Truyện Đỉnh

🔍 Truyện trinh thám

Ông lão ở ngôi nhà Chốn Nương Thân

Sơ-lốc Hôm: Ông chủ hãng sơn về hưu · Chương 1/2 · của Arthur Conan Doyle

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 12.208 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Sáng hôm ấy Sơ-lốc Hôm đang ở trong tâm…
  2. 0:42Ông ta là thân chủ của anh à?
  3. 1:56Nhưng chuyện gì đã xảy ra?
  4. 4:20Bỏ phần thơ ca đi, Oát-xơn, — Hôm nghiêm…
  5. 5:27Tôi chú ý tới những lọn tóc hoa râm…
  6. 7:52Tuyệt lắm, Oát-xơn! Vậy ghế của ông ta là…
  7. 8:44Thì ông ta đang sơn hành lang. Nhưng ông…
  8. 9:50Hôm!

Chương 1: Ông lão ở ngôi nhà Chốn Nương Thân

Sáng hôm ấy Sơ-lốc Hôm đang ở trong tâm trạng u sầu, triết lý. Bản tính thực tế, nhạy bén của anh thỉnh thoảng lại có những phản ứng như vậy.

— Anh có thấy ông ta không? — anh hỏi.

— Ý anh là ông lão vừa đi ra?

— Chính xác.

— Có, tôi gặp ông ta ở cửa.

— Anh nghĩ gì về ông ta?

— Một con người đáng thương, vô vọng, suy sụp.

— Đúng thế, Oát-xơn. Đáng thương và vô vọng. Nhưng chẳng phải cả cuộc đời này đều đáng thương và vô vọng sao? Chẳng phải câu chuyện của ông ta là cả thế gian thu nhỏ sao? Ta với tới. Ta nắm lấy. Và rốt cuộc trong tay ta còn lại gì? Một cái bóng. Hay tệ hơn một cái bóng, là nỗi khổ.

— Ông ta là thân chủ của anh à?

— Chà, tôi nghĩ cũng có thể gọi là vậy. Xcốt-len Y-át gửi ông ta sang. Cũng giống như các thầy thuốc thỉnh thoảng gửi những bệnh nhân hết thuốc chữa sang cho một tay lang băm. Họ lập luận rằng họ không làm gì thêm được nữa, và dù chuyện gì xảy ra thì người bệnh cũng chẳng thể tệ hơn hiện tại.

— Có chuyện gì vậy?

Hôm cầm lên một tấm danh thiếp khá bẩn trên bàn.

— Giô-xai-a Am-bơ-li. Ông ta nói ông ta từng là người hùn vốn nhỏ của hãng Bơ-ríc-phôn và Am-bơ-li, chuyên sản xuất đồ dùng hội hoạ. Anh sẽ thấy tên họ trên những hộp màu vẽ. Ông ta gom góp được một món kha khá, nghỉ việc năm sáu mươi mốt tuổi, mua một ngôi nhà ở Liu-i-sơm, và ổn định cuộc sống để nghỉ ngơi sau cả một đời làm lụng không ngơi nghỉ. Người ta sẽ nghĩ tương lai của ông ta đã khá vững vàng.

— Đúng vậy.

Hôm liếc qua mấy dòng ghi chú anh viết nguệch ngoạc sau một chiếc phong bì.

— Về hưu năm 1896, Oát-xơn. Đầu năm 1897 ông ta cưới một người đàn bà kém mình hai mươi tuổi, mà lại xinh đẹp nữa, nếu tấm ảnh không tô vẽ quá lời. Của ăn của để, một người vợ, thì giờ nhàn rỗi, trước mặt ông ta tưởng như là một con đường thẳng tắp. Ấy vậy mà chưa tới hai năm, như anh đã thấy, ông ta đã thành một kẻ suy sụp và khốn khổ nhất trong số những sinh vật bò dưới ánh mặt trời.

— Nhưng chuyện gì đã xảy ra?

— Chuyện cũ rích, Oát-xơn. Một người bạn phản bội và một người vợ lăng nhăng. Có vẻ Am-bơ-li chỉ có một thú vui trong đời, đó là cờ vua. Gần nhà ông ta ở Liu-i-sơm có một bác sĩ trẻ cũng chơi cờ. Tôi đã ghi tên anh ta là bác sĩ Rây Ơ-nét. Ơ-nét thường xuyên lui tới nhà ông ta, và chuyện anh ta thân mật với bà Am-bơ-li là điều tự nhiên, vì anh phải thừa nhận rằng thân chủ bất hạnh của chúng ta chẳng có mấy vẻ duyên dáng bên ngoài, dù bên trong ông ta có đức tính gì đi nữa. Tuần trước đôi ấy cùng bỏ đi, không rõ đi đâu. Hơn nữa, người vợ bội bạc còn mang theo chiếc hòm đựng giấy tờ của ông lão làm hành lý riêng, trong đó có một phần lớn số tiền dành dụm cả đời ông. Ta có tìm được người đàn bà không? Ta có cứu được số tiền không? Một bài toán tầm thường, chừng nào nó mới diễn biến tới đây, nhưng lại là chuyện sống còn với Giô-xai-a Am-bơ-li.

— Anh sẽ làm gì?

— Chà, câu hỏi trước mắt, Oát-xơn thân mến, lại là anh sẽ làm gì, nếu anh vui lòng đóng thế vai tôi. Anh biết tôi đang bận vụ hai vị thượng phụ của giáo hội Cốp-tích, mà hôm nay hẳn sẽ tới hồi gay cấn. Tôi thật sự không có thời gian đi tới Liu-i-sơm, ấy vậy mà chứng cứ thu được tại chỗ có giá trị đặc biệt. Ông lão nằng nặc đòi tôi tới, nhưng tôi đã giải thích tôi đang kẹt. Ông ta sẵn lòng gặp một người đại diện.

— Được thôi, — tôi đáp. — Thú thật tôi không thấy mình giúp được mấy, nhưng tôi sẵn lòng làm hết sức.

Và thế là vào một buổi chiều mùa hè, tôi lên đường tới Liu-i-sơm, chẳng hề ngờ rằng chưa đầy một tuần sau, sự việc tôi đang dấn vào sẽ thành đề tài bàn tán sôi nổi của cả nước Anh.

Tối hôm ấy khá muộn tôi mới về tới phố Bây-cơ và kể lại chuyến công cán của mình. Hôm nằm duỗi dài tấm thân gầy guộc trong chiếc ghế sâu, tẩu thuốc chầm chậm nhả ra những vòng khói hăng hắc, hai mí mắt sụp xuống lười biếng tới mức tưởng anh gần như đã ngủ, nếu không phải cứ mỗi khi tôi ngập ngừng hay kể tới một đoạn đáng ngờ thì chúng lại hé lên một nửa, và hai con mắt xám, sáng và sắc như lưỡi kiếm, ghim chặt lấy tôi bằng cái nhìn dò xét.

— Ngôi nhà của ông Giô-xai-a Am-bơ-li tên là Chốn Nương Thân, — tôi giải thích. — Tôi nghĩ anh sẽ thấy nó thú vị, Hôm ạ. Nó giống như một nhà quý tộc sa cơ lỡ vận, lạc giữa đám người thấp kém hơn mình. Anh biết khu ấy rồi đấy, những con phố gạch đơn điệu, những con đường ngoại ô mỏi mệt. Ngay giữa chúng, như một hòn đảo nhỏ của nếp sống xưa đầy văn hoá và tiện nghi, là ngôi nhà cũ ấy, bao quanh bởi một bức tường cao nung nắng, loang lổ địa y, phủ rêu trên đỉnh, thứ tường mà...

— Bỏ phần thơ ca đi, Oát-xơn, — Hôm nghiêm khắc nói. — Tôi ghi nhận đó là một bức tường gạch cao.

— Đúng vậy. Tôi đã chẳng biết nhà nào là Chốn Nương Thân nếu không hỏi một người đang đứng hút thuốc ngoài phố. Tôi có lý do để nhắc tới người ấy. Đó là một người cao, ngăm đen, ria rậm, dáng vẻ khá giống nhà binh. Ông ta gật đầu trả lời câu hỏi của tôi, và nhìn tôi bằng một ánh mắt dò hỏi kỳ lạ, mà một lát sau tôi mới nhớ lại.

— Tôi vừa bước qua cổng thì đã thấy ông Am-bơ-li đi xuống lối vào. Sáng nay tôi chỉ thoáng thấy ông ta, và ông ta đã gây cho tôi ấn tượng về một con người kỳ lạ, nhưng khi tôi nhìn ông ta giữa ánh sáng ban ngày, dáng vẻ ông ta còn khác thường hơn nữa.

— Dĩ nhiên tôi đã nghiên cứu điều đó, nhưng tôi vẫn muốn nghe ấn tượng của anh, — Hôm nói.

— Tôi thấy ông ta như một người bị lo âu đè cong lưng theo đúng nghĩa đen. Lưng ông ta còng xuống như đang gánh một gánh nặng. Ấy vậy mà ông ta không phải kẻ yếu ớt như tôi tưởng lúc đầu, vì vai và ngực ông ta có khung xương của một người khổng lồ, dù thân hình thuôn dần xuống một đôi chân khẳng khiu.

— Giày trái nhăn nheo, giày phải phẳng phiu.

— Tôi không để ý điều đó.

— Không, anh thì không để ý đâu. Tôi đã nhận ra cái chân giả của ông ta. Nhưng kể tiếp đi.

— Tôi chú ý tới những lọn tóc hoa râm uốn quăn như rắn lòi ra dưới chiếc mũ rơm cũ, và khuôn mặt ông ta với vẻ dữ dằn, háo hức, những nếp nhăn hằn sâu.

— Rất tốt, Oát-xơn. Ông ta nói gì?

— Ông ta bắt đầu tuôn ra một tràng những nỗi oan ức. Chúng tôi cùng đi xuống lối vào, và dĩ nhiên tôi nhìn kỹ xung quanh. Tôi chưa bao giờ thấy nơi nào bị bỏ bê tệ hơn. Khu vườn để mặc cho cây cỏ trổ hạt, cho tôi ấn tượng về một cảnh hoang phế, nơi cây cối được mặc sức mọc theo lối tự nhiên chứ chẳng theo bàn tay người. Tôi không hiểu một người đàn bà tử tế nào lại chịu đựng được cảnh ấy. Ngôi nhà cũng luộm thuộm tới cùng cực, nhưng ông lão tội nghiệp có vẻ biết điều đó và đang cố sửa sang, vì giữa tiền sảnh có một thùng sơn xanh lá to tướng, và tay trái ông ta cầm một cây cọ dày. Ông ta đang sơn lại các chi tiết gỗ.

— Ông ta đưa tôi vào phòng riêng tối tăm của mình, và chúng tôi trò chuyện rất lâu. Dĩ nhiên ông ta thất vọng vì anh không tự tới. Ông ta nói: "Tôi cũng chẳng dám mong một kẻ hèn mọn như tôi, nhất là sau khi mất mát nặng nề về tiền bạc, lại được một người lừng danh như ông Sơ-lốc Hôm dành trọn sự chú ý."

— Tôi trấn an ông ta rằng chuyện tiền bạc không thành vấn đề. Ông ta nói: "Không, dĩ nhiên rồi, với ông ấy đó là nghệ thuật vị nghệ thuật. Nhưng ngay cả về mặt nghệ thuật của tội ác, ông ấy cũng có thể tìm thấy ở đây điều gì đó đáng nghiên cứu. Còn bản chất con người nữa, bác sĩ Oát-xơn, sự vô ơn đen bạc của tất cả những chuyện này! Có bao giờ tôi từ chối cô ta điều gì đâu? Có người đàn bà nào được chiều chuộng tới thế không? Còn gã trai trẻ kia, hắn cứ như con trai tôi vậy. Hắn ra vào nhà tôi tự do. Ấy vậy mà xem họ đối xử với tôi thế nào! Ôi, bác sĩ Oát-xơn, thế gian này thật khủng khiếp, khủng khiếp!"

— Đó là điệp khúc của ông ta suốt hơn một tiếng đồng hồ. Có vẻ ông ta không hề nghi ngờ có chuyện tư tình. Hai vợ chồng sống một mình, trừ một bà giúp việc ban ngày, tối nào cũng về lúc sáu giờ. Đúng tối hôm ấy, ông lão Am-bơ-li muốn chiều vợ một bữa nên đã mua hai vé ở tầng ban công trên của nhà hát Hây-ma-kít. Vào phút cuối bà vợ kêu đau đầu, không chịu đi. Ông ta đi một mình. Chuyện ấy có vẻ không thể nghi ngờ, vì ông ta đưa ra tấm vé chưa dùng mà ông ta đã mua cho vợ.

— Đáng chú ý đấy, cực kỳ đáng chú ý, — Hôm nói, có vẻ ngày càng quan tâm tới vụ việc. — Kể tiếp đi, Oát-xơn. Tôi thấy câu chuyện của anh hấp dẫn lắm. Chính anh đã xem tấm vé ấy chứ? Biết đâu anh có ghi lại số ghế?

— Tình cờ là có, — tôi đáp, khá tự hào. — Nó trùng với số của tôi hồi đi học, số ba mươi mốt, nên tôi nhớ luôn.

— Tuyệt lắm, Oát-xơn! Vậy ghế của ông ta là số ba mươi hoặc ba mươi hai.

— Đúng thế, — tôi đáp, có phần khó hiểu. — Ở hàng B.

— Thế thì quá ổn. Ông ta còn kể gì nữa?

— Ông ta cho tôi xem cái mà ông ta gọi là phòng an toàn. Nó quả thật là một phòng an toàn, như ở ngân hàng, cửa sắt, cửa chớp sắt, chống trộm, như ông ta khẳng định. Tuy vậy, có vẻ người đàn bà có một chiếc chìa khoá dự phòng, và hai người họ đã mang đi tiền mặt và chứng khoán trị giá chừng bảy nghìn bảng.

— Chứng khoán! Họ làm sao bán được?

— Ông ta nói đã đưa cảnh sát một bản danh sách, và mong rằng chúng sẽ không bán được. Khoảng nửa đêm ông ta đi xem hát về, thì thấy nhà bị cướp sạch, cửa ra vào và cửa sổ mở toang, hai kẻ bỏ trốn đã biến mất. Không có thư từ hay lời nhắn nào, từ đó tới nay ông ta cũng không nghe được tin gì. Ông ta lập tức báo cảnh sát.

Hôm trầm ngâm vài phút.

— Anh nói ông ta đang sơn. Ông ta sơn cái gì?

— Thì ông ta đang sơn hành lang. Nhưng ông ta đã sơn xong cửa và các chi tiết gỗ của căn phòng tôi vừa kể.

— Anh không thấy trong hoàn cảnh ấy, đó là một việc làm kỳ lạ sao?

— "Người ta phải làm gì đó cho vơi nỗi đau trong lòng." Đó là chính lời ông ta giải thích. Hẳn là lập dị, nhưng rõ ràng ông ta là người lập dị. Ông ta xé một tấm ảnh của vợ ngay trước mặt tôi, xé tan tành trong cơn giận dữ. Ông ta rít lên: "Tôi không bao giờ muốn nhìn thấy bộ mặt khốn kiếp của cô ta nữa."

— Còn gì nữa không, Oát-xơn?

— Có, một chuyện khiến tôi chú ý hơn mọi chuyện khác. Tôi đi xe tới ga Blác-hít để bắt tàu, và đúng lúc tàu chuyển bánh, tôi thấy một người đàn ông lao vào toa bên cạnh. Anh biết tôi nhớ mặt người rất nhanh, Hôm ạ. Chắc chắn đó là người đàn ông cao, ngăm đen mà tôi đã hỏi đường ngoài phố. Tôi thấy ông ta thêm một lần ở ga Cầu Luân Đôn, rồi lạc mất ông ta giữa đám đông. Nhưng tôi tin chắc ông ta đã bám theo tôi.

— Hẳn rồi! Hẳn rồi! — Hôm nói. — Anh bảo một người cao, ngăm đen, ria rậm, đeo kính râm màu xám phải không?

— Hôm, anh là phù thuỷ. Tôi chưa nói, nhưng ông ta quả có đeo kính râm màu xám.

— Và một chiếc ghim cài cà vạt có huy hiệu hội Tam Điểm?

— Hôm!

— Đơn giản thôi, Oát-xơn thân mến. Nhưng ta hãy bàn tới chuyện thực tế. Tôi phải thừa nhận với anh rằng vụ này, mà tôi tưởng đơn giản tới mức buồn cười, chẳng đáng để tôi bận tâm, đang nhanh chóng mang một bộ mặt rất khác. Đúng là trong chuyến đi này anh đã bỏ sót mọi điều quan trọng, nhưng ngay cả những điều tự đập vào mắt anh cũng đủ gợi ra những suy nghĩ nghiêm túc.

— Tôi đã bỏ sót gì?

— Đừng phật lòng, anh bạn thân mến. Anh biết tôi chẳng hề có ý nhắm vào ai. Không ai khác làm tốt hơn đâu. Có người còn chẳng được như anh. Nhưng rõ ràng anh đã bỏ sót vài điểm cốt yếu. Hàng xóm nghĩ gì về ông Am-bơ-li này và vợ ông ta? Chắc chắn điều đó quan trọng. Còn bác sĩ Ơ-nét thì sao? Anh ta có phải gã đào hoa như người ta vẫn tưởng không? Với lợi thế trời phú của anh, Oát-xơn, quý bà nào cũng sẵn lòng giúp anh, làm đồng loã với anh. Cô gái ở bưu điện thì sao, hay bà vợ ông hàng rau? Tôi có thể hình dung anh thì thầm những lời ngọt ngào với cô gái ở quán Mỏ Neo Xanh và nhận về những thông tin rắn rỏi. Tất cả những việc ấy anh đã bỏ không làm.

— Vẫn còn làm được mà.

— Đã làm rồi. Nhờ điện thoại và sự giúp đỡ của Xcốt-len Y-át, tôi thường có được những điều cốt yếu mà chẳng cần rời căn phòng này. Thật ra, thông tin của tôi xác nhận câu chuyện của ông ta. Trong vùng ông ta nổi tiếng là kẻ keo kiệt, lại là một người chồng khắc nghiệt, khó tính. Chắc chắn ông ta đã có một khoản tiền lớn trong căn phòng an toàn ấy. Cũng chắc chắn rằng bác sĩ Ơ-nét trẻ tuổi, chưa vợ, đã chơi cờ với Am-bơ-li, và có lẽ đã đùa cợt với vợ ông ta. Tất cả có vẻ suôn sẻ, và người ta sẽ nghĩ chẳng còn gì để nói nữa, ấy vậy mà! Ấy vậy mà!

— Khó khăn nằm ở đâu?

— Có lẽ nằm trong trí tưởng tượng của tôi. Thôi, cứ để đó đã, Oát-xơn. Ta hãy thoát khỏi thế giới công việc mỏi mệt này qua cánh cửa ngách của âm nhạc. Tối nay cô Ca-ri-na hát ở nhà hát An-bớt, và ta vẫn còn kịp thay đồ, ăn tối và thưởng thức.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơ-lốc Hôm: Ông chủ hãng sơn về hưu

  1. 1Ông lão ở ngôi nhà Chốn Nương Thân11 phút
  2. 2Bức điện từ làng Pơ-linh-tơn NhỏĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảArthur Conan Doyle (1859 – 1930)
Năm mất1930
Xuất bản lần đầu1926
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Adventure of the Retired Colourman, trong tập The Case-Book of Sherlock Holmes, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →