Truyện Đỉnh

🔍 Truyện trinh thám

Góc thư trong tay người chết

Sơ-lốc Hôm: Những điền chủ làng Rai-gết · Chương 1/2 · của Arthur Conan Doyle

⏱ 19 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 19.684 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Phải một thời gian khá lâu, sức khoẻ của…
  2. 3:49Anh tới đây để nghỉ ngơi, anh bạn thân…
  3. 5:55Tôi đoán là một tay hành nghề ngay trong…
  4. 8:40Bà cụ già lắm và lãng tai, chúng tôi…
  5. 11:10Tôi nghĩ anh không cần lo đâu, tôi nói.…
  6. 13:00Nó đã bị giật khỏi tay người chết. Tại…
  7. 16:09Chà, tôi thấy rất có thể anh chàng Uy-li-am…
  8. 18:22Tôi thấy đau lòng vì sai sót ấy, vì…

Chương 1: Góc thư trong tay người chết

Phải một thời gian khá lâu, sức khoẻ của bạn tôi, Sơ-lốc Hôm, mới hồi phục sau những nỗ lực khủng khiếp của anh hồi mùa xuân năm tám mươi bảy. Toàn bộ vụ Công ty Hà Lan – Xu-ma-tra và những mưu đồ khổng lồ của nam tước Mô-pẹc-tuy còn quá mới mẻ trong trí nhớ công chúng, lại dính dáng quá mật thiết tới chính trị và tài chính, nên không hợp để đưa vào loạt ghi chép này. Tuy vậy, chúng đã gián tiếp dẫn tới một bài toán lạ lùng và rắc rối, cho bạn tôi cơ hội chứng tỏ giá trị của một vũ khí mới, giữa rất nhiều vũ khí mà anh dùng trong cuộc chiến cả đời chống lại tội ác.

Xem lại sổ ghi chép, tôi thấy chính ngày 14 tháng Tư tôi nhận được bức điện từ Ly-ông báo rằng Hôm đang nằm ốm ở khách sạn Đuy-lông. Chưa đầy hai mươi bốn tiếng sau tôi đã có mặt trong phòng bệnh của anh, và nhẹ cả người khi thấy các triệu chứng của anh chẳng có gì đáng sợ. Tuy vậy, ngay cả thể chất sắt thép của anh cũng đã gục ngã sau một cuộc điều tra kéo dài hơn hai tháng, trong suốt thời gian ấy chưa ngày nào anh làm việc dưới mười lăm tiếng, và theo lời anh quả quyết, đã hơn một lần anh làm một mạch năm ngày liền. Ngay cả thắng lợi vẻ vang của công sức anh cũng không cứu được anh khỏi cơn suy sụp sau một sự gắng sức khủng khiếp đến thế. Đúng lúc cả châu Âu vang dội tên anh, và điện chúc mừng trong phòng anh ngập tới mắt cá chân theo đúng nghĩa đen, thì tôi lại thấy anh chìm trong cơn u uất đen tối nhất. Ngay cả việc biết rằng mình đã thành công ở chỗ cảnh sát ba nước đều thất bại, và đã qua mặt trên mọi phương diện tay lừa đảo tài ba nhất châu Âu, cũng không đủ kéo anh ra khỏi tình trạng kiệt quệ thần kinh.

Ba ngày sau chúng tôi đã cùng nhau trở về phố Bây-cơ. Nhưng rõ ràng bạn tôi cần thay đổi không khí, và ý nghĩ được hưởng một tuần mùa xuân ở thôn quê cũng rất hấp dẫn đối với tôi. Người bạn cũ của tôi, đại tá Hây-tơ, từng được tôi chữa trị hồi ở Áp-ga-ni-xtan, giờ đã mua một ngôi nhà gần Rai-gết, hạt Xa-ri, và thường mời tôi xuống chơi. Lần gần đây nhất ông có nói rằng nếu bạn tôi chịu đi cùng thì ông cũng rất vui lòng tiếp đón. Phải khéo léo một chút, nhưng khi Hôm hiểu rằng đó là nhà của một người độc thân, và anh sẽ được hoàn toàn tự do, anh đồng ý với kế hoạch của tôi. Một tuần sau khi rời Ly-ông, chúng tôi đã có mặt dưới mái nhà ông đại tá. Hây-tơ là một người lính già tuyệt vời, từng trải sự đời, và đúng như tôi dự đoán, ông sớm nhận ra mình và Hôm có nhiều điểm chung.

Tối hôm chúng tôi tới, sau bữa ăn, chúng tôi ngồi trong phòng để súng của ông đại tá. Hôm nằm duỗi dài trên ghế tràng kỷ, còn Hây-tơ và tôi xem bộ sưu tập súng nho nhỏ của ông.

— À này, ông bỗng nói, tôi nghĩ tôi sẽ mang một khẩu súng lục này lên lầu, phòng khi có báo động.

— Báo động! tôi nói.

— Phải, dạo này vùng này có một phen hú vía. Ông Ác-tơn già, một trong những người có máu mặt nhất hạt, bị trộm đột nhập nhà hôm thứ Hai vừa rồi. Không thiệt hại gì lớn, nhưng bọn trộm vẫn còn nhởn nhơ.

— Không có manh mối gì sao? Hôm hỏi, liếc mắt nhìn ông đại tá.

— Tới giờ thì chưa. Nhưng đó chỉ là chuyện vặt, một vụ trộm cắp nho nhỏ ở thôn quê, hẳn là quá nhỏ để ông bận tâm, ông Hôm ạ, sau cái vụ quốc tế lớn lao kia.

Hôm phẩy tay gạt lời khen, dù nụ cười của anh cho thấy anh thích lắm.

— Có điểm gì đáng chú ý không?

— Tôi nghĩ là không. Bọn trộm lục tung thư viện mà chẳng kiếm chác được bao nhiêu. Cả căn phòng bị đảo lộn, ngăn kéo bị phá, tủ bị lục, và kết quả là chỉ mất một tập lẻ bộ Hô-me bản dịch của Pốp, hai cây nến mạ bạc, một cái chặn giấy bằng ngà, một cái phong vũ biểu nhỏ bằng gỗ sồi và một cuộn dây gai.

— Một mớ đồ lạ lùng quá! tôi kêu lên.

— Ồ, rõ ràng bọn chúng vớ được gì thì lấy nấy.

Hôm càu nhàu trên ghế tràng kỷ.

— Cảnh sát hạt phải rút ra được điều gì đó từ chuyện ấy chứ, anh nói. Rõ ràng là...

Nhưng tôi giơ ngón tay lên cảnh cáo.

— Anh tới đây để nghỉ ngơi, anh bạn thân mến. Lạy Chúa, đừng có lao vào một bài toán mới khi thần kinh anh còn tơi tả thế này.

Hôm nhún vai, liếc nhìn ông đại tá với vẻ cam chịu buồn cười, và câu chuyện trôi sang những đề tài ít nguy hiểm hơn.

Thế nhưng định mệnh đã an bài để mọi sự thận trọng nghề nghiệp của tôi thành công cốc. Sáng hôm sau, bài toán tự sấn vào chúng tôi theo cách không thể làm ngơ, và chuyến về quê của chúng tôi rẽ sang một ngả mà cả hai đều không lường trước. Chúng tôi đang ăn sáng thì người quản gia của ông đại tá chạy bổ vào, mất hết vẻ chững chạc thường ngày.

— Ông đã nghe tin chưa, thưa ông? ông ta hổn hển. Ở nhà ông Cun-ninh-hêm ạ!

— Trộm à! ông đại tá kêu lên, tách cà phê khựng lại giữa không trung.

— Giết người!

Ông đại tá huýt sáo.

— Trời đất! ông nói. Ai bị giết? Ông thẩm phán hay con trai ông ta?

— Không phải ai cả, thưa ông. Là Uy-li-am, người đánh xe. Bị bắn xuyên tim, thưa ông, không nói được lời nào nữa.

— Vậy ai bắn?

— Tên trộm, thưa ông. Hắn chạy nhanh như tên bắn và thoát mất. Hắn vừa phá cửa sổ phòng để thức ăn thì Uy-li-am bắt gặp, và anh ấy đã chết vì bảo vệ tài sản của chủ.

— Lúc mấy giờ?

— Đêm qua, thưa ông, khoảng mười hai giờ.

— À, vậy lát nữa ta sẽ ghé qua, ông đại tá nói, thản nhiên ngồi ăn sáng tiếp. Chuyện chẳng hay ho gì, ông nói thêm khi người quản gia đã đi. Ông Cun-ninh-hêm già là người đứng đầu vùng này, mà cũng là người rất tử tế. Ông ấy sẽ đau lòng lắm vì chuyện này, vì người đánh xe ấy đã làm cho ông ấy nhiều năm, và là một người làm tốt. Rõ ràng vẫn là bọn khốn đã đột nhập nhà ông Ác-tơn.

— Và đã lấy cái mớ đồ hết sức kỳ quặc ấy, Hôm trầm ngâm nói.

— Đúng vậy.

— Hừm! Có thể hoá ra đây là chuyện đơn giản nhất đời, nhưng thoạt nhìn thì nó hơi lạ một chút, phải không? Một băng trộm hoạt động ở thôn quê, người ta tưởng chúng sẽ thay đổi nơi gây án, chứ không phá hai nhà trong cùng một vùng chỉ trong vài ngày. Tối qua khi ông nói chuyện đề phòng, tôi nhớ là đã thoáng nghĩ rằng đây có lẽ là cái xứ đạo cuối cùng ở nước Anh mà bọn trộm để mắt tới. Thế mới thấy tôi còn phải học nhiều.

— Tôi đoán là một tay hành nghề ngay trong vùng, ông đại tá nói. Nếu vậy thì dĩ nhiên nhà Ác-tơn và nhà Cun-ninh-hêm đúng là những chỗ hắn nhắm tới, vì đó là hai nhà lớn nhất ở đây.

— Và giàu nhất?

— Chà, lẽ ra là vậy, nhưng mấy năm nay họ kiện tụng nhau, tôi đoán là đã hút cạn máu cả hai bên. Ông Ác-tơn già đòi quyền sở hữu một nửa điền sản của nhà Cun-ninh-hêm, và đám luật sư đã nhúng cả hai tay vào.

— Nếu là một tên vô lại trong vùng thì chắc truy ra hắn cũng chẳng khó lắm, Hôm ngáp dài nói. Thôi được, Oát-xơn, tôi không định nhúng tay vào đâu.

— Thưa ông, có thanh tra Pho-rét-xtơ, người quản gia mở toang cửa và xướng tên.

Viên cảnh sát, một chàng trai trẻ lanh lợi, gương mặt sắc sảo, bước vào phòng.

— Chào ông đại tá, anh ta nói. Mong là tôi không làm phiền, nhưng chúng tôi nghe nói ông Hôm ở phố Bây-cơ đang ở đây.

Ông đại tá giơ tay chỉ về phía bạn tôi, và viên thanh tra cúi chào.

— Chúng tôi nghĩ có lẽ ông muốn qua bên ấy một chuyến, ông Hôm.

— Số phận chống lại anh rồi, Oát-xơn, anh cười nói. Lúc ông vào thì chúng tôi đang bàn về chuyện ấy, thưa thanh tra. Có lẽ ông cho chúng tôi biết vài chi tiết.

Khi anh ngả người ra ghế theo cái tư thế quen thuộc, tôi biết là hết hy vọng.

— Vụ nhà Ác-tơn thì chúng tôi chẳng có manh mối gì. Nhưng ở đây thì có cả đống để lần theo, và chắc chắn cả hai vụ đều do cùng một bọn. Có người đã trông thấy hắn.

— A!

— Vâng, thưa ông. Nhưng hắn chạy như hươu sau phát súng giết chết anh Uy-li-am Kơ-oan tội nghiệp. Ông Cun-ninh-hêm thấy hắn từ cửa sổ phòng ngủ, và cậu A-léc Cun-ninh-hêm thấy hắn từ hành lang sau. Báo động nổ ra lúc mười hai giờ kém mười lăm. Ông Cun-ninh-hêm vừa lên giường, còn cậu A-léc đang mặc áo choàng ngủ ngồi hút tẩu. Cả hai nghe tiếng Uy-li-am, người đánh xe, kêu cứu, và cậu A-léc chạy xuống xem có chuyện gì. Cửa sau để mở, và khi xuống tới chân cầu thang, cậu ấy thấy hai người đàn ông đang vật lộn bên ngoài. Một tên nổ súng, người kia ngã xuống, và tên sát nhân chạy băng qua vườn, nhảy qua hàng rào. Ông Cun-ninh-hêm nhìn ra từ phòng ngủ, thấy hắn ra tới đường cái, nhưng lập tức mất dấu. Cậu A-léc dừng lại xem có cứu được người sắp chết không, nên tên khốn trốn thoát. Ngoài việc hắn là người tầm thước và mặc đồ sẫm màu, chúng tôi chẳng có đặc điểm nhận dạng nào. Nhưng chúng tôi đang ráo riết điều tra, và nếu hắn là người lạ thì chúng tôi sẽ sớm tìm ra hắn.

— Anh Uy-li-am này tới đó làm gì? Anh ta có nói gì trước khi chết không?

— Không một lời. Anh ta sống với mẹ ở căn nhà gác cổng, và vì anh ta là người rất trung thành, chúng tôi đoán anh ta đi lên nhà chính để xem mọi thứ có ổn không. Dĩ nhiên vụ nhà Ác-tơn đã khiến ai cũng phải đề phòng. Hẳn tên trộm vừa phá cửa, ổ khoá đã bị cạy, thì Uy-li-am bắt gặp hắn.

— Uy-li-am có nói gì với mẹ trước khi đi không?

— Bà cụ già lắm và lãng tai, chúng tôi chẳng hỏi được gì. Cú sốc làm bà nửa tỉnh nửa mê, mà tôi được biết vốn bà cũng chẳng minh mẫn lắm. Nhưng có một chi tiết rất quan trọng. Ông xem cái này!

Anh ta lấy từ cuốn sổ tay ra một mẩu giấy rách nhỏ, trải lên đầu gối.

— Cái này được tìm thấy kẹp giữa ngón trỏ và ngón cái của người chết. Có vẻ nó bị xé ra từ một tờ giấy lớn hơn. Ông sẽ thấy giờ ghi trên đó chính là giờ anh chàng tội nghiệp gặp nạn. Ông thấy đấy, có thể tên sát nhân đã giật phần còn lại của tờ giấy khỏi tay anh ta, hoặc anh ta đã giật được mẩu này từ tay tên sát nhân. Đọc thì gần như là một lời hẹn gặp.

Hôm cầm mẩu giấy lên. Trên đó chỉ còn mấy mẩu chữ rời rạc: lúc mười hai giờ kém mười lăm, rồi biết điều gì, rồi có lẽ.

— Giả sử đây là một lời hẹn gặp, viên thanh tra nói tiếp, thì dĩ nhiên có thể nghĩ rằng anh Uy-li-am Kơ-oan này, dù nổi tiếng là người lương thiện, có lẽ đã thông đồng với tên trộm. Có thể anh ta đã gặp hắn ở đó, thậm chí còn giúp hắn phá cửa, rồi sau đó hai bên lại bất hoà với nhau.

— Nét chữ này cực kỳ đáng chú ý, Hôm nói, anh đã xem xét nó với sự tập trung cao độ. Nước ở đây sâu hơn tôi tưởng nhiều.

Anh gục đầu vào hai bàn tay, trong khi viên thanh tra mỉm cười trước hiệu quả mà vụ án của anh ta đã gây ra cho vị chuyên gia lừng danh của Luân Đôn.

— Nhận xét vừa rồi của ông, lát sau Hôm nói, về khả năng có sự thông đồng giữa tên trộm và người đánh xe, và đây là lời hẹn của người này với người kia, là một giả thuyết khéo léo và không hẳn là không thể xảy ra. Nhưng nét chữ này mở ra...

Anh lại gục đầu vào hai bàn tay, và ngồi trầm ngâm sâu sắc mấy phút liền. Khi anh ngẩng mặt lên, tôi ngạc nhiên thấy má anh ửng hồng, đôi mắt sáng rực như trước khi anh ốm. Anh bật dậy với tất cả sức lực ngày xưa.

— Thế này nhé, anh nói, tôi muốn lặng lẽ xem qua một chút các chi tiết của vụ này. Có điều gì đó trong đó làm tôi say mê vô cùng. Nếu ông cho phép, ông đại tá, tôi sẽ để bạn tôi Oát-xơn ở lại với ông, còn tôi cùng thanh tra đi một vòng để kiểm tra một hai ý nghĩ nho nhỏ của mình. Nửa tiếng nữa tôi sẽ quay lại.

Một tiếng rưỡi trôi qua, viên thanh tra mới quay lại, một mình.

— Ông Hôm đang đi tới đi lui ngoài cánh đồng kia, anh ta nói. Ông ấy muốn cả bốn chúng ta cùng lên nhà.

— Nhà ông Cun-ninh-hêm?

— Vâng, thưa ông.

— Để làm gì?

Viên thanh tra nhún vai.

— Tôi cũng không rõ lắm, thưa ông. Nói riêng giữa chúng ta thôi, tôi nghĩ ông Hôm chưa khỏi hẳn bệnh. Ông ấy cư xử kỳ quặc lắm, và rất kích động.

— Tôi nghĩ anh không cần lo đâu, tôi nói. Tôi vẫn thường thấy trong cái điên của anh ấy có phương pháp.

— Có người lại bảo trong phương pháp của ông ấy có cái điên, viên thanh tra lẩm bẩm. Nhưng ông ấy đang nóng lòng muốn đi lắm, ông đại tá ạ, nên nếu ông sẵn sàng thì ta đi thôi.

Chúng tôi thấy Hôm đang đi tới đi lui ngoài cánh đồng, cằm gục xuống ngực, hai tay thọc trong túi quần.

— Vụ này càng lúc càng thú vị, anh nói. Oát-xơn, chuyến về quê của anh thật sự thành công. Tôi đã có một buổi sáng tuyệt vời.

— Tôi nghe nói ông đã tới hiện trường, ông đại tá nói.

— Vâng. Thanh tra và tôi đã cùng nhau đi trinh sát một chuyến nho nhỏ.

— Có kết quả gì không?

— Chà, chúng tôi đã thấy vài thứ rất thú vị. Vừa đi tôi vừa kể cho các ông nghe chúng tôi đã làm gì. Trước hết, chúng tôi xem thi thể người xấu số. Anh ta đúng là chết vì vết thương do súng lục như người ta báo.

— Vậy ông đã nghi ngờ điều đó sao?

— Ồ, cái gì cũng nên kiểm tra. Việc xem xét ấy không uổng công. Rồi chúng tôi nói chuyện với ông Cun-ninh-hêm và con trai ông, họ chỉ cho chúng tôi đúng chỗ tên sát nhân đã chui qua hàng rào vườn khi chạy trốn. Chỗ đó rất đáng chú ý.

— Dĩ nhiên rồi.

— Sau đó chúng tôi gặp bà mẹ tội nghiệp của người chết. Nhưng không hỏi được gì, vì bà già yếu quá.

— Vậy kết quả cuộc điều tra của ông là gì?

— Là tôi tin chắc đây là một tội ác rất lạ lùng. Có lẽ chuyến ghé thăm bây giờ sẽ giúp nó bớt mù mịt hơn. Thưa thanh tra, tôi nghĩ cả hai chúng ta đều đồng ý rằng mẩu giấy trong tay người chết, có ghi đúng giờ anh ta chết, là cực kỳ quan trọng.

— Nó phải cho ta một manh mối, ông Hôm.

— Nó có cho ta một manh mối thật. Kẻ viết mẩu giấy ấy chính là kẻ đã lôi Uy-li-am Kơ-oan ra khỏi giường vào giờ đó. Nhưng phần còn lại của tờ giấy ở đâu?

— Tôi đã xem xét mặt đất rất kỹ, mong tìm thấy nó, viên thanh tra nói.

— Nó đã bị giật khỏi tay người chết. Tại sao có kẻ lại nóng lòng chiếm lấy nó như vậy? Vì nó buộc tội hắn. Và hắn sẽ làm gì với nó? Rất có thể là nhét vào túi, chẳng để ý rằng một góc của nó vẫn còn nằm trong nắm tay cái xác. Nếu lấy được phần còn lại của tờ giấy, rõ ràng chúng ta sẽ tiến được một bước dài tới lời giải bí ẩn.

— Phải, nhưng làm sao ta thò tay được vào túi tên tội phạm khi chưa bắt được hắn?

— Thôi được, thôi được, điều đó cũng đáng suy nghĩ. Rồi còn một điểm hiển nhiên nữa. Mẩu giấy được gửi cho Uy-li-am. Người viết không thể tự mang tới, vì nếu thế thì dĩ nhiên hắn đã nói miệng cho xong. Vậy ai mang mẩu giấy tới? Hay nó được gửi qua bưu điện?

— Tôi đã hỏi rồi, viên thanh tra nói. Chiều hôm qua Uy-li-am nhận được một lá thư qua chuyến bưu điện buổi chiều. Phong bì đã bị anh ta huỷ.

— Tuyệt vời! Hôm kêu lên, vỗ vai viên thanh tra. Ông đã gặp người đưa thư. Làm việc với ông thật thích. Chà, căn nhà gác cổng đây rồi. Nếu ông lên cùng, ông đại tá, tôi sẽ chỉ cho ông xem hiện trường.

Chúng tôi đi qua căn nhà nhỏ xinh xắn nơi người bị giết từng sống, rồi theo một con đường hai bên trồng sồi lên tới ngôi nhà cổ đẹp đẽ kiểu thời nữ hoàng An-nơ, trên xà cửa có khắc năm diễn ra trận Man-pla-kê. Hôm và viên thanh tra dẫn chúng tôi vòng quanh nhà cho tới cổng phụ, nơi cách hàng rào ven đường một khoảng vườn. Một cảnh sát viên đứng ở cửa bếp.

— Mở cửa ra, anh cảnh sát, Hôm nói. Này nhé, chính trên bậc cầu thang kia, cậu Cun-ninh-hêm đứng và thấy hai người đàn ông vật lộn ngay chỗ chúng ta đang đứng. Ông Cun-ninh-hêm già thì ở cửa sổ kia, ô thứ hai bên trái, và ông thấy tên kia chạy thoát ngay bên trái bụi cây ấy. Rồi cậu A-léc chạy ra, quỳ xuống bên người bị thương. Các ông thấy đấy, mặt đất rất cứng, chẳng có dấu vết gì để lần theo.

Đúng lúc anh đang nói thì hai người đàn ông đi xuống theo lối vườn, từ góc nhà vòng ra. Một người đã đứng tuổi, gương mặt cứng cỏi, hằn những nếp nhăn sâu, mí mắt nặng trĩu. Người kia là một chàng trai trẻ bảnh bao, vẻ mặt tươi tỉnh, tươi cười, ăn mặc phô trương, trái ngược lạ lùng với cái việc đã đưa chúng tôi tới đây.

— Vẫn đang làm à? anh ta nói với Hôm. Tôi cứ tưởng dân Luân Đôn các ông chẳng bao giờ lúng túng. Rốt cuộc có vẻ các ông cũng chẳng nhanh nhẹn lắm.

— À, cậu phải cho chúng tôi chút thời gian chứ, Hôm vui vẻ đáp.

— Ông sẽ cần đấy, cậu A-léc Cun-ninh-hêm nói. Ô kìa, tôi thấy chúng ta chẳng có manh mối nào cả.

— Chỉ có một thôi, viên thanh tra đáp. Chúng tôi nghĩ nếu tìm được... Trời ơi, ông Hôm! Ông làm sao vậy?

Gương mặt người bạn tội nghiệp của tôi bỗng mang một vẻ khủng khiếp nhất. Mắt anh trợn ngược, nét mặt quằn quại đau đớn, và với một tiếng rên nén lại, anh ngã sấp mặt xuống đất. Hoảng hốt vì cơn bệnh đột ngột và dữ dội, chúng tôi khiêng anh vào bếp. Anh nằm ngả trong một chiếc ghế lớn, thở nặng nhọc mấy phút liền. Cuối cùng, ngượng ngùng xin lỗi vì sự yếu đuối của mình, anh lại đứng dậy.

— Oát-xơn có thể nói với các ông là tôi vừa mới qua một trận ốm nặng, anh giải thích. Tôi dễ bị những cơn thần kinh đột ngột như vậy.

— Tôi cho xe đưa ông về nhé? ông Cun-ninh-hêm già hỏi.

— À, đã tới đây rồi thì có một điểm tôi muốn chắc chắn. Chúng ta có thể kiểm tra rất dễ.

— Điểm gì vậy?

— Chà, tôi thấy rất có thể anh chàng Uy-li-am tội nghiệp tới nơi không phải trước, mà là sau khi tên trộm đã vào nhà. Các ông có vẻ mặc nhiên cho rằng dù cửa đã bị cạy, tên trộm vẫn chưa hề vào được.

— Tôi nghĩ điều đó khá hiển nhiên, ông Cun-ninh-hêm nghiêm nghị nói. Con trai tôi, A-léc, lúc ấy còn chưa đi ngủ, nên có ai đi lại trong nhà thì chắc chắn nó đã nghe thấy.

— Cậu ấy ngồi ở đâu?

— Tôi ngồi hút thuốc trong phòng thay đồ.

— Cửa sổ nào vậy?

— Ô cuối cùng bên trái, cạnh phòng cha tôi.

— Dĩ nhiên cả hai phòng đều thắp đèn?

— Chắc chắn rồi.

— Có mấy điểm rất lạ ở đây, Hôm mỉm cười nói. Chẳng phải lạ lùng sao, khi một tên trộm, lại là một tên trộm đã có kinh nghiệm, cố tình đột nhập vào một ngôi nhà đúng lúc hắn có thể thấy qua ánh đèn rằng hai người trong nhà vẫn còn thức?

— Hẳn hắn phải là một tay rất lì.

— Chà, dĩ nhiên nếu vụ này không kỳ quặc thì chúng tôi đã chẳng phải nhờ ông giải thích, cậu A-léc nói. Nhưng về cái ý ông cho rằng tên kia đã trộm trong nhà trước khi Uy-li-am vật lộn với hắn, tôi thấy thật là vô lý hết sức. Nếu vậy chẳng phải chúng tôi đã thấy nhà cửa bị lục lọi, và biết những thứ hắn đã lấy sao?

— Còn tuỳ đó là những thứ gì, Hôm nói. Cậu phải nhớ chúng ta đang đối phó với một tên trộm rất lạ lùng, có vẻ hành sự theo lối riêng của hắn. Chẳng hạn xem cái mớ đồ kỳ quặc hắn lấy ở nhà ông Ác-tơn, là gì nhỉ, một cuộn dây, một cái chặn giấy, và tôi không biết còn mấy thứ lặt vặt gì nữa.

— Thôi được, chúng tôi hoàn toàn trông cậy vào ông, ông Hôm, ông Cun-ninh-hêm già nói. Bất cứ điều gì ông hay ông thanh tra đề nghị, chắc chắn chúng tôi sẽ làm.

— Trước hết, Hôm nói, tôi muốn ông treo giải thưởng, do chính ông đứng tên, vì giới chức có thể mất chút thời gian mới thống nhất được số tiền, mà những việc này thì càng làm nhanh càng tốt. Tôi đã viết vội mẫu thông báo ở đây, nếu ông không phiền thì ký vào. Tôi nghĩ năm mươi bảng là đủ lắm rồi.

— Năm trăm tôi cũng sẵn lòng, ông thẩm phán nói, cầm lấy mẩu giấy và cây bút chì Hôm đưa. Nhưng chỗ này chưa đúng lắm, ông nói thêm, lướt mắt qua tờ giấy.

— Tôi viết hơi vội.

— Ông xem, ông mở đầu: Xét rằng, vào khoảng một giờ kém mười lăm rạng sáng thứ Ba, đã có một vụ mưu toan, vân vân. Thật ra là lúc mười hai giờ kém mười lăm.

Tôi thấy đau lòng vì sai sót ấy, vì tôi biết Hôm sẽ khó chịu biết bao trước bất cứ sơ suất nào kiểu đó. Chính xác về sự kiện là sở trường của anh, nhưng trận ốm vừa rồi đã làm anh lung lay, và chỉ một chuyện nhỏ này cũng đủ cho tôi thấy anh còn lâu mới là chính mình. Rõ ràng trong thoáng chốc anh lúng túng, trong khi viên thanh tra nhướng mày, còn A-léc Cun-ninh-hêm thì phá lên cười. Nhưng ông già đã sửa lại chỗ sai, rồi đưa tờ giấy lại cho Hôm.

— Cho in càng sớm càng tốt nhé, ông nói. Tôi thấy ý của ông thật tuyệt.

Hôm cẩn thận cất mẩu giấy vào cuốn sổ tay.

— Còn bây giờ, anh nói, thật sự nên để tất cả chúng ta cùng đi xem khắp nhà một lượt, để chắc rằng rốt cuộc tên trộm thất thường này không mang theo thứ gì.

Trước khi vào nhà, Hôm xem xét cánh cửa bị cạy. Rõ ràng người ta đã thọc một cái đục hay một con dao chắc khoẻ vào, rồi bẩy ổ khoá ra. Chúng tôi thấy cả vết hằn trên gỗ chỗ nó bị thọc vào.

— Vậy là ông không cài then cửa à? anh hỏi.

— Chúng tôi chưa bao giờ thấy cần.

— Ông không nuôi chó?

— Có, nhưng nó bị xích ở phía bên kia nhà.

— Người làm đi ngủ lúc mấy giờ?

— Khoảng mười giờ.

— Tôi được biết Uy-li-am thường cũng đi ngủ vào giờ đó.

— Phải.

— Thật lạ là riêng đêm hôm ấy anh ta lại thức. Bây giờ, tôi sẽ rất vui nếu ông có lòng dẫn chúng tôi đi xem khắp nhà, ông Cun-ninh-hêm.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơ-lốc Hôm: Những điền chủ làng Rai-gết

  1. 1Góc thư trong tay người chết19 phút
  2. 2Đĩa cam bị hất đổĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảArthur Conan Doyle (1859 – 1930)
Năm mất1930
Xuất bản lần đầu1893
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Reigate Squires, trong tập The Memoirs of Sherlock Holmes, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →