Chương 1: Túp lều của Pi-tơ Đen
Chưa bao giờ tôi thấy bạn tôi sung sức hơn, cả về trí óc lẫn thể chất, như vào năm chín mươi lăm. Danh tiếng ngày càng lớn đã đem tới cho anh vô số việc, và tôi sẽ là kẻ bất cẩn nếu dù chỉ ám chỉ tới danh tính của một vài thân chủ lừng lẫy đã bước qua ngưỡng cửa khiêm tốn của chúng tôi ở phố Bây-cơ. Nhưng Hôm, như mọi nghệ sĩ lớn, sống vì nghệ thuật. Trừ vụ công tước Hôn-đơ-nét, hiếm khi tôi thấy anh đòi một khoản thù lao lớn cho những việc giúp vô giá của mình. Anh coi nhẹ chuyện đời, hay có lẽ là thất thường, tới mức thường từ chối giúp những kẻ quyền thế, giàu sang nếu vấn đề của họ không làm anh động lòng, trong khi lại dành hàng tuần trời chuyên tâm cao độ cho chuyện của một thân chủ nghèo hèn nào đó, chỉ vì vụ việc có những nét lạ lùng, kịch tính, khơi gợi trí tưởng tượng và thách thức tài khéo của anh.
Trong năm chín mươi lăm đáng nhớ ấy, một loạt vụ việc lạ lùng và chẳng ăn nhập gì với nhau đã thu hút sự chú ý của anh. Các vụ ấy trải từ cuộc điều tra nổi tiếng về cái chết đột ngột của hồng y Tốt-ca, một cuộc điều tra anh tiến hành theo mong muốn đích thân của Đức Giáo hoàng, cho tới việc anh bắt Uyn-xơn, tay huấn luyện chim hoàng yến khét tiếng, nhờ đó nhổ được một cái ung nhọt khỏi khu Đông Luân Đôn. Ngay sau hai vụ nổi tiếng ấy là tấn thảm kịch ở trại Út-mân-li, cùng những tình tiết hết sức mù mờ quanh cái chết của thuyền trưởng Pi-tơ Ke-ri. Ghi chép nào về công việc của Sơ-lốc Hôm cũng sẽ không đầy đủ nếu thiếu đôi dòng kể về vụ án hết sức khác thường này.
Trong tuần đầu tháng Bảy, bạn tôi vắng nhà thường xuyên và lâu tới mức tôi biết anh đang có việc gì đó trong tay. Việc có mấy gã đàn ông trông thô lỗ tới hỏi thuyền trưởng Ba-dơn trong thời gian ấy cho tôi hiểu rằng Hôm đang làm việc ở đâu đó dưới một trong vô số lốt cải trang và tên giả mà anh dùng để che giấu con người đáng gờm thật sự của mình. Anh có ít nhất năm chỗ ẩn náu nhỏ ở các khu khác nhau của Luân Đôn, nơi anh có thể thay đổi nhân dạng. Anh không nói gì với tôi về công việc, còn tôi thì không có thói quen gặng hỏi chuyện người ta không muốn kể. Dấu hiệu rõ ràng đầu tiên anh cho tôi biết về hướng đi của cuộc điều tra lại hết sức kỳ quặc. Anh ra ngoài từ trước bữa sáng, và tôi vừa ngồi vào bàn ăn thì anh sải bước vào phòng, mũ vẫn trên đầu, một ngọn lao khổng lồ có ngạnh kẹp dưới nách như kẹp cái ô.
— Trời đất, Hôm! tôi kêu lên. Lẽ nào anh đã đi khắp Luân Đôn với cái thứ ấy?
— Tôi đi xe tới hàng thịt rồi về.
— Hàng thịt?
— Và tôi về với một cái bụng đói cồn cào. Oát-xơn thân mến, chẳng có gì phải bàn về lợi ích của việc tập thể dục trước bữa sáng. Nhưng tôi dám cược là anh không đoán được tôi đã tập theo kiểu gì đâu.
— Tôi sẽ không thử đoán.
Anh cười khúc khích trong lúc rót cà phê.
— Nếu anh ghé nhìn vào gian sau hiệu thịt của Ơ-la-đai, anh sẽ thấy một con lợn chết treo lủng lẳng trên móc trần nhà, và một quý ông mặc sơ mi xắn tay áo đang hùng hổ đâm nó bằng thứ vũ khí này. Tôi chính là con người hăng hái ấy, và tôi đã tự chứng minh được rằng dù dùng hết sức cũng không thể đâm xuyên con lợn chỉ bằng một nhát. Có lẽ anh muốn thử?
— Có cho vàng tôi cũng không thử. Nhưng sao anh lại làm thế?
— Vì tôi thấy nó gián tiếp liên quan tới bí ẩn ở trại Út-mân-li. A, Hóp-kin, tôi đã nhận được điện của anh tối qua, và đang chờ anh. Lại đây ngồi với chúng tôi.
Vị khách của chúng tôi là một người hết sức lanh lợi, ba mươi tuổi, mặc bộ đồ vải tuýt giản dị, nhưng vẫn giữ dáng đứng thẳng của người đã quen mặc đồng phục. Tôi nhận ra ngay đó là Xtan-li Hóp-kin, một thanh tra cảnh sát trẻ mà Hôm đặt nhiều hy vọng vào tương lai, còn anh thì luôn bày tỏ lòng ngưỡng mộ và kính trọng như học trò đối với những phương pháp khoa học của nhà điều tra nghiệp dư lừng danh. Trán Hóp-kin cau lại, và anh ngồi xuống với vẻ chán nản sâu sắc.
— Không, cảm ơn ông. Tôi ăn sáng trước khi tới rồi. Tôi ngủ lại thành phố, vì hôm qua tôi lên đây để báo cáo.
— Thế anh báo cáo gì?
— Thất bại, thưa ông, thất bại hoàn toàn.
— Anh chưa tiến được bước nào?
— Chưa.
— Trời! Tôi phải xem qua vụ này mới được.
— Lạy trời, tôi mong ông chịu xem, ông Hôm. Đây là cơ hội lớn đầu tiên của tôi, mà tôi thì đã cùng đường. Xin ông vì lòng tốt mà xuống đó giúp tôi một tay.
— Thôi được, thôi được, tình cờ là tôi đã đọc khá kỹ mọi chứng cứ hiện có, kể cả biên bản phiên khám nghiệm tử thi. Nhân tiện, anh nghĩ sao về cái túi đựng thuốc lá tìm thấy ở hiện trường? Không có manh mối gì ở đó sao?
Hóp-kin có vẻ ngạc nhiên.
— Đó là túi thuốc của chính nạn nhân, thưa ông. Bên trong có chữ cái đầu tên ông ta. Mà nó làm bằng da hải cẩu, còn ông ta lại là một tay săn hải cẩu lão luyện.
— Nhưng ông ta không có tẩu.
— Không, thưa ông, chúng tôi không tìm thấy tẩu. Thật ra ông ta hút rất ít, nhưng biết đâu ông ta giữ chút thuốc để mời bạn.
— Hẳn là vậy. Tôi chỉ nhắc tới nó vì nếu tôi điều tra vụ này, tôi sẽ có xu hướng lấy nó làm điểm khởi đầu. Nhưng bạn tôi, bác sĩ Oát-xơn, chẳng biết gì về chuyện này, và tôi cũng chẳng hại gì nếu được nghe lại trình tự sự việc một lần nữa. Anh phác qua những điểm chính cho chúng tôi nghe.
Xtan-li Hóp-kin rút một mẩu giấy trong túi ra.
— Tôi có ghi vài mốc thời gian ở đây, sẽ cho ông biết cuộc đời của người chết, thuyền trưởng Pi-tơ Ke-ri. Ông ta sinh năm 1845, thọ năm mươi tuổi. Ông ta là một tay săn hải cẩu và săn cá voi hết sức liều lĩnh và thành đạt. Năm 1883 ông ta chỉ huy con tàu hơi nước săn hải cẩu “Kỳ Lân Biển” của cảng Đăn-đi. Hồi ấy ông ta đã có mấy chuyến đi biển thành công liên tiếp, và năm sau, 1884, ông ta nghỉ hưu. Sau đó ông ta đi du lịch vài năm, rồi cuối cùng mua một chỗ nhỏ tên là trại Út-mân-li, gần Phô-rét Râu, ở hạt Xu-xếch. Ông ta sống ở đó sáu năm, và chết ở đó đúng một tuần trước tính tới hôm nay.
Con người này có vài điểm hết sức kỳ lạ. Ngày thường ông ta là một tín đồ Thanh giáo khắt khe, một kẻ ít nói, u ám. Gia đình gồm vợ, con gái hai mươi tuổi, và hai người hầu nữ. Hai người hầu này cứ thay liên tục, vì chỗ làm ấy chưa bao giờ vui vẻ gì, và có lúc còn quá sức chịu đựng. Ông ta là kẻ say rượu từng đợt, và khi cơn say ập tới thì ông ta là một con quỷ thực sự. Người ta biết có lần ông ta đuổi vợ con ra khỏi nhà giữa đêm khuya, quất roi đuổi họ chạy khắp khu vườn cho tới khi cả làng ngoài cổng thức dậy vì tiếng kêu thét.
Có lần ông ta bị gọi ra toà vì đã hành hung dã man ông mục sư già, người tới khuyên răn ông ta về cách cư xử. Tóm lại, ông Hôm ạ, ông phải đi rất xa mới tìm được một kẻ nguy hiểm hơn Pi-tơ Ke-ri, và tôi nghe nói hồi chỉ huy tàu ông ta cũng y như thế. Trong nghề người ta gọi ông ta là Pi-tơ Đen, cái tên ấy không chỉ vì nước da ngăm đen và màu bộ râu rậm của ông ta, mà còn vì những cơn tính khí khiến mọi người quanh ông ta khiếp sợ. Tôi chẳng cần nói rằng hàng xóm ai cũng ghê tởm và tránh xa ông ta, và tôi chưa nghe được một lời thương tiếc nào cho cái chết khủng khiếp của ông ta.
Hẳn ông đã đọc trong biên bản phiên khám nghiệm về cái buồng tàu của ông ta, ông Hôm, nhưng có lẽ bạn ông chưa nghe. Ông ta tự dựng một căn nhà gỗ phụ, lúc nào ông ta cũng gọi nó là buồng tàu, cách nhà chính vài trăm mét, và đêm nào ông ta cũng ngủ ở đó. Đó là một túp lều nhỏ một gian, rộng chừng năm mét nhân ba mét. Ông ta giữ chìa khoá trong túi, tự dọn giường, tự quét dọn, và không cho bất cứ ai bước qua ngưỡng cửa. Mỗi bên có một cửa sổ nhỏ, che rèm và không bao giờ mở. Một trong hai cửa sổ ấy quay ra đường cái, và ban đêm khi đèn sáng ở đó, người ta thường chỉ cho nhau, tự hỏi Pi-tơ Đen đang làm gì trong ấy. Chính cửa sổ đó, ông Hôm ạ, đã cho chúng tôi một trong số ít chứng cứ chắc chắn được đưa ra ở phiên khám nghiệm.
Hẳn ông còn nhớ có một người thợ đá tên là Xlây-tơ, khoảng một giờ sáng đi bộ từ Phô-rét Râu về, hai ngày trước án mạng, đã dừng lại khi đi ngang khu đất và nhìn ô vuông sáng đèn vẫn còn le lói giữa hàng cây. Anh ta thề rằng thấy rõ trên tấm rèm bóng đầu một người đàn ông quay nghiêng, và cái bóng ấy chắc chắn không phải của Pi-tơ Ke-ri, người mà anh ta biết rõ. Đó là bóng một người có râu, nhưng râu ngắn và vểnh ra phía trước, khác hẳn râu của ông thuyền trưởng. Anh ta nói thế, nhưng anh ta đã ngồi quán rượu hai tiếng, mà từ đường tới cửa sổ cũng khá xa. Vả lại, đó là chuyện tối thứ Hai, còn án mạng xảy ra vào thứ Tư.
Hôm thứ Ba, Pi-tơ Ke-ri đang trong một cơn tồi tệ nhất, mặt đỏ gay vì rượu và hung dữ như một con thú hoang nguy hiểm. Ông ta đi lang thang khắp nhà, và đàn bà trong nhà hễ nghe tiếng ông ta tới là bỏ chạy. Tối muộn, ông ta xuống túp lều của mình. Khoảng hai giờ sáng hôm sau, cô con gái, vốn ngủ mở cửa sổ, nghe từ phía ấy vọng lại một tiếng gào khủng khiếp nhất, nhưng khi say ông ta vẫn hay gào thét, nên chẳng ai để ý. Bảy giờ sáng, khi thức dậy, một cô hầu thấy cửa túp lều để mở, nhưng nỗi sợ ông ta gieo rắc lớn tới mức phải tới trưa mới có người dám xuống xem ông ta ra sao. Nhìn vào qua cánh cửa để mở, họ thấy một cảnh tượng khiến họ mặt cắt không còn giọt máu, chạy bán sống bán chết về làng. Chưa đầy một tiếng sau, tôi đã có mặt tại chỗ và nhận vụ án.
Chà, như ông biết đấy, ông Hôm, thần kinh tôi khá vững, nhưng tôi thề với ông là tôi đã rùng mình khi thò đầu vào căn nhà nhỏ ấy. Ruồi nhặng vo ve trong đó như tiếng một cây đàn đạp hơi, còn sàn và tường thì như một lò mổ. Ông ta gọi nó là buồng tàu, mà đúng là buồng tàu thật, vì ông sẽ tưởng mình đang ở trên một con tàu. Một đầu có giường ngủ, một chiếc rương thuỷ thủ, bản đồ và hải đồ, một bức tranh tàu “Kỳ Lân Biển”, một dãy sổ nhật ký hàng hải trên giá, tất cả y như ta vẫn hình dung trong phòng một ông thuyền trưởng. Và kia, chính giữa phòng, là chính ông ta, gương mặt méo xệch như một linh hồn lạc lối đang bị đày đoạ, bộ râu lớn lốm đốm dựng ngược lên trong cơn đau đớn. Một ngọn lao móc săn cá voi bằng thép đã đâm xuyên qua bộ ngực rộng của ông ta, cắm sâu vào gỗ tường phía sau. Ông ta bị ghim lên đó như con bọ cánh cứng bị ghim trên tấm bìa. Dĩ nhiên ông ta đã chết hẳn, và đã chết ngay từ lúc buông ra tiếng gào đau đớn cuối cùng.
Tôi biết phương pháp của ông, và tôi đã áp dụng chúng. Trước khi cho động vào bất cứ thứ gì, tôi đã xem xét hết sức kỹ mặt đất bên ngoài, cả sàn phòng nữa. Không có dấu chân nào cả.
— Ý anh là anh không thấy dấu chân nào?
— Tôi cam đoan với ông là không có, thưa ông.
— Anh Hóp-kin thân mến, tôi đã điều tra nhiều vụ án, nhưng chưa từng thấy vụ nào do một sinh vật biết bay gây ra. Chừng nào tên tội phạm còn đi bằng hai chân, chừng đó còn phải có một vết lõm, một vết trầy, một sự xê dịch nhỏ nhặt nào đó mà người tìm kiếm có phương pháp khoa học có thể phát hiện. Thật không thể tin rằng căn phòng vấy máu ấy chẳng có dấu vết gì giúp được chúng ta. Nhưng qua biên bản phiên khám nghiệm, tôi được biết là có vài đồ vật mà anh cũng không bỏ sót?
Viên thanh tra trẻ nhăn mặt trước những lời mỉa mai của bạn tôi.
— Tôi thật ngu khi không mời ông tới ngay lúc ấy, ông Hôm. Nhưng giờ thì chẳng cứu vãn được nữa. Vâng, trong phòng có mấy đồ vật đáng chú ý đặc biệt. Một là ngọn lao móc đã được dùng để gây án. Nó bị giật xuống từ một giá treo trên tường. Còn hai ngọn nữa vẫn ở đó, và có một chỗ trống cho ngọn thứ ba. Trên cán có khắc chữ: tàu hơi nước “Kỳ Lân Biển”, Đăn-đi. Điều này dường như cho thấy tội ác được thực hiện trong một phút giận dữ, và kẻ giết người đã vớ lấy thứ vũ khí đầu tiên trong tầm tay. Việc tội ác xảy ra lúc hai giờ sáng mà Pi-tơ Ke-ri vẫn ăn mặc chỉnh tề cho thấy ông ta có hẹn với kẻ giết người, và điều này được củng cố bởi việc trên bàn có một chai rượu rum và hai chiếc cốc bẩn.
— Phải, Hôm nói. Tôi nghĩ cả hai suy luận đều chấp nhận được. Trong phòng có loại rượu nào khác ngoài rum không?
— Có, trên chiếc rương thuỷ thủ có một giá rượu có khoá đựng rượu mạnh và uýt-ki. Nhưng nó chẳng quan trọng gì với chúng ta, vì các bình rượu đều đầy, vậy là chưa ai dùng tới.
— Dù vậy, việc nó có mặt ở đó cũng có ý nghĩa, Hôm nói. Nhưng ta hãy nghe thêm về những đồ vật mà anh thấy có liên quan tới vụ án.
— Có cái túi thuốc lá này trên bàn.
— Ở chỗ nào trên bàn?
— Nó nằm chính giữa. Nó làm bằng da hải cẩu thô, loại da lông thẳng, có sợi dây da để buộc. Bên trong nắp có hai chữ P. C. Trong túi có chừng mười lăm gam thuốc lá nặng loại dân đi biển hay hút.
— Tuyệt vời! Còn gì nữa?
Xtan-li Hóp-kin rút trong túi ra một cuốn sổ bìa màu xám xỉn. Bìa ngoài sần sùi, sờn rách, các trang giấy đã ngả màu. Trên trang đầu có viết ba chữ cái J. H. N. và năm 1883. Hôm đặt nó lên bàn và xem xét tỉ mỉ theo lối của anh, trong khi Hóp-kin và tôi nhìn qua hai bên vai anh. Trang thứ hai có in ba chữ C. P. R., rồi tới mấy trang toàn con số. Một đề mục khác là Ác-hen-ti-na, một đề mục khác là Cốt-xta Ri-ca, một đề mục nữa là Xao Pao-lô, sau mỗi đề mục là mấy trang ký hiệu và con số.
— Anh thấy mấy cái này là gì? Hôm hỏi.
— Có vẻ là danh sách các loại chứng khoán ở Sở Giao dịch. Tôi nghĩ J. H. N. là chữ cái đầu tên của một người môi giới, còn C. P. R. có thể là khách hàng của ông ta.
— Thử nghĩ tới Đường sắt Thái Bình Dương Ca-na-đa xem, Hôm nói. Viết tắt tiếng Anh đúng là ba chữ ấy.
Xtan-li Hóp-kin chửi thầm qua kẽ răng, nắm tay đấm vào đùi.
— Tôi ngốc quá! anh kêu lên. Dĩ nhiên là đúng như ông nói. Vậy thì J. H. N. là mấy chữ cái duy nhất còn phải giải. Tôi đã xem các danh sách cũ của Sở Giao dịch, và không tìm thấy ai vào năm 1883, kể cả trong Sở lẫn trong số môi giới bên ngoài, có tên viết tắt trùng khớp. Nhưng tôi cảm thấy đây là manh mối quan trọng nhất tôi đang nắm. Ông Hôm, ông cũng phải thừa nhận có khả năng đó là chữ cái đầu tên của người thứ hai có mặt, nói cách khác, của kẻ giết người. Tôi cũng xin lưu ý rằng việc có một tài liệu liên quan tới cả đống chứng khoán giá trị lớn xuất hiện trong vụ án lần đầu tiên cho ta một dấu hiệu về động cơ gây án.
Gương mặt Sơ-lốc Hôm cho thấy anh hoàn toàn bị bất ngờ trước diễn biến mới này.
— Tôi phải thừa nhận cả hai điểm của anh, anh nói. Tôi thú thật cuốn sổ này, thứ không được đưa ra ở phiên khám nghiệm, làm thay đổi mọi ý kiến tôi đã có. Tôi đã đi tới một giả thuyết về vụ án mà không tìm được chỗ nào cho cái này. Anh đã cố lần theo chứng khoán nào ghi ở đây chưa?
— Hiện đang hỏi ở các văn phòng, nhưng tôi e là sổ đăng ký đầy đủ cổ đông của các công ty Nam Mỹ này nằm ở Nam Mỹ, và phải mất vài tuần mới lần ra được các cổ phần.
Hôm đã xem xét bìa cuốn sổ bằng kính lúp.
— Chắc chắn ở đây có vết bẩn, anh nói.
— Vâng, thưa ông, đó là vết máu. Tôi đã nói là tôi nhặt cuốn sổ này dưới sàn.
— Vết máu ở mặt trên hay mặt dưới?
— Ở mặt áp xuống ván sàn.
— Dĩ nhiên điều đó chứng tỏ cuốn sổ bị đánh rơi sau khi tội ác xảy ra.
— Đúng thế, ông Hôm. Tôi đã nhận ra điểm ấy, và tôi đoán là kẻ giết người đã đánh rơi nó khi vội vã bỏ chạy. Nó nằm gần cửa.
— Tôi đoán là không tìm thấy chứng khoán nào trong số này trong tài sản của người chết?
— Không, thưa ông.
— Anh có lý do gì để nghi là trộm cướp không?
— Không, thưa ông. Có vẻ không có gì bị động tới.
— Trời, đây chắc chắn là một vụ rất thú vị. Rồi còn có một con dao nữa, phải không?
— Một con dao có vỏ, vẫn còn nằm trong vỏ. Nó nằm dưới chân người chết. Bà Ke-ri đã nhận đó là đồ của chồng.
Hôm chìm trong suy nghĩ một lúc.
— Thôi được, cuối cùng anh nói, tôi đoán là tôi phải xuống đó xem qua.
Xtan-li Hóp-kin reo lên vui sướng.
— Cảm ơn ông. Thế thì thật là trút được gánh nặng khỏi lòng tôi.
Hôm giơ ngón tay lắc lắc với viên thanh tra.
— Cách đây một tuần thì việc này dễ hơn nhiều, anh nói. Nhưng ngay cả bây giờ, chuyến đi của tôi cũng chưa chắc đã hoàn toàn vô ích. Oát-xơn, nếu anh rảnh, tôi rất mừng được anh đi cùng. Anh gọi giùm một chiếc xe bốn bánh, Hóp-kin, mười lăm phút nữa chúng ta sẽ sẵn sàng lên đường đi Phô-rét Râu.
Xuống tàu ở một ga xép nhỏ ven đường, chúng tôi đi xe mấy cây số qua những gì còn sót lại của những cánh rừng mênh mông, từng là một phần của khu rừng lớn đã chặn đứng quân xâm lược người Xắc-xông trong một thời gian dài, cái rừng Uyn không thể xuyên thủng, suốt sáu mươi năm là thành luỹ của nước Anh. Những vùng rộng lớn đã bị phát quang, vì đây là nơi có những xưởng luyện sắt đầu tiên của đất nước, và cây cối đã bị đốn để nấu quặng. Giờ những cánh đồng giàu có hơn ở phương Bắc đã giành mất nghề ấy, và chẳng còn gì ngoài những lùm cây xơ xác và những vết sẹo lớn trên mặt đất cho thấy công việc của quá khứ. Ở đây, trên một khoảnh đất trống trên sườn đồi xanh, có một ngôi nhà đá dài, thấp, một con đường cong cong xuyên qua những cánh đồng dẫn tới. Gần đường cái hơn, ba mặt bao quanh bởi bụi cây, là một căn nhà phụ nhỏ, một cửa sổ và cửa ra vào quay về phía chúng tôi. Đó là hiện trường án mạng.
Xtan-li Hóp-kin dẫn chúng tôi vào nhà chính trước, giới thiệu chúng tôi với một người đàn bà hốc hác, tóc bạc, goá phụ của người bị giết. Gương mặt gầy gò, hằn những nếp nhăn sâu, với ánh nhìn kinh hoàng lén lút sâu trong đôi mắt viền đỏ, nói lên bao năm tháng khổ cực và bị đối xử tàn tệ mà bà đã chịu đựng. Đi cùng bà là cô con gái, một cô gái tóc vàng, xanh xao. Đôi mắt cô rực lên đầy thách thức khi cô nói với chúng tôi rằng cô mừng vì cha cô đã chết, và cô chúc phúc cho bàn tay đã giết ông. Pi-tơ Đen Ke-ri đã tạo ra cho mình một gia đình thật khủng khiếp, và chúng tôi nhẹ cả người khi lại được ra ngoài nắng, đi dọc lối mòn mà chính đôi chân người chết đã giẫm mòn băng qua cánh đồng.
Căn nhà phụ là một nơi ở hết sức đơn sơ, tường gỗ, mái lợp ván, một cửa sổ cạnh cửa ra vào, một cửa sổ ở phía bên kia. Xtan-li Hóp-kin rút chìa khoá trong túi ra, vừa cúi xuống ổ khoá thì khựng lại, mặt lộ vẻ chú ý và ngạc nhiên.
— Có người đã động vào nó, anh nói.
Không còn nghi ngờ gì nữa. Gỗ bị khứa, những vết xước trắng hiện rõ qua lớp sơn, như vừa mới bị rạch. Hôm đã xem xét cửa sổ.
— Có người cũng đã cố cạy cái này. Kẻ đó, dù là ai, đã không vào được. Hẳn đó là một tên trộm rất tồi.
— Chuyện này thật lạ lùng hết sức, viên thanh tra nói. Tôi dám thề là tối hôm qua chưa có những vết này.
— Có lẽ là một người tò mò nào đó trong làng, tôi đoán.
— Rất khó. Ít ai dám đặt chân vào khu đất này, nói gì tới chuyện cạy cửa vào túp lều. Ông nghĩ sao, ông Hôm?
— Tôi nghĩ vận may đang rất ưu ái chúng ta.
— Ý ông là kẻ đó sẽ quay lại?
— Rất có khả năng. Hắn tới, tưởng sẽ thấy cửa mở. Hắn cố vào bằng lưỡi một con dao nhíp rất nhỏ. Hắn không làm được. Hắn sẽ làm gì?
— Đêm sau quay lại với một dụng cụ tốt hơn.
— Tôi cũng nghĩ vậy. Nếu ta không có mặt ở đây để đón hắn thì là lỗi của chúng ta. Trong lúc chờ, cho tôi xem bên trong túp lều.
Dấu vết của tấn thảm kịch đã được dọn đi, nhưng đồ đạc trong căn phòng nhỏ vẫn để nguyên như đêm xảy ra án mạng. Suốt hai tiếng, với sự tập trung cao độ nhất, Hôm lần lượt xem xét từng đồ vật, nhưng nét mặt anh cho thấy cuộc tìm kiếm không thành công. Chỉ có một lần anh dừng lại trong cuộc điều tra nhẫn nại của mình.
— Anh có lấy thứ gì khỏi cái giá này không, Hóp-kin?
— Không, tôi không xê dịch gì cả.
— Có thứ gì đó đã bị lấy đi. Góc này của cái giá ít bụi hơn chỗ khác. Có thể là một cuốn sách đặt nằm. Có thể là một cái hộp. Thôi được, thôi được, tôi chẳng làm gì hơn được nữa. Ta đi dạo trong những cánh rừng đẹp đẽ này đi, Oát-xơn, dành vài giờ cho chim chóc và hoa lá. Lát nữa chúng tôi sẽ gặp lại anh ở đây, Hóp-kin, xem có giáp mặt được với quý ông đã tới thăm đêm qua không.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám