. Mỗi câu tôi hỏi gồm một câu chúng bắt tôi hỏi, rồi một câu của riêng tôi. Mỗi câu ông đáp cũng gồm một câu trả lời cho chúng, rồi một câu trả lời cho tôi.
"Cứng đầu thế này chẳng được ích gì đâu. Ông là ai?"
"Tôi bất cần. Tôi là người lạ ở Luân Đôn."
"Số phận ông là do ông tự chuốc lấy. Ông ở đây bao lâu rồi?"
"Thì cứ thế. Ba tuần."
"Tài sản sẽ không bao giờ thuộc về ông. Ông bị làm sao?"
"Nó sẽ không lọt vào tay lũ vô lại. Chúng đang bỏ đói tôi."
"Ông ký thì sẽ được tự do. Đây là nhà nào?"
"Tôi sẽ không bao giờ ký. Tôi không biết."
"Ông chẳng giúp gì được cho cô ấy. Ông tên là gì?"
"Để tôi nghe chính cô ấy nói thế đã. Cra-ti-đét."
"Ông ký thì sẽ được gặp cô ấy. Ông từ đâu tới?"
"Vậy thì tôi sẽ không bao giờ gặp cô ấy. Từ A-ten."
Chỉ năm phút nữa thôi, thưa ông Hôm, là tôi đã moi được cả câu chuyện ngay trước mũi chúng. Câu hỏi tiếp theo của tôi có lẽ đã làm sáng tỏ mọi chuyện, nhưng đúng lúc ấy cửa mở, và một người đàn bà bước vào phòng. Tôi không nhìn rõ được bà, chỉ biết bà cao, duyên dáng, tóc đen, mặc một thứ áo choàng trắng rộng.
"Ha-rôn," bà nói, tiếng Anh lơ lớ. "Em không ở trên ấy lâu hơn được nữa. Trên ấy cô quạnh quá, chỉ có... Ôi Chúa ơi, anh Pôn!"
Mấy chữ sau cùng bà nói bằng tiếng Hy Lạp. Cùng lúc ấy, người đàn ông gắng sức một cách co giật, giật phăng miếng băng khỏi môi, gào lên: "Xô-phi! Xô-phi!" rồi lao vào vòng tay người đàn bà. Nhưng họ chỉ ôm nhau được một khoảnh khắc, vì gã trẻ tuổi đã túm lấy người đàn bà đẩy ra khỏi phòng, còn gã đứng tuổi dễ dàng khống chế nạn nhân gầy rộc của mình, lôi ông đi qua cánh cửa kia. Trong một lúc tôi bị bỏ lại một mình trong phòng, và tôi đứng bật dậy, với ý nghĩ mơ hồ rằng biết đâu có thể tìm được chút manh mối nào về ngôi nhà mình đang ở. Nhưng may thay tôi chưa kịp bước đi, vì ngước lên, tôi thấy gã đứng tuổi đang đứng ở ngưỡng cửa, mắt nhìn chằm chằm vào tôi.
"Thế là đủ rồi, ông Mê-lát," hắn nói. "Ông thấy đấy, chúng tôi đã tin cậy để ông biết một chuyện rất riêng tư. Lẽ ra chúng tôi đã không làm phiền ông, nhưng người bạn biết tiếng Hy Lạp, người bắt đầu cuộc thương lượng này, đã buộc phải quay về phương Đông. Chúng tôi rất cần tìm người thay chỗ anh ta, và thật may là nghe nói tới tài của ông."
Tôi cúi chào.
"Đây có năm đồng vàng," hắn nói, đi tới chỗ tôi, "tôi hy vọng thế là đủ công. Nhưng nhớ đấy," hắn nói thêm, vỗ nhẹ vào ngực tôi và cười khúc khích, "nếu ông hé răng với một linh hồn nào về chuyện này, chỉ một linh hồn thôi, nhớ đấy, thì cầu Chúa thương xót linh hồn ông!"
Tôi không thể tả với các ông con người trông tầm thường ấy làm tôi ghê tởm và kinh hãi tới mức nào. Giờ tôi nhìn hắn rõ hơn khi ánh đèn chiếu vào. Nét mặt hắn hốc hác, vàng vọt, chòm râu nhọn nhỏ lơ thơ, còi cọc. Khi nói hắn chìa mặt ra phía trước, môi và mí mắt cứ giật giật liên hồi như người mắc chứng múa giật. Tôi không khỏi nghĩ tiếng cười khúc khích kỳ quặc, đứt quãng của hắn cũng là triệu chứng của một bệnh thần kinh nào đó. Nhưng nỗi khủng khiếp trên khuôn mặt hắn nằm ở đôi mắt, màu xám thép, lạnh lùng lấp lánh, sâu thẳm trong đó là một sự tàn ác hiểm độc, không lay chuyển.
"Ông mà nói chuyện này ra là chúng tôi biết ngay," hắn nói. "Chúng tôi có cách nắm tin riêng. Giờ ông sẽ thấy xe đang chờ, và bạn tôi sẽ đưa ông đi."
Tôi bị hối hả đưa qua tiền sảnh lên xe, lại thoáng thấy cây cối và khu vườn. Ông Lát-ti-mơ theo sát gót tôi, ngồi xuống đối diện, chẳng nói một lời. Chúng tôi lại im lặng đi một quãng đường dài dằng dặc, cửa kính kéo kín, cho tới khi cuối cùng, ngay sau nửa đêm, xe dừng lại.
"Ông xuống đây, ông Mê-lát," người đồng hành của tôi nói. "Tôi rất tiếc phải để ông lại xa nhà như thế này, nhưng không còn cách nào khác. Nếu ông định đuổi theo xe thì chỉ có hại cho ông thôi."
Anh ta vừa nói vừa mở cửa, và tôi vừa kịp nhảy xuống thì người đánh xe đã quất ngựa, chiếc xe lọc cọc chạy đi. Tôi sửng sốt nhìn quanh. Tôi đang đứng trên một bãi đất hoang mọc đầy thạch thảo, lốm đốm những bụi kim tước đen sẫm. Xa xa là một dãy nhà, thấp thoáng ánh đèn ở cửa sổ tầng trên. Phía bên kia, tôi thấy những ngọn đèn tín hiệu màu đỏ của một tuyến đường sắt.
Chiếc xe chở tôi tới đã khuất dạng. Tôi đang đứng nhìn quanh, tự hỏi mình đang ở chốn quỷ quái nào, thì thấy có người đi về phía tôi trong bóng tối. Khi người ấy tới gần, tôi nhận ra đó là một nhân viên khuân vác đường sắt.
"Anh có thể cho tôi biết đây là đâu không?" tôi hỏi.
"Bãi cỏ Oan-xơ-uớt," anh ta đáp.
"Tôi có thể bắt tàu vào thành phố không?"
"Ông đi bộ thêm chừng một dặm tới ga Cla-pham," anh ta nói, "thì vừa kịp chuyến cuối về ga Vích-to-ri-a."
Cuộc phiêu lưu của tôi kết thúc như thế đấy, thưa ông Hôm. Tôi không biết mình đã ở đâu, không biết mình đã nói chuyện với ai, chẳng biết gì ngoài những điều tôi vừa kể. Nhưng tôi biết đang có chuyện mờ ám, và tôi muốn giúp con người bất hạnh kia nếu có thể. Sáng hôm sau tôi đã kể hết câu chuyện với ông Mai-crốp Hôm, và sau đó với cảnh sát.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám