Chương 1: Những hình vẽ bằng phấn
Hôm đã ngồi im lặng mấy tiếng liền, cái lưng dài gầy còng xuống trên một bình hoá chất, trong đó anh đang nấu một thứ đặc biệt hôi thối. Đầu anh gục xuống ngực, và từ chỗ tôi nhìn, trông anh như một con chim gầy guộc kỳ lạ, lông xám xỉn, trên đầu có một chỏm lông đen.
— Vậy là, Oát-xơn, anh bỗng nói, anh không định đầu tư vào chứng khoán Nam Phi à?
Tôi giật mình sửng sốt. Dù đã quen với những khả năng kỳ lạ của Hôm, việc anh đột ngột xâm nhập vào những ý nghĩ thầm kín nhất của tôi như vậy vẫn hoàn toàn không thể giải thích nổi.
— Làm sao anh biết được? tôi hỏi.
Anh xoay người trên chiếc ghế đẩu, tay cầm một ống nghiệm đang bốc hơi, đôi mắt sâu ánh lên vẻ thích thú.
— Nào, Oát-xơn, thú nhận đi, anh hoàn toàn bị bất ngờ, anh nói.
— Đúng vậy.
— Lẽ ra tôi phải bắt anh ký giấy xác nhận điều đó.
— Tại sao?
— Vì năm phút nữa anh sẽ bảo rằng tất cả đơn giản tới mức vô lý.
— Tôi chắc chắn sẽ chẳng nói gì như thế.
— Anh thấy đấy, Oát-xơn thân mến, anh dựng ống nghiệm vào giá, rồi bắt đầu giảng giải với dáng điệu một giáo sư đang giảng cho lớp học, thật ra chẳng khó gì để dựng nên một chuỗi suy luận, mỗi suy luận dựa vào suy luận trước, và tự bản thân mỗi cái đều đơn giản. Nếu sau khi làm vậy, ta chỉ việc bỏ hết những suy luận ở giữa, chỉ đưa cho người nghe điểm xuất phát và kết luận, thì ta có thể tạo ra một hiệu quả gây sửng sốt, dù có lẽ chỉ là hào nhoáng. Này nhé, chỉ cần nhìn vào kẽ giữa ngón trỏ và ngón cái bên trái của anh là tôi đã biết chắc anh không định bỏ chút vốn liếng nhỏ của mình vào các mỏ vàng.
— Tôi chẳng thấy có liên quan gì.
— Có lẽ là không, nhưng tôi có thể nhanh chóng chỉ cho anh thấy một mối liên hệ chặt chẽ. Đây là những mắt xích còn thiếu của một chuỗi rất đơn giản. Một, tối qua khi từ câu lạc bộ về, kẽ ngón trỏ và ngón cái bên trái của anh có dính phấn. Hai, anh xoa phấn vào đó khi chơi bi-a, để giữ cây cơ cho chắc. Ba, anh chẳng bao giờ chơi bi-a với ai ngoài Thơ-xtơn. Bốn, bốn tuần trước anh kể với tôi rằng Thơ-xtơn có quyền mua một khu đất ở Nam Phi, sẽ hết hạn trong một tháng, và ông ta muốn anh cùng góp phần. Năm, cuốn sổ séc của anh bị khoá trong ngăn kéo của tôi, và anh chưa hỏi xin chìa khoá. Sáu, anh không định đầu tư tiền của mình theo cách này.
— Đơn giản tới mức vô lý! tôi kêu lên.
— Đúng thế! anh nói, hơi phật ý. Bài toán nào một khi đã được giải thích cũng trở nên trẻ con hết. Đây là một bài chưa được giải thích. Xem anh làm được gì với nó, anh bạn Oát-xơn.
Anh ném một tờ giấy lên bàn, rồi lại quay về với cuộc phân tích hoá học.
Tôi kinh ngạc nhìn những ký hiệu vô nghĩa trên tờ giấy. Đó là một hàng hình người nhỏ xíu vẽ bằng nét que, đứa giơ tay lên trời, đứa dang tay ra hai bên, đứa co một chân, đứa chổng ngược đầu, như một bầy hình nhân đang nhảy múa ngang trang giấy.
— Ô kìa, Hôm, đây là tranh vẽ của trẻ con mà, tôi kêu lên.
— Ồ, anh nghĩ thế à!
— Còn có thể là gì khác?
— Đó chính là điều ông Hin-tơn Kiu-bít, ở trang viên Rai-đinh Thóoc, hạt Nóc-phốc, đang rất nóng lòng muốn biết. Câu đố nhỏ này tới bằng chuyến bưu điện đầu tiên, và ông ấy sẽ tới ngay chuyến tàu sau. Có tiếng chuông kìa, Oát-xơn. Tôi sẽ chẳng ngạc nhiên lắm nếu đó là ông ấy.
Có tiếng bước chân nặng nề trên cầu thang, và một lát sau một quý ông cao lớn, hồng hào, mặt cạo nhẵn bước vào. Đôi mắt trong sáng và đôi má đỏ au cho thấy ông sống xa những làn sương mù của phố Bây-cơ. Khi bước vào, ông như mang theo một luồng gió biển phía đông mạnh mẽ, tươi mát, sảng khoái. Bắt tay từng người chúng tôi xong, ông vừa định ngồi xuống thì mắt ông dừng lại ở tờ giấy có những ký hiệu kỳ lạ mà tôi vừa xem và để trên bàn.
— Thế nào, ông Hôm, ông thấy mấy cái này là gì? ông kêu lên. Người ta bảo ông thích những bí ẩn kỳ quặc, mà tôi nghĩ ông khó tìm được cái nào kỳ quặc hơn thế này. Tôi gửi tờ giấy tới trước để ông có thời gian nghiên cứu trước khi tôi tới.
— Đúng là một tác phẩm khá lạ lùng, Hôm nói. Thoạt nhìn thì có vẻ là trò nghịch dại của trẻ con. Nó gồm một loạt hình người nhỏ vô lý đang nhảy múa ngang trang giấy. Sao ông lại coi trọng một thứ kỳ quặc như thế?
— Tôi thì chẳng bao giờ coi trọng nó, ông Hôm ạ. Nhưng vợ tôi thì có. Nó làm cô ấy sợ chết khiếp. Cô ấy không nói gì, nhưng tôi thấy nỗi kinh hoàng trong mắt cô ấy. Vì thế tôi muốn tìm cho ra ngọn ngành chuyện này.
Hôm giơ tờ giấy lên cho ánh nắng chiếu thẳng vào. Đó là một trang xé ra từ một cuốn sổ tay. Các hình vẽ bằng bút chì, cả thảy mười lăm hình nhân, vài hình cầm một lá cờ nhỏ. Hôm xem xét nó một lúc, rồi cẩn thận gấp lại, cất vào cuốn sổ tay.
— Vụ này hứa hẹn sẽ là một vụ hết sức thú vị và khác thường, anh nói. Trong thư ông đã kể cho tôi vài chi tiết, ông Hin-tơn Kiu-bít, nhưng tôi sẽ rất biết ơn nếu ông vui lòng kể lại tất cả cho bạn tôi, bác sĩ Oát-xơn, nghe.
— Tôi không giỏi kể chuyện lắm đâu, ông khách nói, đôi bàn tay to khoẻ bồn chồn nắm vào rồi mở ra. Có chỗ nào tôi nói chưa rõ thì ông cứ hỏi. Tôi sẽ bắt đầu từ lúc tôi cưới vợ năm ngoái. Nhưng trước hết tôi muốn nói rằng, dù tôi chẳng giàu có gì, dòng họ tôi đã ở Rai-đinh Thóoc chừng năm thế kỷ, và trong cả hạt Nóc-phốc không có gia đình nào được biết tiếng hơn. Năm ngoái tôi lên Luân Đôn dự lễ đại khánh của Nữ hoàng, và ở trọ trong một nhà trọ ở quảng trường Rớt-xen, vì mục sư Pác-cơ của giáo xứ chúng tôi cũng trọ ở đó. Ở đó có một cô gái trẻ người Mỹ, tên là Pát-trích, En-xi Pát-trích. Bằng cách nào đó chúng tôi thành bạn, và chưa hết một tháng tôi ở đó, tôi đã yêu cô ấy say đắm như một người đàn ông có thể yêu. Chúng tôi lặng lẽ làm lễ cưới ở phòng đăng ký hộ tịch, rồi trở về Nóc-phốc như một đôi vợ chồng. Ông Hôm ạ, hẳn ông nghĩ thật điên rồ khi một người thuộc một dòng họ lâu đời lại lấy vợ theo kiểu này, chẳng biết gì về quá khứ hay gia đình cô ấy. Nhưng nếu ông thấy cô ấy và biết cô ấy, ông sẽ hiểu.
En-xi rất thẳng thắn về chuyện ấy. Tôi không thể nói rằng cô ấy không cho tôi mọi cơ hội để rút lui nếu tôi muốn. Cô ấy bảo: Trong đời em đã có những mối liên hệ rất khó chịu. Em muốn quên hết chúng đi. Em thà không bao giờ nhắc tới quá khứ, vì nó làm em rất đau đớn. Nếu anh lấy em, anh Hin-tơn, anh sẽ lấy một người đàn bà mà bản thân không có gì phải xấu hổ. Nhưng anh sẽ phải bằng lòng tin vào lời em, và để em được im lặng về mọi chuyện đã qua cho tới lúc em thuộc về anh. Nếu những điều kiện này quá khó, thì anh hãy về Nóc-phốc, để em lại với cuộc sống cô đơn nơi anh đã gặp em. Đúng một ngày trước đám cưới cô ấy đã nói với tôi chính những lời ấy. Tôi bảo tôi bằng lòng lấy cô ấy theo đúng điều kiện của cô ấy, và tôi đã giữ đúng lời.
Chà, chúng tôi đã lấy nhau được một năm, và rất hạnh phúc. Nhưng cách đây chừng một tháng, vào cuối tháng Sáu, lần đầu tiên tôi thấy dấu hiệu của rắc rối. Một hôm vợ tôi nhận được một lá thư từ Mỹ. Tôi thấy con tem Mỹ. Cô ấy tái nhợt như người chết, đọc thư rồi ném vào lửa. Sau đó cô ấy không hề nhắc tới nó, tôi cũng không, vì đã hứa thì phải giữ. Nhưng từ lúc ấy cô ấy chưa có được một giờ yên ổn. Trên mặt cô ấy lúc nào cũng có vẻ sợ hãi, như đang chờ đợi, ngóng trông điều gì đó. Cô ấy nên tin tôi thì hơn. Cô ấy sẽ thấy tôi là người bạn tốt nhất của mình. Nhưng chừng nào cô ấy chưa nói, tôi chẳng thể nói gì. Ông nhớ cho, ông Hôm, cô ấy là một người đàn bà trung thực, và dù trong quá khứ có rắc rối gì đi nữa thì đó cũng chẳng phải lỗi của cô ấy. Tôi chỉ là một điền chủ chất phác ở Nóc-phốc, nhưng trên khắp nước Anh không ai coi trọng danh dự gia đình hơn tôi. Cô ấy biết rõ điều đó, và đã biết rõ từ trước khi lấy tôi. Cô ấy sẽ không bao giờ làm hoen ố nó, điều đó tôi tin chắc.
Chà, giờ tôi tới phần kỳ lạ trong câu chuyện. Cách đây chừng một tuần, thứ Ba tuần trước, tôi thấy trên một bậu cửa sổ có một loạt hình người nhỏ đang nhảy múa vô lý, giống như mấy hình trên tờ giấy này. Chúng được vẽ nguệch ngoạc bằng phấn. Tôi tưởng là thằng bé chăn ngựa vẽ, nhưng thằng bé thề là chẳng biết gì. Dù sao thì chúng cũng xuất hiện trong đêm. Tôi cho người lau sạch, và sau đó mới kể chuyện ấy với vợ. Tôi ngạc nhiên vì cô ấy coi đó là chuyện rất nghiêm trọng, và nài tôi nếu có thêm hình nào thì cho cô ấy xem. Suốt một tuần không có gì, rồi sáng hôm qua tôi thấy tờ giấy này nằm trên chiếc đồng hồ mặt trời ngoài vườn. Tôi đưa cho En-xi xem, và cô ấy ngã lăn ra bất tỉnh. Từ đó tới giờ cô ấy như người trong mộng, nửa tỉnh nửa mê, nỗi kinh hoàng lúc nào cũng rình rập trong mắt. Chính lúc ấy tôi viết thư và gửi tờ giấy cho ông, ông Hôm. Đó không phải chuyện tôi có thể đem tới cảnh sát, vì họ sẽ cười vào mặt tôi, nhưng ông sẽ bảo tôi phải làm gì. Tôi chẳng giàu có gì, nhưng nếu có mối nguy nào đe doạ người vợ bé nhỏ của tôi, tôi sẵn sàng tiêu tới đồng xu cuối cùng để che chở cô ấy.
Hin-tơn Kiu-bít là một con người tuyệt vời, người con của đất Anh cổ kính này, chất phác, thẳng thắn và hiền hậu, với đôi mắt xanh to đầy chân thành và gương mặt rộng, ưa nhìn. Tình yêu dành cho vợ và lòng tin vào cô ấy rạng ngời trên nét mặt ông. Hôm đã lắng nghe câu chuyện với sự chú ý cao độ, và giờ anh ngồi im lặng suy nghĩ một lúc.
— Ông Kiu-bít, cuối cùng anh nói, ông không nghĩ rằng cách tốt nhất là thẳng thắn hỏi vợ ông, nhờ bà ấy chia sẻ bí mật với ông sao?
Hin-tơn Kiu-bít lắc cái đầu to lớn.
— Đã hứa thì phải giữ, ông Hôm. Nếu En-xi muốn nói với tôi thì cô ấy đã nói. Nếu không, tôi không có quyền ép cô ấy. Nhưng tôi có quyền đi theo đường riêng của mình, và tôi sẽ làm thế.
— Vậy tôi sẽ hết lòng giúp ông. Trước hết, ông có nghe nói có người lạ nào xuất hiện quanh vùng ông không?
— Không.
— Tôi đoán đó là một nơi rất yên tĩnh. Có gương mặt lạ nào là người ta bàn tán ngay?
— Ngay quanh nhà thì đúng thế. Nhưng cách đó không xa có mấy chỗ tắm biển nhỏ. Và nông dân cũng cho người ta trọ.
— Những ký hiệu này rõ ràng có ý nghĩa. Nếu đó là một ý nghĩa hoàn toàn tuỳ tiện thì có thể chúng ta không giải được. Còn nếu nó có hệ thống, tôi chắc chắn chúng ta sẽ tìm ra ngọn ngành. Nhưng mẫu này ngắn quá, tôi chẳng làm được gì, mà những sự việc ông mang tới lại quá mơ hồ, chúng ta chẳng có cơ sở gì để điều tra. Tôi đề nghị ông trở về Nóc-phốc, chú ý quan sát thật kỹ, và chép lại chính xác mọi hình nhân nhảy múa mới xuất hiện. Thật đáng tiếc vô cùng là chúng ta không có bản sao những hình vẽ bằng phấn trên bậu cửa sổ. Ông cũng kín đáo hỏi han xem có người lạ nào quanh vùng không. Khi thu thập được thêm chứng cứ mới, ông lại tới gặp tôi. Đó là lời khuyên tốt nhất tôi có thể cho ông, ông Hin-tơn Kiu-bít. Nếu có diễn biến mới nào cấp bách, tôi luôn sẵn sàng xuống thăm ông ở nhà ông tại Nóc-phốc.
Cuộc gặp khiến Sơ-lốc Hôm rất trầm ngâm, và mấy ngày sau đó, nhiều lần tôi thấy anh lấy mẩu giấy ra khỏi sổ tay, nhìn rất lâu, chăm chú vào những hình vẽ kỳ lạ trên đó. Nhưng anh không nhắc gì tới chuyện ấy, cho tới một buổi chiều chừng hai tuần sau. Tôi đang định ra ngoài thì anh gọi lại.
— Anh nên ở lại đây thì hơn, Oát-xơn.
— Sao vậy?
— Vì sáng nay tôi nhận được điện của Hin-tơn Kiu-bít. Anh còn nhớ Hin-tơn Kiu-bít, ông chủ những hình nhân nhảy múa chứ? Ông ấy sẽ tới ga Li-vơ-pun lúc một giờ hai mươi. Ông ấy có thể tới đây bất cứ lúc nào. Qua bức điện, tôi đoán đã có vài sự việc mới quan trọng.
Chúng tôi chẳng phải đợi lâu, vì ông điền chủ Nóc-phốc của chúng tôi từ ga tới thẳng đây nhanh hết mức một chiếc xe ngựa có thể chở. Trông ông lo lắng, chán nản, mắt mệt mỏi, trán hằn nếp nhăn.
— Chuyện này làm tôi phát điên lên mất, ông Hôm, ông nói, ngồi phịch xuống ghế bành như một người kiệt sức. Cảm thấy mình bị vây quanh bởi những kẻ vô hình, không quen biết, đang có ý đồ gì đó với mình đã là tệ lắm rồi. Nhưng khi biết thêm rằng chuyện ấy đang giết dần giết mòn vợ mình, thì đó là quá sức chịu đựng của con người bằng xương bằng thịt. Cô ấy đang héo mòn vì nó, héo mòn ngay trước mắt tôi.
— Bà ấy đã nói gì chưa?
— Chưa, ông Hôm, chưa nói gì. Thế nhưng có những lúc cô gái tội nghiệp muốn nói, mà vẫn không đủ can đảm để mở lời. Tôi đã cố giúp cô ấy, nhưng có lẽ tôi vụng về quá nên lại làm cô ấy sợ mà thôi. Cô ấy có nói về dòng họ lâu đời của tôi, về danh tiếng của chúng tôi trong hạt, về niềm tự hào vì danh dự không tì vết của chúng tôi, và tôi luôn cảm thấy cô ấy đang dẫn tới điều cần nói, nhưng chẳng hiểu sao trước khi tới đó thì câu chuyện lại rẽ sang hướng khác.
— Nhưng ông đã tự mình tìm ra được điều gì đó?
— Khá nhiều, ông Hôm. Tôi có mấy bức hình nhân nhảy múa mới cho ông xem, và quan trọng hơn, tôi đã thấy gã ấy.
— Sao, gã vẽ chúng?
— Phải, tôi thấy hắn đang vẽ. Nhưng tôi sẽ kể ông nghe theo thứ tự. Sau chuyến tới gặp ông, về tới nhà, sáng hôm sau thứ đầu tiên tôi thấy là một loạt hình nhân nhảy múa mới. Chúng được vẽ bằng phấn trên cánh cửa gỗ màu đen của nhà chứa dụng cụ, đứng cạnh bãi cỏ, nhìn thẳng ra từ các cửa sổ phía trước. Tôi đã chép lại chính xác, nó đây.
Ông mở một tờ giấy, đặt lên bàn. Lần này là một dòng ngắn hơn, chừng chín hình nhân.
— Tuyệt vời! Hôm nói. Tuyệt vời! Xin ông kể tiếp.
— Chép xong tôi xoá các hình vẽ đi. Nhưng hai buổi sáng sau, một dòng mới lại xuất hiện. Tôi có bản chép đây.
Đó là một dòng chín hình nhân khác. Hôm xoa tay, cười khúc khích khoái chí.
— Tư liệu của chúng ta đang tích luỹ nhanh chóng, anh nói.
— Ba ngày sau, có người để lại một thông điệp vẽ nguệch ngoạc trên giấy, đặt dưới một viên sỏi trên chiếc đồng hồ mặt trời. Nó đây. Như ông thấy, các hình vẽ giống hệt dòng vừa rồi. Sau đó tôi quyết định rình bắt, nên tôi lấy súng lục ra và ngồi thức trong phòng làm việc, nơi nhìn ra bãi cỏ và khu vườn. Khoảng hai giờ sáng, tôi đang ngồi bên cửa sổ, mọi thứ tối om trừ ánh trăng bên ngoài, thì nghe tiếng chân sau lưng, và kia là vợ tôi mặc áo choàng ngủ. Cô ấy nài tôi về giường ngủ. Tôi thẳng thắn bảo cô ấy rằng tôi muốn biết ai đang giở những trò vô lý ấy với chúng tôi. Cô ấy đáp rằng đó chỉ là trò đùa vô nghĩa của ai đó, tôi không nên để ý.
Cô ấy bảo: Nếu nó thật sự làm anh khó chịu, anh Hin-tơn ạ, chúng mình có thể đi du lịch đâu đó, anh với em, để tránh phiền phức này.
Tôi bảo: Sao, để cho một kẻ thích đùa đuổi chúng ta ra khỏi chính nhà mình à? Thế thì cả hạt sẽ cười vào mặt chúng ta mất.
Cô ấy bảo: Thôi, anh đi ngủ đi, sáng mai ta bàn.
Bỗng nhiên, đang lúc cô ấy nói, tôi thấy gương mặt trắng bệch của cô ấy càng trắng hơn dưới ánh trăng, và bàn tay cô ấy siết chặt vai tôi. Có cái gì đó đang cử động trong bóng nhà chứa dụng cụ. Tôi thấy một bóng đen đang bò lén vòng qua góc nhà rồi ngồi thụp xuống trước cửa. Vớ lấy khẩu súng, tôi định lao ra, thì vợ tôi vòng tay ôm chặt lấy tôi với một sức mạnh như co giật. Tôi cố gỡ cô ấy ra, nhưng cô ấy bám lấy tôi tuyệt vọng. Cuối cùng tôi cũng thoát ra được, nhưng tới lúc tôi mở cửa và chạy tới nhà chứa dụng cụ thì sinh vật kia đã biến mất. Nhưng hắn để lại dấu vết, vì trên cửa có đúng dòng hình nhân nhảy múa đã hai lần xuất hiện, dòng mà tôi đã chép trên tờ giấy kia. Chẳng thấy dấu vết gì khác của gã ở đâu nữa, dù tôi đã chạy khắp khu vườn. Thế mà điều đáng kinh ngạc là hẳn hắn đã ở đó suốt thời gian ấy, vì sáng hôm sau khi xem lại cánh cửa, tôi thấy hắn đã vẽ thêm vài hình bên dưới dòng tôi đã thấy.
— Ông có bản vẽ mới ấy không?
— Có, nó ngắn lắm, nhưng tôi đã chép lại, nó đây.
Ông lại lấy ra một tờ giấy. Điệu nhảy mới chỉ có năm hình nhân.
— Ông cho tôi biết, Hôm nói, và tôi thấy qua ánh mắt anh rằng anh đang rất kích động, đây chỉ là phần viết thêm vào dòng đầu, hay có vẻ hoàn toàn tách biệt?
— Nó ở trên một ô khác của cánh cửa.
— Tuyệt vời! Với mục đích của chúng ta, đây là cái quan trọng nhất. Nó khiến tôi tràn trề hy vọng. Giờ, ông Hin-tơn Kiu-bít, xin ông kể tiếp câu chuyện hết sức thú vị của ông.
— Tôi chẳng còn gì để nói nữa, ông Hôm, trừ việc đêm ấy tôi giận vợ vì đã giữ tôi lại, khiến tôi để vuột mất tên vô lại lén lút. Cô ấy bảo cô ấy sợ tôi gặp nguy hiểm. Trong một thoáng tôi chợt nghĩ có lẽ điều cô ấy thật sự sợ là hắn gặp nguy hiểm, vì tôi không thể nghi ngờ rằng cô ấy biết gã ấy là ai và hắn muốn nói gì qua những ký hiệu kỳ lạ kia. Nhưng trong giọng nói vợ tôi, ông Hôm ạ, và trong ánh mắt cô ấy có một điều gì đó không cho phép người ta nghi ngờ, và tôi tin chắc điều cô ấy lo lắng thật sự là sự an toàn của tôi. Toàn bộ sự việc là thế, và giờ tôi muốn ông khuyên tôi nên làm gì. Ý tôi thì muốn cho sáu bảy đứa làm công ở trang trại nấp trong bụi cây, rồi khi gã kia tới lần nữa thì cho hắn một trận nhớ đời để từ nay hắn để chúng tôi yên.
— Tôi e vụ này sâu xa quá, không giải quyết được bằng những cách đơn giản như thế, Hôm nói. Ông ở lại Luân Đôn được bao lâu?
— Tôi phải về ngay hôm nay. Có cho gì tôi cũng không để vợ ở nhà một mình qua đêm. Cô ấy rất hay lo sợ, và đã nài tôi về.
— Tôi nghĩ ông đúng. Nhưng giá ông ở lại được, có lẽ một hai ngày nữa tôi đã có thể về cùng ông. Trong lúc chờ, ông cứ để lại cho tôi mấy tờ giấy này. Tôi nghĩ rất có thể tôi sẽ sớm tới thăm ông và làm sáng tỏ phần nào vụ việc của ông.
Sơ-lốc Hôm giữ vẻ điềm tĩnh nhà nghề cho tới khi vị khách ra về, dù với tôi, người hiểu anh rất rõ, dễ dàng thấy anh đang hết sức kích động. Ngay khi tấm lưng rộng của Hin-tơn Kiu-bít vừa khuất sau cánh cửa, bạn tôi lao tới bàn, bày tất cả những mẩu giấy có hình nhân nhảy múa ra trước mặt, rồi lao vào một cuộc tính toán rắc rối, công phu. Suốt hai tiếng, tôi nhìn anh viết kín hết tờ giấy này tới tờ khác những con số và chữ cái, mải mê với công việc tới mức rõ ràng đã quên mất là tôi đang ở đó. Có lúc anh tiến triển được, vừa làm vừa huýt sáo, hát hò. Có lúc anh bối rối, ngồi rất lâu, trán nhăn lại, mắt nhìn vô hồn. Cuối cùng anh bật dậy khỏi ghế với một tiếng reo hài lòng, rồi đi tới đi lui trong phòng, xoa hai bàn tay vào nhau. Rồi anh viết một bức điện dài lên một mẫu điện tín gửi ra nước ngoài.
— Nếu trả lời cho bức điện này đúng như tôi mong, anh sẽ có thêm một vụ rất hay cho bộ sưu tập của mình, Oát-xơn ạ, anh nói. Tôi nghĩ mai chúng ta có thể xuống Nóc-phốc, mang tới cho anh bạn của chúng ta những tin tức rất rõ ràng về bí mật đang làm ông ấy phiền muộn.
Tôi thú thật là tò mò vô cùng, nhưng tôi biết Hôm thích tiết lộ điều gì vào lúc của anh và theo cách của anh, nên tôi đợi tới khi anh thấy tiện thì mới cho tôi biết.
Nhưng bức điện trả lời tới chậm, và tiếp theo là hai ngày sốt ruột, trong đó cứ mỗi tiếng chuông là Hôm lại vểnh tai lên. Tối ngày thứ hai có thư của Hin-tơn Kiu-bít. Ở chỗ ông mọi việc đều yên ổn, trừ việc sáng hôm ấy có một dòng ký hiệu dài xuất hiện trên bệ chiếc đồng hồ mặt trời. Ông gửi kèm bản chép, một dải dài những hình nhân nhảy múa.
Hôm cúi xuống dải hình kỳ quái ấy vài phút, rồi bỗng bật dậy, kêu lên một tiếng ngạc nhiên và hoảng hốt. Mặt anh hốc hác vì lo âu.
— Chúng ta đã để chuyện này đi quá xa rồi, anh nói. Tối nay có chuyến tàu nào đi Bắc Oan-sơm không?
Tôi giở bảng giờ tàu. Chuyến cuối vừa đi.
— Vậy ta sẽ ăn sáng sớm và đi chuyến đầu tiên sáng mai, Hôm nói. Sự có mặt của chúng ta đang cần gấp hơn bao giờ hết. A! Bức điện ta chờ đây rồi. Khoan một chút, bà Hớt-xơn, có thể phải trả lời đấy. Không, đúng y như tôi chờ đợi. Bức điện này càng khiến ta không được để mất một giờ nào trong việc báo cho Hin-tơn Kiu-bít biết tình hình, vì ông điền chủ Nóc-phốc chất phác của chúng ta đang mắc vào một tấm lưới lạ lùng và nguy hiểm.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám