Chương 1: Một quý bà lang bạt
— Nhưng sao lại là Thổ Nhĩ Kỳ? — ông Sơ-lốc Hôm hỏi, mắt dán vào đôi giày ống của tôi.
Lúc ấy tôi đang ngả người trên một chiếc ghế lưng mây, và đôi bàn chân duỗi ra của tôi đã thu hút sự chú ý không lúc nào ngơi nghỉ của anh.
— Của Anh chứ, — tôi đáp, hơi ngạc nhiên. — Tôi mua ở tiệm La-ti-mơ, phố Óc-xphớt.
Hôm mỉm cười với vẻ kiên nhẫn mệt mỏi.
— Cái nhà tắm! — anh nói. — Nhà tắm! Sao lại chọn kiểu tắm hơi Thổ Nhĩ Kỳ vừa đắt vừa làm người ta rã rời, thay vì kiểu tắm thường ở nhà cho khoẻ người?
— Vì mấy hôm nay tôi thấy mình đau nhức và già nua. Theo y học, tắm hơi Thổ Nhĩ Kỳ là một cách thay đổi thể trạng, một điểm khởi đầu mới, làm sạch cơ thể. Mà này, Hôm, — tôi nói thêm, — tôi không nghi ngờ gì rằng với một đầu óc lô-gích thì mối liên hệ giữa đôi giày của tôi và nhà tắm hơi là hoàn toàn hiển nhiên, nhưng tôi vẫn rất biết ơn nếu anh chỉ ra cho tôi.
— Chuỗi suy luận ấy chẳng mù mờ gì đâu, Oát-xơn, — Hôm nói, mắt lấp lánh vẻ tinh quái. — Nó thuộc loại suy luận sơ đẳng y như khi tôi hỏi anh sáng nay ai đi chung xe với anh.
— Tôi không công nhận rằng đưa thêm một ví dụ mới là giải thích, — tôi nói, có phần gay gắt.
— Hoan hô, Oát-xơn! Một lời phản đối rất đường hoàng và hợp lý. Để xem nào, có những điểm gì? Lấy điểm cuối trước, chiếc xe ngựa. Anh để ý sẽ thấy tay áo trái và vai áo khoác của anh có vết bùn bắn. Nếu anh ngồi giữa một chiếc xe hai bánh thì có lẽ đã không bị bắn bùn, mà có bị thì chắc chắn các vết sẽ đối xứng. Vậy rõ ràng anh ngồi lệch sang một bên. Vậy cũng rõ không kém là anh có người đi cùng.
— Quá rõ ràng.
— Tầm thường tới mức vô lý, phải không?
— Nhưng còn đôi giày và nhà tắm?
— Cũng trẻ con không kém. Anh có thói quen buộc dây giày theo một kiểu nhất định. Lần này tôi thấy chúng được buộc bằng một cái nơ kép cầu kỳ, không phải kiểu anh vẫn buộc. Vậy anh đã cởi giày ra. Ai buộc lại? Thợ giày, hoặc cậu bé phục vụ ở nhà tắm. Khó là thợ giày, vì giày của anh gần như còn mới. Vậy còn lại gì? Nhà tắm. Vô lý, phải không? Nhưng dù sao, cái nhà tắm hơi ấy cũng có ích.
— Ích gì?
— Anh nói anh đi tắm vì cần thay đổi. Để tôi đề nghị anh một sự thay đổi. Đi Lô-dan thì sao, Oát-xơn thân mến, vé hạng nhất, mọi chi phí được trả hậu hĩnh như bậc vương giả?
— Tuyệt vời! Nhưng để làm gì?
Hôm ngả người ra ghế bành, rút sổ tay trong túi ra.
— Một trong những hạng người nguy hiểm nhất thế giới, — anh nói, — là người đàn bà sống lang bạt, không bạn bè. Bà ta là người vô hại nhất, thường lại có ích nhất trong những kẻ phàm trần, nhưng bà ta không tránh khỏi khơi gợi tội ác ở người khác. Bà ta không ai che chở. Bà ta đi lại không ngừng. Bà ta có đủ tiền để đi từ nước này sang nước khác, từ khách sạn này sang khách sạn khác. Thường thì bà ta lạc lối trong một mê cung những nhà trọ, quán trọ vô danh. Bà ta là con gà lạc giữa bầy cáo. Khi bị nuốt chửng, hầu như chẳng ai thấy vắng. Tôi rất sợ có điều chẳng lành đã xảy tới với phu nhân Phrăng-xít Ca-pháp.
Tôi nhẹ người khi câu chuyện đột ngột chuyển từ cái chung sang cái cụ thể. Hôm xem lại ghi chép.
— Phu nhân Phrăng-xít, — anh nói tiếp, — là người cuối cùng còn sống trong dòng trực hệ của cố bá tước Rúp-tơn. Anh còn nhớ, điền sản đã truyền cho dòng nam. Bà được để lại một khoản tiền có hạn, cùng mấy món trang sức Tây Ban Nha cổ rất đặc biệt bằng bạc và kim cương cắt gọt kỳ lạ mà bà vô cùng gắn bó, gắn bó quá mức, vì bà không chịu gửi chúng ở ngân hàng mà luôn mang theo người. Phu nhân Phrăng-xít là một nhân vật khá đáng thương, một phụ nữ đẹp, vẫn còn tươi tắn ở tuổi trung niên, thế mà bởi một sự xoay vần kỳ lạ, lại là con tàu trôi dạt cuối cùng của cả một hạm đội hùng hậu chỉ mới hai mươi năm trước.
— Vậy bà ấy đã gặp chuyện gì?
— À, phu nhân Phrăng-xít đã gặp chuyện gì? Bà còn sống hay đã chết? Bài toán của ta là ở đó. Bà là người có thói quen chính xác, và suốt bốn năm nay, bà không bao giờ bỏ lệ cứ hai tuần lại viết thư cho cô Đóp-ni, cô giáo cũ của bà, người đã nghỉ hưu từ lâu và sống ở Cam-bơ-oen. Chính cô Đóp-ni này đã tới nhờ tôi. Đã gần năm tuần trôi qua mà không có một chữ. Lá thư cuối cùng gửi từ khách sạn Quốc Gia ở Lô-dan. Có vẻ phu nhân Phrăng-xít đã rời khỏi đó mà không để lại địa chỉ. Gia đình rất lo lắng, và vì họ cực kỳ giàu có, nên nếu ta làm sáng tỏ được chuyện này thì họ chẳng tiếc khoản tiền nào.
— Cô Đóp-ni là nguồn tin duy nhất sao? Chắc chắn bà ấy còn thư từ với người khác?
— Có một người thư từ chắc chắn đáng tin, Oát-xơn. Đó là ngân hàng. Những phụ nữ độc thân cũng phải sống, và sổ ngân hàng của họ là những cuốn nhật ký thu gọn. Bà gửi tiền ở ngân hàng Xin-vét-xtơ. Tôi đã xem qua tài khoản của bà. Tấm séc áp chót là để trả hoá đơn ở Lô-dan, nhưng là một tấm séc lớn, có lẽ bà còn giữ lại tiền mặt. Từ đó tới nay chỉ có một tấm séc được rút ra.
— Cho ai, và ở đâu?
— Cho cô Ma-ri Đơ-vin. Không có gì cho biết tấm séc được viết ở đâu. Nó được lĩnh tiền ở ngân hàng Tín dụng Ly-ông tại Mông-pơ-li-ê chưa đầy ba tuần trước. Số tiền là năm mươi bảng.
— Cô Ma-ri Đơ-vin là ai?
— Điều đó tôi cũng đã tìm ra được. Cô Ma-ri Đơ-vin là hầu gái của phu nhân Phrăng-xít Ca-pháp. Tại sao bà lại trả cho cô ta tấm séc ấy thì ta chưa xác định được. Tuy vậy, tôi không nghi ngờ gì rằng những cuộc điều tra của anh sẽ sớm làm sáng tỏ chuyện này.
— Những cuộc điều tra của tôi!
— Vì thế mới có chuyến đi bồi bổ sức khoẻ tới Lô-dan. Anh biết tôi không thể rời Luân Đôn trong lúc lão Áp-ra-ham đang sợ chết khiếp như thế. Vả lại, theo nguyên tắc chung, tôi tốt nhất không nên rời khỏi nước. Không có tôi, Xcốt-len Y-át thấy cô đơn, còn giới tội phạm lại kích động một cách không lành mạnh. Vậy anh đi đi, Oát-xơn thân mến, và nếu lời khuyên khiêm tốn của tôi có bao giờ đáng giá tới mức hai xu một chữ, thì nó luôn sẵn sàng phục vụ anh ngày đêm, ở đầu kia đường dây điện tín xuyên lục địa.
Hai ngày sau, tôi đã có mặt ở khách sạn Quốc Gia tại Lô-dan, được ông Mô-de, viên quản lý nổi tiếng, tiếp đón hết sức lịch sự. Ông cho biết phu nhân Phrăng-xít đã ở đó vài tuần. Ai gặp bà cũng mến. Bà không quá bốn mươi tuổi. Bà vẫn còn đẹp, và mọi dấu hiệu cho thấy thời trẻ hẳn bà là một người phụ nữ rất kiều diễm. Ông Mô-de không biết gì về đồ trang sức quý, nhưng người hầu có để ý thấy chiếc rương nặng trong phòng ngủ của bà lúc nào cũng khoá cẩn thận. Ma-ri Đơ-vin, cô hầu gái, cũng được mến như bà chủ. Cô thực ra đã đính hôn với một trong những bồi bàn trưởng của khách sạn, nên chẳng khó gì lấy được địa chỉ của cô. Đó là số 11 phố Tơ-ra-giăng, Mông-pơ-li-ê. Tôi ghi lại tất cả những điều ấy, và cảm thấy chính Hôm cũng không thể khéo léo hơn trong việc thu thập sự kiện.
Chỉ còn một góc vẫn nằm trong bóng tối. Không chút ánh sáng nào tôi có làm rõ được nguyên nhân bà ra đi đột ngột. Bà rất vui ở Lô-dan. Có đủ lý do để tin rằng bà định ở lại cả mùa trong dãy phòng sang trọng nhìn ra hồ. Vậy mà bà đã ra đi chỉ sau một ngày báo trước, phải trả không một tuần tiền phòng. Chỉ có Giuyn Vi-ba, người yêu của cô hầu gái, đưa ra được một gợi ý. Anh ta gắn chuyến ra đi đột ngột ấy với việc một hai ngày trước có một người đàn ông cao lớn, ngăm đen, để râu tới khách sạn.
— Một gã man rợ, một gã man rợ thật sự! — Giuyn Vi-ba kêu lên.
Người đàn ông ấy thuê phòng đâu đó trong thành phố. Người ta thấy hắn nói chuyện rất gay gắt với phu nhân trên con đường dạo ven hồ. Rồi hắn tới tìm. Bà từ chối không gặp. Hắn là người Anh, nhưng không có ghi chép gì về tên hắn. Ngay sau đó phu nhân rời đi. Giuyn Vi-ba, và điều quan trọng hơn, người yêu của Giuyn Vi-ba, cho rằng cuộc ghé thăm và chuyến ra đi ấy là nguyên nhân và hậu quả. Chỉ có một điều Giuyn không chịu bàn. Đó là lý do vì sao Ma-ri bỏ bà chủ. Về chuyện ấy anh ta không thể hoặc không muốn nói gì. Nếu tôi muốn biết thì phải tới Mông-pơ-li-ê hỏi cô ấy.
Thế là kết thúc chương đầu cuộc điều tra của tôi. Chương thứ hai dành cho nơi phu nhân Phrăng-xít Ca-pháp đã tìm tới khi rời Lô-dan. Về chuyện này có phần bí mật, càng xác nhận ý nghĩ rằng bà ra đi với ý định cắt đuôi một kẻ nào đó. Nếu không thì tại sao hành lý của bà không được dán nhãn đi Ba-đơn một cách công khai? Cả bà lẫn hành lý đều tới thị trấn nước khoáng bên sông Ranh ấy bằng một đường vòng. Chừng ấy tôi biết được từ viên quản lý văn phòng du lịch ở địa phương. Vậy là tôi tới Ba-đơn, sau khi gửi cho Hôm bản tường trình mọi việc mình làm, và nhận được một bức điện trả lời khen ngợi nửa đùa nửa thật.
Ở Ba-đơn thì lần theo dấu vết chẳng khó. Phu nhân Phrăng-xít đã ở khách sạn Anh hai tuần. Trong thời gian ấy bà làm quen với một tiến sĩ Sơ-lê-xinh-gơ và vợ, ông là một nhà truyền giáo từ Nam Mỹ về. Như phần lớn các quý bà cô đơn, phu nhân Phrăng-xít tìm niềm an ủi và việc làm trong tôn giáo. Nhân cách đặc biệt của tiến sĩ Sơ-lê-xinh-gơ, lòng tận tuỵ hết mình của ông, và việc ông đang hồi phục sau một căn bệnh mắc phải khi làm sứ mệnh truyền giáo, đã làm bà xúc động sâu sắc. Bà đã giúp bà Sơ-lê-xinh-gơ chăm sóc vị thánh đang dưỡng bệnh. Theo lời viên quản lý tả với tôi, ông dành cả ngày trên một chiếc ghế dài ngoài hiên, mỗi bên có một quý bà túc trực. Ông đang soạn một tấm bản đồ Đất Thánh, đặc biệt chú trọng vương quốc của dân Ma-đi-an, đề tài ông đang viết một chuyên khảo. Cuối cùng, khi sức khoẻ đã khá lên nhiều, hai vợ chồng ông về Luân Đôn, và phu nhân Phrăng-xít đi cùng họ. Chuyện ấy mới ba tuần trước, và từ đó viên quản lý không nghe tin gì nữa. Còn cô hầu gái Ma-ri thì đã bỏ đi trước đó vài ngày, nước mắt giàn giụa, sau khi bảo những cô hầu khác rằng cô sẽ thôi đi ở mãi mãi. Tiến sĩ Sơ-lê-xinh-gơ đã thanh toán hoá đơn cho cả đoàn trước khi đi.
— Nhân tiện, — cuối cùng ông chủ khách sạn nói, — ông không phải người bạn duy nhất của phu nhân Phrăng-xít Ca-pháp hiện đang hỏi thăm bà ấy đâu. Mới khoảng một tuần trước có một người đàn ông tới đây hỏi cùng chuyện ấy.
— Ông ta có xưng tên không? — tôi hỏi.
— Không, nhưng ông ta là người Anh, dù thuộc loại khác thường.
— Một gã man rợ? — tôi nói, nối các sự kiện lại theo kiểu người bạn lừng danh của mình.
— Đúng thế. Tả như vậy rất đúng. Hắn là một gã to lớn, râu ria, cháy nắng, trông như hợp với quán trọ nông dân hơn là một khách sạn sang trọng. Tôi nghĩ hắn là kẻ cứng rắn, dữ tợn, loại người tôi không muốn làm mất lòng.
Bí ẩn đã bắt đầu thành hình, như những bóng người hiện rõ dần khi sương mù tan. Đây là một quý bà tốt bụng, ngoan đạo, bị một bóng người đen tối, không buông tha, đuổi theo từ nơi này tới nơi khác. Bà sợ hắn, nếu không bà đã chẳng trốn khỏi Lô-dan. Hắn vẫn đuổi theo. Sớm muộn gì hắn cũng sẽ bắt kịp bà. Hắn đã bắt kịp chưa? Phải chăng đó là bí mật của sự im lặng kéo dài của bà? Những người tốt bụng đi cùng bà không che chở được bà khỏi sự bạo hành hay tống tiền của hắn sao? Mục đích khủng khiếp nào, âm mưu sâu xa nào nằm sau cuộc truy đuổi dai dẳng ấy? Đó là bài toán tôi phải giải.
Tôi viết thư cho Hôm, cho anh thấy tôi đã lần tới gốc rễ sự việc nhanh chóng và chắc chắn thế nào. Đáp lại, tôi nhận được một bức điện hỏi tả hộ cái tai trái của tiến sĩ Sơ-lê-xinh-gơ. Óc khôi hài của Hôm kỳ quặc và đôi khi khó chịu, nên tôi chẳng để ý tới câu đùa không đúng lúc ấy. Thật ra khi bức điện tới, tôi đã ở Mông-pơ-li-ê, lần theo cô hầu gái Ma-ri.
Tôi chẳng khó khăn gì tìm ra người hầu cũ và biết được mọi điều cô có thể kể. Cô là người tận tuỵ, chỉ rời bà chủ vì tin chắc bà đã được người tốt chăm sóc, và vì đám cưới sắp tới của chính cô đằng nào cũng buộc phải chia tay. Cô đau lòng thú nhận rằng trong thời gian ở Ba-đơn, bà chủ có phần cáu bẳn với cô, thậm chí có lần còn tra hỏi cô như thể nghi ngờ cô không ngay thật, và điều đó khiến cuộc chia tay dễ dàng hơn lẽ ra. Phu nhân Phrăng-xít đã tặng cô năm mươi bảng làm quà cưới. Cũng như tôi, Ma-ri hết sức ngờ vực người lạ đã khiến bà chủ phải bỏ Lô-dan. Chính mắt cô đã thấy hắn nắm cổ tay bà hết sức thô bạo ngay trên con đường dạo công cộng ven hồ. Hắn là một kẻ dữ tợn, khủng khiếp. Cô tin rằng chính vì sợ hắn mà phu nhân Phrăng-xít đã nhận lời để vợ chồng Sơ-lê-xinh-gơ đưa về Luân Đôn. Bà chưa bao giờ nói với Ma-ri về chuyện ấy, nhưng nhiều dấu hiệu nhỏ đã khiến cô hầu tin rằng bà chủ sống trong nỗi lo sợ thường trực. Cô kể tới đó thì bỗng bật dậy khỏi ghế, mặt co rúm vì ngạc nhiên và sợ hãi.
— Nhìn kìa! — cô kêu lên. — Tên vô lại vẫn còn bám theo! Chính là gã đàn ông tôi đang kể đấy.
Qua cửa sổ phòng khách đang mở, tôi thấy một gã đàn ông to lớn, ngăm đen, râu đen tua tủa, đang chậm rãi đi giữa phố, háo hức nhìn số nhà. Rõ ràng, cũng như tôi, hắn đang lần theo cô hầu gái. Theo sự thôi thúc nhất thời, tôi lao ra chặn hắn lại.
— Ông là người Anh, — tôi nói.
— Thì sao? — hắn hỏi, cau mày cực kỳ hung dữ.
— Tôi có thể hỏi tên ông không?
— Không, không được, — hắn nói dứt khoát.
Tình thế thật khó xử, nhưng cách thẳng thừng nhất thường lại là cách tốt nhất.
— Phu nhân Phrăng-xít Ca-pháp đâu? — tôi hỏi.
Hắn sửng sốt nhìn tôi.
— Ông đã làm gì bà ấy? Tại sao ông đuổi theo bà ấy? Tôi đòi ông phải trả lời! — tôi nói.
Gã kia gầm lên giận dữ và lao vào tôi như hổ. Tôi đã đứng vững trong nhiều trận vật lộn, nhưng gã này có bàn tay sắt và cơn cuồng nộ của quỷ dữ. Tay hắn đã bóp lấy cổ tôi, và tôi gần như mê đi thì một người thợ Pháp râu ria lởm chởm, mặc áo khoác vải xanh, từ một quán rượu bên kia đường lao ra, tay cầm dùi cui, giáng một cú đau điếng vào cẳng tay kẻ tấn công tôi, buộc hắn phải buông ra. Hắn đứng sôi sục giận dữ trong giây lát, phân vân có nên tấn công tiếp không. Rồi hắn gầm gừ bỏ tôi lại, đi vào ngôi nhà tôi vừa bước ra. Tôi quay lại cảm ơn người đã cứu mình, người đang đứng cạnh tôi giữa đường.
— Chà, Oát-xơn, — anh nói, — anh làm rối tung rối mù lên đẹp quá đấy! Tôi nghĩ anh nên theo tôi về Luân Đôn bằng chuyến tàu tốc hành đêm nay thì hơn.
Một tiếng sau, Sơ-lốc Hôm, trong trang phục và dáng vẻ thường ngày, đã ngồi trong phòng riêng của tôi ở khách sạn. Lời giải thích cho sự xuất hiện đột ngột và đúng lúc của anh đơn giản vô cùng: thấy có thể rời Luân Đôn được, anh quyết định đón đầu tôi ở chặng hiển nhiên tiếp theo trong chuyến đi của tôi. Cải trang thành một người thợ, anh ngồi trong quán rượu chờ tôi xuất hiện.
— Anh đã tiến hành một cuộc điều tra nhất quán lạ lùng, Oát-xơn thân mến, — anh nói. — Lúc này tôi không nhớ ra được sai lầm nào có thể mắc mà anh lại bỏ sót. Toàn bộ kết quả việc anh làm là gây báo động khắp nơi mà chẳng phát hiện được gì.
— Có lẽ anh cũng chẳng làm được hơn, — tôi cay đắng đáp.
— Chẳng có "có lẽ" gì cả. Tôi đã làm được hơn. Đây là ngài Phi-líp Grin, người cùng trọ với anh ở khách sạn này, và có thể ta sẽ thấy ông ấy là điểm khởi đầu cho một cuộc điều tra thành công hơn.
Một tấm danh thiếp được đưa lên trên khay, theo sau là chính gã râu ria hung dữ đã tấn công tôi ngoài phố. Ông ta giật mình khi thấy tôi.
— Thế này là thế nào, ông Hôm? — ông ta hỏi. — Tôi nhận được thư ông và đã tới. Nhưng người này thì dính dáng gì tới chuyện này?
— Đây là người bạn cũ kiêm cộng sự của tôi, bác sĩ Oát-xơn, người đang giúp chúng ta trong việc này.
Người lạ chìa bàn tay to lớn cháy nắng ra, kèm vài lời xin lỗi.
— Mong là tôi không làm ông đau. Khi ông buộc tội tôi làm hại bà ấy, tôi mất tự chủ. Thật tình dạo này tôi không làm chủ được mình. Thần kinh tôi như những sợi dây điện đang có dòng chạy. Nhưng tình thế này vượt quá sức tôi. Điều tôi muốn biết trước hết, ông Hôm, là làm thế quái nào ông lại biết có tôi trên đời.
— Tôi có liên lạc với cô Đóp-ni, cô giáo của phu nhân Phrăng-xít.
— Bà Xu-dan Đóp-ni già với chiếc mũ vải trùm đầu! Tôi nhớ bà ấy lắm.
— Và bà ấy cũng nhớ ông. Đó là hồi trước khi... trước khi ông thấy đi Nam Phi thì tốt hơn.
— À, tôi thấy ông biết hết chuyện của tôi rồi. Tôi chẳng cần giấu ông điều gì. Tôi thề với ông, ông Hôm, trên đời này chưa từng có người đàn ông nào yêu một người phụ nữ bằng tình yêu trọn vẹn như tôi yêu Phrăng-xít. Tôi biết hồi trẻ tôi là một gã ngông cuồng, cũng chẳng tệ hơn những kẻ cùng tầng lớp. Nhưng tâm hồn nàng trong trắng như tuyết. Nàng không chịu nổi một chút thô lỗ nào. Vì thế, khi nghe về những chuyện tôi đã làm, nàng không muốn nói chuyện với tôi nữa. Thế mà nàng vẫn yêu tôi, điều kỳ diệu là ở đó! Yêu tôi tới mức chỉ vì tôi mà ở vậy suốt những ngày tháng thánh thiện của mình. Khi năm tháng qua đi và tôi đã kiếm được tiền ở Bác-bơ-tơn, tôi nghĩ có lẽ mình có thể tìm nàng và làm nàng mủi lòng. Tôi đã nghe tin nàng vẫn chưa lấy chồng. Tôi tìm thấy nàng ở Lô-dan và đã thử mọi cách tôi biết. Tôi nghĩ nàng đã yếu lòng, nhưng ý chí nàng mạnh mẽ, và lần sau tôi tới thì nàng đã rời thành phố. Tôi lần theo nàng tới Ba-đơn, rồi ít lâu sau nghe tin cô hầu gái của nàng ở đây. Tôi là một gã thô lỗ, vừa rời một cuộc sống thô ráp, nên khi bác sĩ Oát-xơn nói với tôi như thế, tôi đã mất tự chủ trong chốc lát. Nhưng vì Chúa, xin hãy cho tôi biết phu nhân Phrăng-xít ra sao rồi.
— Đó là việc chúng tôi phải tìm ra, — Sơ-lốc Hôm nói với vẻ nghiêm trọng khác thường. — Địa chỉ của ông ở Luân Đôn là gì, ông Grin?
— Cứ tìm ở khách sạn Lang-ham là gặp.
— Vậy tôi xin khuyên ông quay về đó và sẵn sàng phòng khi tôi cần tới ông. Tôi không muốn khơi lên những hy vọng hão huyền, nhưng ông có thể yên tâm rằng mọi điều có thể làm sẽ được làm vì sự an toàn của phu nhân Phrăng-xít. Lúc này tôi không thể nói gì thêm. Tôi để lại cho ông tấm thiếp này để ông giữ liên lạc với chúng tôi. Giờ thì, Oát-xơn, nếu anh xếp xong hành lý, tôi sẽ đánh điện cho bà Hớt-xơn chuẩn bị thật chu đáo cho hai lữ khách đói meo vào bảy giờ rưỡi sáng mai.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám