Chương 1: Kẻ ghét Na-pô-lê-ông
Chuyện ông Lét-xtrết ở Sở Cảnh sát ghé thăm chúng tôi vào buổi tối chẳng phải điều gì bất thường, và Sơ-lốc Hôm rất hoan nghênh những lần ghé thăm ấy, vì nhờ đó anh nắm được mọi chuyện đang diễn ra ở trụ sở cảnh sát. Để đáp lại những tin tức Lét-xtrết mang tới, Hôm luôn sẵn lòng chăm chú lắng nghe chi tiết của bất cứ vụ nào viên thám tử đang làm, và đôi khi, không cần trực tiếp can thiệp, anh đưa ra vài lời gợi ý rút ra từ kiến thức và kinh nghiệm mênh mông của mình.
Tối hôm ấy, Lét-xtrết đã nói chuyện thời tiết và chuyện báo chí. Rồi ông im lặng, trầm ngâm rít điếu xì gà. Hôm nhìn ông chăm chú.
— Có vụ gì đáng chú ý không? anh hỏi.
— Ồ, không, ông Hôm, chẳng có gì đặc biệt lắm.
— Vậy kể tôi nghe đi.
Lét-xtrết bật cười.
— Chà, ông Hôm, chối cũng chẳng ích gì, đúng là tôi đang có chuyện trong đầu. Nhưng đó là một chuyện vô lý tới mức tôi ngại làm phiền ông. Mặt khác, dù nó vặt vãnh, nhưng chắc chắn là kỳ quặc, mà tôi biết ông mê mọi thứ khác thường. Có điều, theo tôi, nó thuộc lĩnh vực của bác sĩ Oát-xơn hơn là của chúng ta.
— Bệnh tật à? tôi nói.
— Dù sao thì cũng là chứng điên. Mà là một chứng điên kỳ quặc. Ông khó mà nghĩ rằng thời buổi này lại có kẻ căm ghét Na-pô-lê-ông Đệ Nhất tới mức hễ thấy tượng ông ta ở đâu là đập vỡ.
Hôm ngả người ra ghế.
— Chuyện đó chẳng phải việc của tôi, anh nói.
— Đúng thế. Tôi cũng nói vậy. Nhưng khi gã ấy đột nhập nhà người ta để đập những pho tượng không phải của mình, thì chuyện lại chuyển từ tay bác sĩ sang tay cảnh sát.
Hôm lại ngồi thẳng dậy.
— Đột nhập! Thế thì thú vị hơn rồi. Cho tôi nghe chi tiết.
Lét-xtrết lấy cuốn sổ công vụ ra, lật xem cho nhớ.
— Vụ đầu tiên được báo cách đây bốn ngày, ông nói. Ở cửa hiệu của ông Moóc Hớt-xơn, một chỗ bán tranh và tượng trên đường Ken-ninh-tơn. Người phụ việc vừa rời gian trước của hiệu một lát thì nghe một tiếng loảng xoảng. Vội chạy vào, anh ta thấy một pho tượng bán thân bằng thạch cao của Na-pô-lê-ông, đặt trên quầy cùng vài tác phẩm nghệ thuật khác, đã vỡ tan tành. Anh ta lao ra đường, nhưng dù vài người qua đường bảo có thấy một gã chạy ra khỏi hiệu, anh ta chẳng thấy ai, cũng chẳng có cách gì nhận dạng tên khốn. Có vẻ đó là một trong những trò phá phách vô nghĩa thỉnh thoảng vẫn xảy ra, và người ta báo cho cảnh sát tuần tra đúng như vậy. Pho tượng thạch cao chỉ đáng vài si-linh, và cả chuyện này có vẻ quá trẻ con, chẳng đáng điều tra kỹ.
Nhưng vụ thứ hai nghiêm trọng hơn, và cũng kỳ lạ hơn. Nó mới xảy ra đêm qua.
Trên đường Ken-ninh-tơn, cách hiệu ông Moóc Hớt-xơn vài trăm mét, có một thầy thuốc nổi tiếng tên là bác sĩ Ba-ni-cốt, một trong những phòng mạch đông khách nhất bờ nam sông Thêm. Nhà riêng và phòng khám chính của ông ở đường Ken-ninh-tơn, nhưng ông còn có một phòng khám phụ kiêm hiệu thuốc trên đường Hạ Brích-xtơn, cách đó hơn ba cây số. Ông bác sĩ Ba-ni-cốt này là một người hâm mộ Na-pô-lê-ông cuồng nhiệt, nhà ông đầy sách, tranh và di vật của vị Hoàng đế Pháp. Cách đây ít lâu ông mua của ông Moóc Hớt-xơn hai bản đúc thạch cao giống hệt nhau của pho tượng đầu Na-pô-lê-ông nổi tiếng do nhà điêu khắc người Pháp Đơ-vin tạc. Một pho ông đặt ở tiền sảnh nhà trên đường Ken-ninh-tơn, pho kia đặt trên mặt lò sưởi ở phòng khám đường Hạ Brích-xtơn. Chà, sáng nay khi bác sĩ Ba-ni-cốt đi xuống nhà, ông kinh ngạc thấy đêm qua nhà mình bị trộm đột nhập, nhưng chẳng mất gì ngoài pho tượng đầu thạch cao ở tiền sảnh. Nó đã bị mang ra ngoài và đập mạnh vào tường vườn, những mảnh vụn được tìm thấy dưới chân tường.
Hôm xoa tay.
— Chuyện này chắc chắn rất mới mẻ, anh nói.
— Tôi biết thế nào ông cũng thích. Nhưng tôi chưa kể hết đâu. Bác sĩ Ba-ni-cốt phải có mặt ở phòng khám lúc mười hai giờ, và ông có thể hình dung ông ấy kinh ngạc thế nào khi tới nơi thấy cửa sổ đã bị mở ra trong đêm, và những mảnh vỡ của pho tượng thứ hai vương vãi khắp phòng. Nó bị đập nát vụn ngay tại chỗ. Ở cả hai nơi đều không có dấu vết nào giúp chúng tôi lần ra tên tội phạm hay kẻ điên đã gây ra trò phá hoại. Đấy, ông Hôm, ông đã có đủ sự việc rồi.
— Chúng thật kỳ lạ, nếu không muốn nói là quái gở, Hôm nói. Cho tôi hỏi, hai pho tượng bị đập ở chỗ bác sĩ Ba-ni-cốt có giống hệt pho bị đập ở hiệu ông Moóc Hớt-xơn không?
— Chúng được đúc từ cùng một khuôn.
— Điều đó hẳn là đi ngược lại giả thuyết rằng gã đập tượng bị chi phối bởi một lòng căm ghét chung chung đối với Na-pô-lê-ông. Ở Luân Đôn hẳn phải có hàng trăm pho tượng vị Hoàng đế vĩ đại ấy, nên thật khó mà cho rằng một kẻ đập phá tượng bừa bãi lại tình cờ bắt đầu bằng ba bản của cùng một pho tượng.
— Chà, tôi cũng nghĩ như ông, Lét-xtrết nói. Mặt khác, ông Moóc Hớt-xơn này là người chuyên cung cấp tượng ở khu ấy của Luân Đôn, và ba pho này là những pho duy nhất đã nằm trong hiệu ông ta mấy năm nay. Vì vậy, dù như ông nói, ở Luân Đôn có hàng trăm pho tượng, thì rất có thể ba pho này là những pho duy nhất trong khu ấy. Nên một kẻ cuồng tín trong vùng sẽ bắt đầu với chúng. Bác sĩ Oát-xơn, ông nghĩ sao?
— Chứng cuồng một ý thì có thể xảy ra đủ kiểu không giới hạn, tôi đáp. Có một tình trạng mà các nhà tâm lý học Pháp hiện đại gọi là ý tưởng cố định, có thể chỉ xoay quanh một chuyện vặt, mà người bệnh vẫn hoàn toàn tỉnh táo về mọi mặt khác. Một người đọc nhiều về Na-pô-lê-ông, hoặc có thể gia đình từng chịu tổn thương nào đó vì cuộc đại chiến, rất có thể hình thành một ý tưởng cố định như thế, và dưới ảnh hưởng của nó, có thể gây ra bất cứ trò quái gở nào.
— Không được đâu, Oát-xơn thân mến, Hôm lắc đầu nói, vì ý tưởng cố định cỡ nào cũng không giúp được kẻ cuồng một ý thú vị của anh biết những pho tượng ấy nằm ở đâu.
— Vậy anh giải thích thế nào?
— Tôi không định giải thích. Tôi chỉ nhận xét rằng trong những hành động kỳ quặc của quý ông này có một phương pháp nhất định. Chẳng hạn, ở tiền sảnh nhà bác sĩ Ba-ni-cốt, nơi tiếng động có thể đánh thức cả nhà, pho tượng được mang ra ngoài rồi mới đập, còn ở phòng khám, nơi ít nguy cơ bị báo động hơn, nó bị đập ngay tại chỗ. Chuyện này có vẻ vặt vãnh tới vô lý, vậy mà tôi không dám coi điều gì là vặt vãnh khi nghĩ lại rằng vài vụ kinh điển nhất của tôi đã khởi đầu chẳng hứa hẹn gì. Anh còn nhớ chứ, Oát-xơn, vụ khủng khiếp của gia đình A-bơ-nét-ti lần đầu được tôi chú ý tới chỉ vì cọng mùi tây chìm sâu tới đâu trong miếng bơ vào một ngày nóng. Vì thế tôi không thể mỉm cười trước ba pho tượng vỡ của ông, Lét-xtrết ạ, và tôi sẽ rất biết ơn nếu ông cho tôi biết mọi diễn biến mới của chuỗi sự việc kỳ lạ này.
Diễn biến mà bạn tôi yêu cầu tới nhanh hơn, và bi thảm hơn vô cùng so với những gì anh có thể hình dung. Sáng hôm sau tôi còn đang thay quần áo trong phòng ngủ thì có tiếng gõ cửa, và Hôm bước vào, tay cầm một bức điện. Anh đọc to: Tới ngay, số 131 phố Pít, Ken-xinh-tơn. Lét-xtrết.
— Chuyện gì vậy? tôi hỏi.
— Không biết, có thể là bất cứ chuyện gì. Nhưng tôi ngờ đây là phần tiếp theo của câu chuyện về những pho tượng. Nếu vậy thì anh bạn đập tượng của chúng ta đã bắt đầu hoạt động ở một khu khác của Luân Đôn. Có cà phê trên bàn đấy, Oát-xơn, và tôi đã có xe đợi ở cửa.
Nửa tiếng sau chúng tôi đã tới phố Pít, một con phố nhỏ yên tĩnh như một nhánh nước tù ngay bên cạnh một trong những dòng chảy sôi động nhất của đời sống Luân Đôn. Số 131 là một trong một dãy nhà mặt tiền phẳng lì, đứng đắn và hết sức kém thơ mộng. Khi xe đỗ lại, chúng tôi thấy hàng rào trước nhà chật kín một đám đông tò mò. Hôm huýt sáo.
— Trời ơi! Ít nhất cũng là một vụ mưu sát. Không thì chẳng giữ chân nổi mấy cậu bé đưa tin ở Luân Đôn. Nhìn đôi vai khom và cái cổ vươn dài của gã kia là thấy có chuyện bạo lực rồi. Gì thế này, Oát-xơn? Mấy bậc trên cùng đã bị dội nước, còn các bậc khác thì khô. Dù sao thì dấu chân cũng nhiều quá! Chà, chà, Lét-xtrết đứng ở cửa sổ phía trước kìa, ta sẽ sớm biết hết thôi.
Viên cảnh sát đón chúng tôi với vẻ mặt rất nghiêm trọng, dẫn chúng tôi vào một phòng khách, nơi một ông già đầu tóc bù xù, kích động tột độ, mặc áo choàng ngủ bằng vải nỉ, đang đi tới đi lui. Ông được giới thiệu với chúng tôi là chủ ngôi nhà, ông Ho-rát Hác-cơ, ở Hãng Thông tấn Trung ương.
— Lại là chuyện tượng Na-pô-lê-ông, Lét-xtrết nói. Tối qua ông có vẻ quan tâm, ông Hôm, nên tôi nghĩ có lẽ ông muốn có mặt khi sự việc đã chuyển sang hướng nghiêm trọng hơn nhiều.
— Vậy nó chuyển sang hướng nào?
— Án mạng. Ông Hác-cơ, ông kể cho các quý ông đây nghe chính xác chuyện gì đã xảy ra được không?
Người đàn ông mặc áo choàng ngủ quay sang chúng tôi, mặt buồn rười rượi.
— Thật là chuyện lạ lùng, ông nói. Cả đời tôi đi thu thập tin tức của người khác, thế mà giờ khi một tin thật sự tìm tới chính tôi, tôi lại rối trí và bực bội tới mức không ghép nổi hai chữ. Giá tôi tới đây với tư cách nhà báo, tôi đã tự phỏng vấn mình và có hai cột báo trên mọi tờ báo chiều. Đằng này tôi lại đem cho không cả một tài liệu quý bằng cách kể đi kể lại câu chuyện của mình cho cả một loạt người khác nhau, mà chính tôi thì chẳng dùng được gì. Nhưng tôi đã nghe tên ông, ông Sơ-lốc Hôm, và nếu ông giải thích được chuyện kỳ quặc này, thì công kể chuyện của tôi cũng được đền đáp.
Hôm ngồi xuống lắng nghe.
— Mọi chuyện dường như xoay quanh pho tượng Na-pô-lê-ông mà tôi mua về đặt chính trong phòng này cách đây khoảng bốn tháng. Tôi mua rẻ ở hãng Anh em Hác-đinh, cách ga Hai Xtrít hai căn nhà. Phần lớn công việc viết báo của tôi làm vào ban đêm, và tôi thường viết tới sáng. Hôm nay cũng vậy. Tôi đang ngồi trong phòng làm việc của mình, ở phía sau tầng trên cùng, khoảng ba giờ, thì tin chắc nghe thấy có tiếng động dưới nhà. Tôi lắng nghe, nhưng không thấy lặp lại, và tôi kết luận là tiếng động từ bên ngoài. Rồi bỗng nhiên, chừng năm phút sau, vang lên một tiếng gào khủng khiếp nhất, âm thanh kinh hoàng nhất mà tôi từng nghe, ông Hôm ạ. Nó sẽ còn vang trong tai tôi suốt đời. Tôi ngồi cứng đờ vì kinh hãi một hai phút. Rồi tôi vớ lấy que cời lửa và đi xuống nhà. Khi vào phòng này, tôi thấy cửa sổ mở toang, và lập tức nhận ra pho tượng trên mặt lò sưởi đã biến mất. Tại sao một tên trộm lại lấy một thứ như thế thì tôi chịu không hiểu nổi, vì nó chỉ là một bản đúc thạch cao, chẳng có giá trị gì thật sự.
Ông tự thấy đấy, ai ra qua ô cửa sổ để mở kia cũng có thể bước một bước dài là tới bậc cửa trước. Rõ ràng tên trộm đã làm thế, nên tôi đi vòng ra mở cửa. Bước ra ngoài bóng tối, tôi suýt vấp phải một người chết đang nằm đó. Tôi chạy vào lấy đèn, và kia là gã tội nghiệp, cổ họng có một vết rạch lớn, cả chỗ ấy ngập trong máu. Gã nằm ngửa, hai đầu gối co lên, miệng há ra khủng khiếp. Tôi sẽ còn thấy gã trong những giấc mơ. Tôi chỉ kịp thổi còi cảnh sát, rồi hẳn là tôi đã ngất đi, vì tôi chẳng biết gì nữa cho tới khi thấy anh cảnh sát đứng bên mình trong tiền sảnh.
— Vậy người bị giết là ai? Hôm hỏi.
— Chẳng có gì cho biết hắn là ai, Lét-xtrết nói. Ông sẽ được xem thi thể ở nhà xác, nhưng tới giờ chúng tôi chưa tìm ra được gì. Hắn cao lớn, da cháy nắng, rất khoẻ, chưa quá ba mươi tuổi. Hắn ăn mặc nghèo nàn, nhưng lại không có vẻ là dân lao động. Một con dao gấp cán sừng nằm trong vũng máu bên cạnh hắn. Đó có phải là hung khí hay là dao của chính người chết, tôi không biết. Quần áo hắn không có tên, trong túi chẳng có gì ngoài một quả táo, ít dây, một tấm bản đồ Luân Đôn giá một si-linh, và một tấm ảnh. Nó đây.
Rõ ràng nó được chụp nhanh bằng một chiếc máy ảnh nhỏ. Ảnh chụp một gã đàn ông lanh lợi, nét mặt sắc, trông như khỉ, lông mày rậm, và phần dưới gương mặt nhô ra rất lạ, như mõm khỉ đầu chó.
— Còn pho tượng thì sao? Hôm hỏi sau khi xem kỹ tấm ảnh.
— Chúng tôi vừa có tin ngay trước khi ông tới. Người ta tìm thấy nó trong vườn trước của một ngôi nhà bỏ trống trên đường Cam-đơn Hao. Nó đã vỡ tan thành mảnh. Giờ tôi định tới đó xem. Ông đi cùng không?
— Dĩ nhiên. Tôi chỉ cần nhìn quanh một chút đã.
Anh xem xét tấm thảm và cửa sổ.
— Gã này hoặc có đôi chân rất dài, hoặc là một người cực kỳ nhanh nhẹn, anh nói. Với cái khoảng sân thấp bên dưới, với tới gờ cửa sổ kia và mở được cửa không phải chuyện dễ. Trở ra thì tương đối đơn giản. Ông có đi với chúng tôi xem những gì còn lại của pho tượng không, ông Hác-cơ?
Nhà báo buồn bã đã ngồi xuống bên bàn viết.
— Tôi phải cố viết được gì đó, ông nói, dù tôi chắc chắn mấy số báo chiều đầu tiên đã đăng đầy đủ chi tiết rồi. Đúng là cái số của tôi! Ông còn nhớ vụ khán đài bị sập ở Đôn-ca-xtơ chứ? Chà, tôi là nhà báo duy nhất có mặt trên khán đài, và báo của tôi lại là tờ duy nhất không có bài tường thuật, vì tôi run quá không viết nổi. Giờ thì tôi sẽ lại chậm chân với một vụ án mạng xảy ra ngay trước cửa nhà mình.
Khi chúng tôi rời phòng, chúng tôi nghe tiếng ngòi bút của ông rít trên trang giấy khổ lớn.
Nơi tìm thấy những mảnh tượng vỡ chỉ cách đó vài trăm mét. Lần đầu tiên mắt chúng tôi được nhìn hình ảnh vị Hoàng đế vĩ đại ấy, thứ dường như đã khơi lên một mối căm hận điên cuồng, tàn phá trong đầu kẻ lạ mặt. Nó nằm rải rác thành từng mảnh vụn trên bãi cỏ. Hôm nhặt vài mảnh lên xem xét kỹ. Nhìn vẻ mặt chăm chú và cử chỉ có chủ đích của anh, tôi tin chắc rằng cuối cùng anh đã chạm tới một manh mối.
— Sao? Lét-xtrết hỏi.
Hôm nhún vai.
— Chúng ta còn cả một chặng đường dài, anh nói. Thế nhưng, thế nhưng, chà, ta đã có vài sự kiện để làm chỗ dựa. Trong mắt tên tội phạm kỳ lạ này, việc chiếm được pho tượng tầm thường kia đáng giá hơn cả một mạng người. Đó là một điểm. Rồi còn một sự việc lạ lùng là hắn không đập nó trong nhà, hay ngay bên ngoài nhà, nếu việc đập vỡ nó là mục đích duy nhất của hắn.
— Hắn rối trí và hoảng loạn vì đụng phải gã kia. Hắn chẳng biết mình đang làm gì nữa.
— Chà, có thể lắm. Nhưng tôi muốn ông đặc biệt chú ý tới vị trí của ngôi nhà này, nơi pho tượng bị đập vỡ trong vườn.
Lét-xtrết nhìn quanh.
— Đây là một ngôi nhà bỏ trống, nên hắn biết sẽ không bị ai quấy rầy trong vườn.
— Phải, nhưng còn một ngôi nhà bỏ trống khác ở phía trên con phố, hắn hẳn phải đi qua đó trước khi tới đây. Sao hắn không đập nó ở đó, khi rõ ràng mỗi bước hắn mang nó đi càng tăng thêm nguy cơ gặp người?
— Tôi chịu thua, Lét-xtrết nói.
Hôm chỉ ngọn đèn đường trên đầu chúng tôi.
— Ở đây hắn nhìn thấy được mình đang làm gì, còn ở kia thì không. Đó là lý do của hắn.
— Trời ơi! Đúng thật, viên thám tử nói. Giờ nghĩ lại, tượng của bác sĩ Ba-ni-cốt cũng bị đập không xa ngọn đèn đỏ trước phòng mạch của ông ấy. Chà, ông Hôm, ta làm gì với sự việc ấy?
— Nhớ lấy nó, ghi chép lại. Sau này có thể ta sẽ gặp điều gì đó liên quan tới nó. Giờ ông định làm gì, Lét-xtrết?
— Theo tôi, cách thực tế nhất để vào việc là xác định danh tính người chết. Việc đó chắc chẳng khó khăn gì. Khi biết hắn là ai và đồng bọn của hắn là ai, ta sẽ có một khởi đầu tốt để tìm hiểu đêm qua hắn làm gì ở phố Pít, và ai đã gặp hắn rồi giết hắn ngay trên bậc cửa nhà ông Ho-rát Hác-cơ. Ông không nghĩ vậy sao?
— Hẳn là vậy, nhưng đó không hẳn là cách tôi sẽ tiếp cận vụ án.
— Vậy ông sẽ làm gì?
— Ồ, ông đừng để tôi ảnh hưởng tới ông chút nào. Tôi đề nghị ông cứ theo hướng của ông, còn tôi theo hướng của tôi. Sau đó ta có thể so sánh ghi chép, mỗi người sẽ bổ sung cho người kia.
— Tốt lắm, Lét-xtrết nói.
— Nếu ông quay lại phố Pít, ông có thể gặp ông Ho-rát Hác-cơ. Nhờ ông nói với ông ấy rằng tôi đã hoàn toàn quyết định, và chắc chắn đêm qua đã có một kẻ điên giết người nguy hiểm, mắc chứng hoang tưởng về Na-pô-lê-ông, vào nhà ông ấy. Điều đó sẽ có ích cho bài báo của ông ấy.
Lét-xtrết nhìn trân trối.
— Ông không tin thế thật đấy chứ?
Hôm mỉm cười.
— Không tin à? Chà, có lẽ là không. Nhưng tôi chắc nó sẽ làm ông Ho-rát Hác-cơ và độc giả của Hãng Thông tấn Trung ương thích thú. Giờ, Oát-xơn, tôi nghĩ ta sẽ thấy trước mặt mình là một ngày làm việc dài và khá phức tạp. Tôi sẽ rất mừng, Lét-xtrết, nếu ông thu xếp gặp chúng tôi ở phố Bây-cơ lúc sáu giờ tối nay. Từ giờ tới lúc đó, tôi muốn giữ tấm ảnh tìm thấy trong túi người chết này. Nếu chuỗi lập luận của tôi hoá ra đúng, có thể tôi sẽ phải nhờ ông đi cùng và giúp sức trong một chuyến đi nho nhỏ cần thực hiện đêm nay. Tạm biệt và chúc may mắn!
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám