Truyện Đỉnh

🔍 Truyện trinh thám

Vua của những kẻ tống tiền

Sơ-lốc Hôm: Sác-lơ Min-vơ-tơn · Chương 1/2 · của Arthur Conan Doyle

⏱ 18 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 16.690 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07Những sự việc tôi sắp kể đã xảy ra…
  2. 4:03Thế hắn tới đây làm gì?
  3. 6:22Thưa ông, nói ra thì tôi đau lòng lắm,…
  4. 7:47Min-vơ-tơn ngồi phịch trở lại ghế.
  5. 10:31Ra đứng sau lưng hắn, Oát-xơn! Đừng để hắn…
  6. 12:57Với cô hầu gái của Min-vơ-tơn.
  7. 14:25Anh bạn thân mến, tôi đã cân nhắc mọi…
  8. 16:39Thôi được, thôi được, anh bạn thân mến, cứ…

Chương 1: Vua của những kẻ tống tiền

Những sự việc tôi sắp kể đã xảy ra từ nhiều năm trước, vậy mà tôi vẫn ngại ngần khi nhắc tới. Trong một thời gian dài, dù kín đáo và dè dặt tới đâu, cũng không thể nào công bố các sự việc này. Nhưng giờ đây nhân vật chính có liên quan đã ở ngoài tầm với của luật pháp trần gian, và với sự lược bỏ cần thiết, câu chuyện có thể được kể theo cách không làm hại tới ai. Nó ghi lại một trải nghiệm hoàn toàn có một không hai trong sự nghiệp của cả ông Sơ-lốc Hôm lẫn tôi. Xin độc giả lượng thứ nếu tôi giấu đi ngày tháng hay bất cứ chi tiết nào khác có thể giúp lần ra sự việc có thật.

Hôm và tôi đi dạo buổi tối như thường lệ, và về tới nhà vào khoảng sáu giờ, một buổi tối mùa đông lạnh giá, sương giá phủ đầy. Khi Hôm vặn to ngọn đèn, ánh sáng rọi lên một tấm danh thiếp trên bàn. Anh liếc nhìn, rồi buột ra một tiếng ghê tởm và ném nó xuống sàn. Tôi nhặt lên đọc: Sác-lơ Ô-gớt-tớt Min-vơ-tơn, dinh Áp-pơn-đo, Hem-xtét, người môi giới.

— Ông ta là ai? tôi hỏi.

— Kẻ tồi tệ nhất Luân Đôn, Hôm đáp, ngồi xuống và duỗi chân trước lò sưởi. Mặt sau tấm danh thiếp có gì không?

Tôi lật lại.

— Sẽ ghé lúc sáu rưỡi, ký tên tắt C. A. M., tôi đọc.

— Hừm! Sắp tới giờ rồi. Oát-xơn, anh có thấy một cảm giác rờn rợn, co rúm người lại khi đứng trước chuồng rắn ở vườn thú, nhìn những sinh vật trơn tuột, trườn lượn, đầy nọc độc, với đôi mắt chết chóc và cái mặt dẹt độc ác không? Chà, Min-vơ-tơn gây cho tôi đúng cảm giác ấy. Trong nghề tôi đã phải đối phó với năm chục kẻ giết người, nhưng kẻ tồi tệ nhất trong số chúng cũng chưa từng khiến tôi ghê tởm như gã này. Vậy mà tôi không thể tránh làm việc với hắn. Thật ra chính tôi đã mời hắn tới đây.

— Nhưng hắn là ai?

— Tôi sẽ nói anh nghe, Oát-xơn. Hắn là vua của mọi kẻ tống tiền. Cầu trời giúp người đàn ông, và nhất là người đàn bà, nào để bí mật và danh dự của mình rơi vào tay Min-vơ-tơn! Với gương mặt tươi cười và trái tim bằng đá cẩm thạch, hắn sẽ vắt, vắt mãi cho tới khi họ khô kiệt. Gã này là một thiên tài theo kiểu của hắn, và đáng lẽ đã nổi danh trong một nghề nào đó tử tế hơn. Phương pháp của hắn thế này. Hắn để người ta biết rằng hắn sẵn sàng trả những món tiền rất lớn cho những lá thư có thể làm mất danh dự người giàu có, có địa vị. Hắn nhận những món hàng ấy không chỉ từ đám người hầu phản chủ, mà thường từ những tay lưu manh hào nhoáng đã chiếm được lòng tin và tình cảm của những người đàn bà cả tin. Hắn chi tiền không hề keo kiệt. Tôi tình cờ biết được hắn đã trả bảy trăm bảng cho một tên hầu để mua một mẩu thư dài hai dòng, và kết quả là cả một gia đình quý tộc tan nát. Thứ gì có trên thị trường cũng về tay Min-vơ-tơn, và trong thành phố lớn này có hàng trăm người tái mặt khi nghe tên hắn. Không ai biết bàn tay hắn sẽ chụp xuống đâu, vì hắn quá giàu và quá xảo quyệt, chẳng cần làm ăn kiểu kiếm ngày nào ăn ngày ấy. Hắn sẽ giữ một quân bài hàng năm trời để đánh ra đúng lúc ván cược có giá nhất. Tôi đã nói hắn là kẻ tồi tệ nhất Luân Đôn, và tôi hỏi anh, làm sao có thể so sánh kẻ côn đồ trong cơn nóng giận đập chết bạn mình với gã này, kẻ thong thả, có phương pháp, tra tấn tâm hồn và vắt kiệt thần kinh người ta chỉ để làm cho những túi tiền vốn đã căng phồng của hắn phồng thêm?

Hiếm khi tôi nghe bạn tôi nói với cảm xúc mãnh liệt đến thế.

— Nhưng chắc chắn, tôi nói, gã này phải nằm trong tầm tay của pháp luật chứ?

— Về lý thuyết thì hẳn là vậy, nhưng trên thực tế thì không. Chẳng hạn, một người đàn bà được lợi gì khi khiến hắn ngồi tù vài tháng, nếu ngay sau đó chính bà ta sẽ thân bại danh liệt? Nạn nhân của hắn không dám đánh trả. Giá mà hắn tống tiền một người vô tội thì quả thật ta đã tóm được hắn, nhưng hắn xảo quyệt như quỷ dữ. Không, không, chúng ta phải tìm cách khác để đấu với hắn.

— Thế hắn tới đây làm gì?

— Vì một thân chủ danh giá đã trao vào tay tôi hoàn cảnh đáng thương của mình. Đó là tiểu thư Ê-va Bléc-oen, cô gái mới ra mắt xã hội đẹp nhất mùa hội vừa rồi. Hai tuần nữa cô sẽ kết hôn với bá tước Đô-vơ-cót. Tên quỷ này đang giữ mấy lá thư thiếu thận trọng, thiếu thận trọng thôi, Oát-xơn ạ, không có gì tệ hơn, mà cô đã viết cho một điền chủ trẻ nghèo ở thôn quê. Chừng ấy cũng đủ làm đổ vỡ cuộc hôn nhân. Min-vơ-tơn sẽ gửi những lá thư ấy cho bá tước, trừ phi hắn được trả một món tiền lớn. Tôi được uỷ thác gặp hắn và thương lượng điều kiện tốt nhất có thể.

Đúng lúc ấy có tiếng lóc cóc, lạch cạch dưới đường. Nhìn xuống, tôi thấy một cỗ xe sang trọng hai ngựa, những ngọn đèn sáng rực ánh lên trên cặp mông bóng loáng của hai con ngựa hồng tuyệt đẹp. Một người hầu mở cửa xe, và một người đàn ông nhỏ con, béo lùn mặc áo choàng lông cừu non xù xì bước xuống. Một phút sau ông ta đã ở trong phòng.

Sác-lơ Ô-gớt-tớt Min-vơ-tơn là một người đàn ông năm mươi tuổi, đầu to ra dáng trí thức, mặt tròn, đầy đặn, nhẵn nhụi không râu, một nụ cười đông cứng thường trực, và đôi mắt xám sắc sảo lấp lánh sau cặp kính gọng vàng to bản. Dáng vẻ ông ta có chút gì đó hiền hậu như ông Píc-uých trong truyện, chỉ bị phá hỏng bởi sự giả dối của nụ cười bất động và ánh nhìn sắc lạnh của đôi mắt không yên, soi mói ấy. Giọng ông ta trơn tru, ngọt ngào như vẻ mặt, khi ông ta bước tới chìa bàn tay nhỏ múp míp, lẩm bẩm bày tỏ tiếc nuối vì lần đầu ghé đã không gặp chúng tôi. Hôm lờ đi bàn tay chìa ra, nhìn ông ta với gương mặt lạnh như đá hoa cương. Nụ cười của Min-vơ-tơn càng rộng ra. Ông ta nhún vai, cởi áo choàng, gấp thật chậm rãi vắt lên lưng ghế, rồi ngồi xuống.

— Quý ông này thì sao? ông ta nói, phẩy tay về phía tôi. Có kín đáo không? Có ổn không?

— Bác sĩ Oát-xơn là bạn và là cộng sự của tôi.

— Tốt lắm, ông Hôm. Tôi phản đối chỉ vì quyền lợi của thân chủ ông thôi. Chuyện này tế nhị lắm...

— Bác sĩ Oát-xơn đã biết chuyện rồi.

— Vậy ta có thể bàn chuyện làm ăn. Ông bảo ông đại diện cho tiểu thư Ê-va. Cô ấy có cho ông quyền chấp nhận điều kiện của tôi không?

— Điều kiện của ông là gì?

— Bảy nghìn bảng.

— Còn nếu không?

— Thưa ông, nói ra thì tôi đau lòng lắm, nhưng nếu tiền không được trả vào ngày 14, thì chắc chắn sẽ không có đám cưới vào ngày 18.

Nụ cười khó chịu của ông ta càng tự mãn hơn bao giờ hết.

Hôm suy nghĩ một lúc.

— Tôi thấy, cuối cùng anh nói, ông có vẻ coi mọi chuyện là chuyện đương nhiên quá. Dĩ nhiên tôi biết nội dung những lá thư ấy. Thân chủ của tôi chắc chắn sẽ làm theo lời tôi khuyên. Tôi sẽ khuyên cô ấy kể hết mọi chuyện với chồng sắp cưới và trông vào lòng độ lượng của anh ta.

Min-vơ-tơn cười khúc khích.

— Rõ ràng ông không biết bá tước, ông ta nói.

Nhìn vẻ bối rối trên mặt Hôm, tôi thấy rõ là anh biết.

— Những lá thư ấy có gì nguy hại? anh hỏi.

— Chúng tinh nghịch lắm, rất tinh nghịch, Min-vơ-tơn đáp. Cô tiểu thư viết thư duyên dáng lắm. Nhưng tôi cam đoan với ông rằng bá tước Đô-vơ-cót sẽ chẳng biết thưởng thức chúng đâu. Tuy vậy, vì ông nghĩ khác, ta cứ để chuyện ấy đấy. Đây hoàn toàn là chuyện làm ăn. Nếu ông nghĩ rằng để những lá thư ấy rơi vào tay bá tước là có lợi nhất cho thân chủ của ông, thì quả thật ông sẽ thật dại dột nếu trả một món tiền lớn như thế để lấy lại chúng.

Ông ta đứng dậy, vớ lấy chiếc áo choàng lông cừu.

Hôm tái xám vì giận và nhục.

— Khoan đã, anh nói. Ông đi nhanh quá. Trong một chuyện tế nhị như thế này, dĩ nhiên chúng tôi sẽ cố hết sức để tránh tai tiếng.

Min-vơ-tơn ngồi phịch trở lại ghế.

— Tôi biết chắc là ông sẽ nhìn nhận theo hướng ấy, ông ta nói, giọng gừ gừ như mèo.

— Đồng thời, Hôm nói tiếp, tiểu thư Ê-va không phải người giàu có. Tôi cam đoan với ông rằng hai nghìn bảng đã là một khoản làm cạn kiệt của cải của cô ấy, còn số tiền ông đưa ra thì hoàn toàn vượt quá khả năng của cô ấy. Vì vậy tôi xin ông giảm bớt yêu sách, và trả lại những lá thư với cái giá tôi đưa ra, mà tôi cam đoan là cao nhất ông có thể lấy được.

Nụ cười của Min-vơ-tơn càng rộng ra, mắt ông ta lấp lánh vẻ hài hước.

— Tôi biết điều ông nói về của cải của cô tiểu thư là đúng, ông ta nói. Đồng thời ông phải công nhận rằng dịp một cô gái đi lấy chồng là dịp rất thích hợp để bạn bè và họ hàng cô ấy cố gắng một chút vì cô ấy. Có thể họ đang phân vân không biết nên tặng quà cưới gì. Tôi xin cam đoan với họ rằng bó thư nho nhỏ này sẽ đem lại niềm vui nhiều hơn tất cả chân nến và đĩa đựng bơ ở Luân Đôn.

— Không thể được, Hôm nói.

— Ôi trời, ôi trời, thật đáng tiếc! Min-vơ-tơn kêu lên, rút ra một cuốn sổ tay dày cộm. Tôi không thể không nghĩ rằng các quý bà thật thiếu khôn ngoan khi không chịu cố gắng. Xem này!

Ông ta giơ lên một lá thư nhỏ đựng trong phong bì có in huy hiệu.

— Cái này thuộc về... chà, có lẽ nói tên ra trước sáng mai thì không công bằng lắm. Nhưng tới lúc đó nó sẽ nằm trong tay chồng của quý bà ấy. Và tất cả chỉ vì bà ấy không chịu kiếm một món tiền còm, thứ mà bà ấy có thể có được chỉ bằng cách đổi kim cương thành đồ giả. Thật là đáng tiếc! Này, ông còn nhớ vụ hôn ước giữa cô Mai-lơ và đại tá Đoóc-kinh đột ngột tan vỡ chứ? Chỉ hai ngày trước đám cưới, tờ “Bưu điện Buổi sáng” đăng một mẩu tin báo rằng đám cưới đã huỷ. Vì sao vậy? Thật gần như không tin nổi, nhưng chỉ một món tiền vô lý là một nghìn hai trăm bảng thôi cũng đã giải quyết xong mọi chuyện. Chẳng đáng thương sao? Thế mà ở đây tôi lại thấy ông, một người hiểu lý lẽ, cứ dùng dằng về điều kiện, trong khi tương lai và danh dự của thân chủ ông đang bị đe doạ. Ông làm tôi ngạc nhiên đấy, ông Hôm.

— Điều tôi nói là sự thật, Hôm đáp. Không kiếm đâu ra số tiền ấy. Chắc chắn ông nhận món tiền đáng kể tôi đưa ra thì tốt hơn là huỷ hoại cuộc đời người đàn bà này, điều chẳng đem lại lợi lộc gì cho ông?

— Ông nhầm ở chỗ đó đấy, ông Hôm. Một vụ phơi bày sẽ gián tiếp đem lại cho tôi lợi lộc khá lớn. Tôi đang có tám, mười vụ tương tự sắp chín muồi. Nếu tin đồn lan ra trong số họ rằng tôi đã trừng phạt nặng tiểu thư Ê-va làm gương, thì tôi sẽ thấy tất cả bọn họ biết điều hơn nhiều. Ông hiểu ý tôi chứ?

Hôm bật dậy khỏi ghế.

— Ra đứng sau lưng hắn, Oát-xơn! Đừng để hắn ra ngoài! Nào, thưa ông, ta xem trong cuốn sổ tay kia có gì.

Min-vơ-tơn đã lướt nhanh như chuột ra sát mép phòng, đứng tựa lưng vào tường.

— Ông Hôm, ông Hôm, ông ta nói, lật vạt áo, để lộ báng một khẩu súng lục to thò ra từ túi trong. Tôi đã chờ ông làm một điều gì đó độc đáo. Trò này người ta đã làm nhiều lần lắm rồi, mà có bao giờ được tích sự gì đâu? Tôi cam đoan với ông là tôi được vũ trang tận răng, và tôi hoàn toàn sẵn sàng dùng vũ khí, vì biết rằng pháp luật sẽ đứng về phía tôi. Vả lại, ông đoán rằng tôi mang những lá thư tới đây trong một cuốn sổ tay là hoàn toàn sai. Tôi chẳng bao giờ làm điều gì dại dột như thế. Còn bây giờ, thưa các ông, tối nay tôi còn một hai cuộc gặp nho nhỏ, mà đường về Hem-xtét thì xa.

Ông ta bước tới, cầm lấy áo choàng, đặt tay lên khẩu súng lục, rồi quay ra cửa. Tôi nhấc một chiếc ghế lên, nhưng Hôm lắc đầu, và tôi lại đặt xuống. Với một cái cúi chào, một nụ cười và một cái nháy mắt, Min-vơ-tơn ra khỏi phòng. Lát sau chúng tôi nghe tiếng cửa xe đóng sầm và tiếng bánh xe lạch cạch khi ông ta đi khỏi.

Hôm ngồi bất động bên lò sưởi, hai tay thọc sâu vào túi quần, cằm gục xuống ngực, mắt dán vào đống than hồng. Suốt nửa tiếng anh im lặng, bất động. Rồi với cử chỉ của một người đã quyết, anh bật dậy, đi vào phòng ngủ. Lát sau, một chàng thợ trẻ có dáng phóng đãng, râu dê, đi đứng nghênh ngang, châm chiếc tẩu đất sét bên ngọn đèn trước khi xuống phố.

— Lúc nào đó tôi sẽ về, Oát-xơn, anh nói, rồi biến vào bóng đêm.

Tôi hiểu anh đã mở chiến dịch chống lại Sác-lơ Ô-gớt-tớt Min-vơ-tơn, nhưng tôi chẳng ngờ chiến dịch ấy sẽ mang một hình thù lạ lùng đến thế.

Suốt mấy ngày, Hôm đi đi về về bất kể giờ giấc trong bộ dạng ấy. Ngoài một câu bảo rằng anh dành thời gian ở Hem-xtét, và thời gian ấy không uổng phí, tôi chẳng biết gì về việc anh làm. Nhưng cuối cùng, vào một buổi tối mưa gió bão bùng, gió gào thét và đập lạch cạch vào cửa sổ, anh trở về sau chuyến đi cuối cùng, cởi bỏ đồ cải trang, rồi ngồi trước lò sưởi cười sảng khoái theo cái lối cười thầm trong bụng của anh.

— Anh không cho tôi là hạng đàn ông thích lấy vợ chứ, Oát-xơn?

— Không, dĩ nhiên là không!

— Vậy anh sẽ thích thú khi nghe tin tôi đã đính hôn.

— Anh bạn thân mến! Xin chúc...

— Với cô hầu gái của Min-vơ-tơn.

— Trời đất ơi, Hôm!

— Tôi cần thông tin, Oát-xơn.

— Như thế chẳng phải anh đi quá xa rồi sao?

— Đó là một bước hết sức cần thiết. Tôi là một thợ sửa ống nước đang làm ăn khấm khá, tên là Ét-cốt. Tối nào tôi cũng đi dạo với cô ấy, trò chuyện với cô ấy. Lạy Chúa, những cuộc trò chuyện ấy! Nhưng dù sao tôi đã có tất cả những gì mình cần. Tôi biết nhà Min-vơ-tơn rõ như lòng bàn tay.

— Nhưng còn cô gái, Hôm?

Anh nhún vai.

— Biết làm sao được, Oát-xơn thân mến. Khi ván cược lớn đến thế bày trên bàn, anh phải đánh các quân bài tốt nhất có thể. Nhưng tôi mừng mà nói rằng tôi có một tình địch đáng ghét, kẻ chắc chắn sẽ hất cẳng tôi ngay khi tôi quay lưng đi. Đêm nay đẹp tuyệt vời!

— Anh thích thời tiết này à?

— Nó hợp với mục đích của tôi. Oát-xơn, đêm nay tôi định đột nhập nhà Min-vơ-tơn.

Tôi nghẹt thở, da lạnh toát khi nghe những lời ấy, được nói ra chậm rãi bằng một giọng quyết tâm tập trung cao độ. Như một tia chớp trong đêm soi rõ trong khoảnh khắc mọi chi tiết của một vùng hoang dã, chỉ trong một cái nhìn, tôi như thấy hết mọi hậu quả có thể có của một việc làm như thế: bị phát hiện, bị bắt, cả một sự nghiệp vẻ vang kết thúc trong thất bại và ô nhục không gì cứu vãn, chính bạn tôi nằm trong tay tên Min-vơ-tơn ghê tởm.

— Lạy Chúa, Hôm, hãy nghĩ xem anh đang làm gì, tôi kêu lên.

— Anh bạn thân mến, tôi đã cân nhắc mọi mặt. Tôi chẳng bao giờ hấp tấp trong hành động, và tôi sẽ không chọn một con đường quyết liệt, và quả thật nguy hiểm như thế, nếu còn con đường nào khác. Ta hãy xét vấn đề cho rõ ràng, công bằng. Tôi đoán anh sẽ thừa nhận rằng hành động này chính đáng về mặt đạo đức, dù về mặt luật pháp là phạm tội. Đột nhập nhà hắn chẳng khác gì dùng sức giật lấy cuốn sổ tay của hắn, một việc mà anh đã sẵn sàng giúp tôi.

Tôi lật đi lật lại điều ấy trong đầu.

— Phải, tôi nói, nó chính đáng về mặt đạo đức, chừng nào mục đích của chúng ta là không lấy thứ gì ngoài những thứ bị dùng vào mục đích phi pháp.

— Đúng vậy. Vì nó chính đáng về mặt đạo đức, tôi chỉ còn phải xét tới rủi ro cho bản thân. Chắc chắn một quý ông không nên quá bận tâm tới điều đó, khi một quý bà đang hết sức tuyệt vọng cần anh ta giúp?

— Anh sẽ ở vào một vị thế sai trái biết bao.

— Chà, đó là một phần của rủi ro. Không còn cách nào khác để lấy lại những lá thư. Cô gái bất hạnh không có tiền, và trong gia đình cô không có ai để cô tin cậy. Mai là ngày cuối cùng của hạn chót, và nếu đêm nay không lấy được những lá thư, tên khốn này sẽ làm đúng như lời hắn nói, và gây nên sự huỷ hoại của cô. Vậy tôi phải hoặc bỏ mặc thân chủ cho số phận, hoặc đánh quân bài cuối cùng này. Nói riêng giữa chúng ta thôi, Oát-xơn, đây là một cuộc đọ sức sòng phẳng giữa gã Min-vơ-tơn này với tôi. Như anh thấy đấy, hắn đã thắng ở những đợt giao đấu đầu, nhưng lòng tự trọng và danh tiếng của tôi buộc tôi phải đấu tới cùng.

— Chà, tôi không thích chuyện này, nhưng tôi đoán là phải thế thôi, tôi nói. Khi nào chúng ta đi?

— Anh không đi.

— Vậy thì anh cũng không đi, tôi nói. Tôi xin lấy danh dự mà thề, và cả đời tôi chưa từng thất hứa, rằng tôi sẽ gọi xe tới thẳng đồn cảnh sát tố giác anh, nếu anh không cho tôi cùng tham gia cuộc phiêu lưu này.

— Anh không giúp được tôi đâu.

— Sao anh biết? Anh đâu biết trước chuyện gì có thể xảy ra. Dù sao tôi cũng đã quyết. Không chỉ mình anh mới có lòng tự trọng, và cả danh tiếng nữa.

Hôm có vẻ bực mình, nhưng rồi trán anh giãn ra, và anh vỗ vai tôi.

— Thôi được, thôi được, anh bạn thân mến, cứ thế đi. Chúng ta đã ở chung căn phòng này mấy năm nay, nếu rốt cuộc lại ở chung một xà lim thì cũng vui. Anh biết không, Oát-xơn, tôi chẳng ngại thú thật với anh rằng tôi vẫn luôn nghĩ mình sẽ là một tên tội phạm cực kỳ giỏi. Đây là cơ hội của cả đời tôi theo hướng ấy. Xem này!

Anh lấy trong ngăn kéo ra một chiếc hộp da nhỏ gọn, mở ra cho tôi xem một loạt dụng cụ sáng loáng.

— Đây là một bộ đồ nghề phá khoá hạng nhất, tối tân nhất, có xà beng mạ kền, dao cắt kính đầu kim cương, chìa vạn năng, cùng mọi cải tiến hiện đại mà bước tiến của văn minh đòi hỏi. Đây là cả cây đèn bão có chụp che nữa. Mọi thứ đều đâu vào đấy. Anh có đôi giày nào đi không tiếng động không?

— Tôi có đôi giày quần vợt đế cao su.

— Tuyệt vời! Còn mặt nạ?

— Tôi có thể làm hai cái bằng lụa đen.

— Tôi thấy anh có thiên hướng tự nhiên mạnh mẽ cho loại việc này đấy. Tốt lắm, anh làm mặt nạ đi. Ta sẽ ăn tối nguội trước khi đi. Giờ là chín giờ rưỡi. Mười một giờ ta đi xe tới phố Chơ-chơ Râu. Từ đó đi bộ mười lăm phút là tới dinh Áp-pơn-đo. Trước nửa đêm chúng ta đã bắt tay vào việc. Min-vơ-tơn ngủ rất say, và đi ngủ đúng mười giờ rưỡi. Nếu may mắn, hai giờ sáng chúng ta đã về tới đây, những lá thư của tiểu thư Ê-va nằm trong túi tôi.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơ-lốc Hôm: Sác-lơ Min-vơ-tơn

  1. 1Vua của những kẻ tống tiền18 phút
  2. 2Đêm ở dinh Áp-pơn-đoĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảArthur Conan Doyle (1859 – 1930)
Năm mất1930
Xuất bản lần đầu1904
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Adventure of Charles Augustus Milverton, trong tập The Return of Sherlock Holmes, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →