Chương 1: Băng trộm ba bố con
Đó là một buổi sáng lạnh buốt, sương giá phủ dày, vào cuối mùa đông năm chín mươi bảy, tôi bị đánh thức vì có người lay vai. Đó là Hôm. Ngọn nến trong tay anh soi lên gương mặt háo hức đang cúi xuống, và chỉ thoáng nhìn tôi đã biết có chuyện.
— Dậy đi, Oát-xơn, dậy đi! — anh kêu lên. — Con mồi đã xuất hiện. Đừng nói gì cả! Mặc quần áo vào rồi đi!
Mười phút sau, cả hai chúng tôi đã ngồi trên xe ngựa, lộc cộc qua những con phố im lìm tới ga Sa-rinh Crốt. Bình minh mùa đông mờ nhạt đầu tiên bắt đầu ló dạng, và chúng tôi lờ mờ thấy bóng một vài người thợ đi làm sớm lướt qua, nhoè nhoẹt trong làn khói sương trắng đục của Luân Đôn. Hôm lặng lẽ thu mình trong chiếc áo khoác dày, và tôi cũng mừng được làm như thế, vì không khí lạnh cắt da, mà cả hai chưa ai ăn gì.
Phải tới khi uống chút trà nóng ở nhà ga và ngồi vào chỗ trên chuyến tàu đi hạt Ken, chúng tôi mới ấm người đủ để anh nói và tôi nghe. Hôm rút trong túi ra một lá thư, đọc to lên:
"Trang viên Áp-bi, Mác-sam, hạt Ken, ba giờ rưỡi sáng. Thưa ông Hôm thân mến, tôi rất mong ông tới giúp ngay trong một vụ hứa hẹn sẽ hết sức đáng chú ý. Nó rất hợp với sở trường của ông. Trừ việc cởi trói cho bà chủ, tôi sẽ giữ mọi thứ y nguyên như khi tôi tìm thấy, nhưng xin ông đừng để mất một phút nào, vì thật khó mà để ngài Iu-xtớt nằm đó. Kính thư, Xtan-li Hốp-kin."
— Hốp-kin đã gọi tôi bảy lần, và lần nào lời mời của anh ta cũng hoàn toàn xác đáng, — Hôm nói. — Tôi đoán vụ nào của anh ta cũng đã lọt vào bộ sưu tập của anh, và tôi phải công nhận, Oát-xơn ạ, anh có tài chọn lọc, điều bù lại khá nhiều chỗ tôi chê trách trong những câu chuyện của anh. Cái thói tai hại của anh là nhìn mọi thứ dưới góc độ một câu chuyện thay vì một bài tập khoa học, đã làm hỏng cả một loạt bài giảng lẽ ra rất bổ ích, thậm chí kinh điển. Anh lướt qua những công việc tinh tế, khéo léo bậc nhất, để sa đà vào những chi tiết giật gân có thể làm người đọc hồi hộp, nhưng không thể nào dạy họ được điều gì.
— Sao anh không tự viết lấy? — tôi nói, có phần cay đắng.
— Tôi sẽ viết, Oát-xơn thân mến, tôi sẽ viết. Hiện giờ thì anh biết đấy, tôi khá bận, nhưng tôi định dành những năm tuổi già để soạn một cuốn sách giáo khoa, gom toàn bộ nghệ thuật điều tra vào một tập. Vụ ta đang tới có vẻ là một vụ giết người.
— Vậy anh nghĩ ngài Iu-xtớt này đã chết?
— Tôi đoán vậy. Nét chữ của Hốp-kin lộ vẻ khá xúc động, mà anh ta không phải người dễ xúc động. Phải, tôi đoán đã có bạo lực, và thi thể được để lại cho ta khám xét. Một vụ tự sát đơn thuần thì anh ta chẳng cho gọi tôi. Còn chuyện cởi trói cho bà chủ, có vẻ bà ta đã bị nhốt trong phòng trong lúc xảy ra thảm kịch. Chúng ta đang bước vào giới thượng lưu đấy, Oát-xơn: giấy viết thư loại dày, có chữ lồng Ê.B., có huy hiệu dòng họ, địa chỉ nghe thật thơ mộng. Tôi nghĩ anh bạn Hốp-kin sẽ không phụ danh tiếng của mình, và ta sẽ có một buổi sáng thú vị. Tội ác xảy ra trước mười hai giờ đêm qua.
— Làm sao anh biết được?
— Xem lịch tàu và tính giờ. Phải gọi cảnh sát địa phương tới, họ phải liên lạc với Xcốt-len Y-át, Hốp-kin phải xuống tận nơi, rồi tới lượt anh ta phải cho người gọi tôi. Tất cả những việc đó đủ chiếm trọn một đêm. Nào, ta tới ga Chi-xơn-hớt rồi, ta sẽ sớm biết thôi.
Đi xe chừng hai dặm qua những con đường quê chật hẹp, chúng tôi tới cổng một khu công viên. Một ông già gác cổng ra mở cửa, gương mặt hốc hác của ông phản chiếu một tai hoạ lớn nào đó. Con đường xe chạy xuyên qua khu công viên tuyệt đẹp, giữa hai hàng du cổ thụ, và dừng trước một ngôi nhà thấp, trải rộng, mặt tiền có hàng cột theo lối kiến trúc Pa-la-đi-ô. Phần giữa nhà rõ ràng rất cổ, phủ kín thường xuân, nhưng những ô cửa sổ lớn cho thấy đã được sửa sang theo lối hiện đại, và một cánh nhà có vẻ hoàn toàn mới. Dáng người trẻ trung và gương mặt lanh lợi, háo hức của thanh tra Xtan-li Hốp-kin hiện ra ở ngưỡng cửa đang mở.
— Tôi rất mừng là ông tới, ông Hôm. Cả ông nữa, bác sĩ Oát-xơn. Nhưng thật ra, nếu được làm lại, tôi đã chẳng làm phiền các ông, vì từ lúc bà chủ tỉnh lại, bà đã kể lại sự việc rõ ràng tới mức chúng ta chẳng còn mấy việc để làm. Ông còn nhớ băng trộm ở Liu-i-sơm chứ?
— Sao, ba bố con nhà Ran-đôn ấy à?
— Đúng thế, ông bố và hai thằng con. Đây là việc của chúng. Tôi không chút nghi ngờ. Hai tuần trước chúng làm một vụ ở Xi-đơn-ham, có người thấy và tả lại được. Làm thêm vụ nữa sớm như vậy và gần như vậy thì cũng lì thật, nhưng chắc chắn là chúng. Lần này thì đủ tội treo cổ.
— Vậy ngài Iu-xtớt đã chết?
— Vâng, đầu ông ấy bị đập vỡ bằng chính que cời lò của ông ấy.
— Người đánh xe bảo tôi đó là ngài Iu-xtớt Brác-ken-xtôn.
— Đúng thế, một trong những người giàu nhất hạt Ken. Phu nhân Brác-ken-xtôn đang ở trong phòng khách buổi sáng. Tội nghiệp bà, bà vừa trải qua một chuyện kinh khủng nhất. Lần đầu tôi thấy bà, bà như đã chết một nửa. Tôi nghĩ tốt nhất ông nên gặp bà và nghe bà kể lại sự việc. Rồi chúng ta sẽ cùng xem xét phòng ăn.
Phu nhân Brác-ken-xtôn không phải người tầm thường. Hiếm khi tôi thấy một dáng người duyên dáng đến thế, một vẻ nữ tính đến thế, một gương mặt đẹp đến thế. Bà có mái tóc vàng óng, đôi mắt xanh, và hẳn đã có làn da hoàn hảo đi kèm với những màu sắc ấy, nếu chuyện vừa xảy ra không làm bà hốc hác, phờ phạc. Bà đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần, vì phía trên một mắt sưng lên một cục bầm tím đỏ như quả mận trông thật ghê, và cô hầu gái của bà, một người phụ nữ cao gầy, nghiêm nghị, đang chăm chú chườm cho bà bằng nước pha giấm. Phu nhân nằm ngả người kiệt sức trên ghế dài, nhưng ánh mắt nhanh nhạy, tinh tường khi chúng tôi bước vào, và vẻ lanh lợi trên gương mặt xinh đẹp, cho thấy cả trí óc lẫn lòng can đảm của bà đều không bị trải nghiệm khủng khiếp kia làm lung lay. Bà khoác một chiếc áo choàng rộng màu xanh lam ánh bạc, nhưng bên cạnh bà trên ghế dài có một chiếc váy dạ tiệc màu đen đính kim sa.
— Tôi đã kể hết với ông mọi chuyện rồi, ông Hốp-kin, — bà mệt mỏi nói. — Ông không thể kể lại thay tôi sao? Thôi được, nếu ông thấy cần, tôi sẽ kể với các ông đây chuyện gì đã xảy ra. Các ông ấy đã vào phòng ăn chưa?
— Tôi nghĩ các ông ấy nên nghe phu nhân kể trước đã.
— Tôi sẽ mừng khi ông thu xếp xong mọi việc. Nghĩ tới chuyện ông ấy vẫn còn nằm đó tôi thấy thật kinh khủng.
Bà rùng mình, úp mặt vào hai tay. Khi bà làm vậy, ống tay áo choàng rộng tuột xuống khỏi cẳng tay. Hôm thốt lên một tiếng.
— Bà còn bị thương chỗ khác, thưa bà! Cái gì thế này?
Hai đốm đỏ tươi nổi lên trên một cánh tay trắng nõn, tròn trịa. Bà vội che lại.
— Không có gì đâu. Nó chẳng liên quan gì tới chuyện kinh khủng đêm nay. Nếu ông và bạn ông vui lòng ngồi xuống, tôi sẽ kể tất cả những gì tôi biết.
— Tôi là vợ ngài Iu-xtớt Brác-ken-xtôn. Chúng tôi cưới nhau được chừng một năm. Tôi nghĩ có cố giấu cũng vô ích rằng cuộc hôn nhân của chúng tôi không hạnh phúc. Tôi e là mọi người hàng xóm sẽ nói thế với các ông, dù tôi có cố chối. Có lẽ một phần lỗi là ở tôi. Tôi lớn lên trong bầu không khí tự do hơn, ít khuôn phép hơn ở miền Nam nước Úc, và lối sống nước Anh này, với đủ thứ lễ nghi phép tắc, không hợp với tôi. Nhưng lý do chính nằm ở một sự thật ai cũng biết: ngài Iu-xtớt là một kẻ nghiện rượu không thể cứu vãn. Ở bên một người như thế một giờ đã khó chịu. Các ông có thể hình dung một người phụ nữ nhạy cảm và giàu nghị lực bị trói buộc với ông ta cả ngày lẫn đêm sẽ ra sao không? Cho rằng một cuộc hôn nhân như thế là ràng buộc thì đó là phạm thánh, là tội ác, là đê tiện. Tôi nói rằng những luật lệ quái gở ấy của các ông sẽ đem lời nguyền rủa xuống đất nước này. Chúa sẽ không để sự xấu xa như thế tồn tại mãi.
Trong một thoáng bà ngồi bật dậy, má đỏ bừng, mắt rực lửa dưới vết bầm kinh khủng trên trán. Rồi bàn tay mạnh mẽ, dịu dàng của cô hầu gái nghiêm nghị kéo đầu bà xuống gối, và cơn giận dữ dội lắng dần thành những tiếng nức nở thổn thức. Cuối cùng bà kể tiếp:
— Tôi sẽ kể về đêm qua. Có lẽ các ông đã biết, trong ngôi nhà này người làm đều ngủ ở cánh nhà mới. Khối nhà giữa gồm các phòng ở, bếp phía sau và phòng ngủ của chúng tôi ở trên. Cô hầu gái của tôi, Tê-rê-xa, ngủ ở tầng trên phòng tôi. Không còn ai khác, và không âm thanh nào có thể làm những người ở cánh nhà xa bên kia giật mình. Bọn trộm hẳn đã biết rõ điều đó, nếu không chúng đã chẳng hành động như vậy.
— Ngài Iu-xtớt đi ngủ khoảng mười giờ rưỡi. Người làm đã về chỗ của họ cả. Chỉ còn cô hầu gái của tôi thức, cô ấy ở trong phòng trên tầng cao nhất chờ tới khi tôi cần. Tôi ngồi trong phòng này tới quá mười một giờ, mải mê đọc sách. Rồi tôi đi một vòng xem mọi thứ có ổn không trước khi lên lầu. Tôi có thói quen tự làm việc này, vì như tôi đã giải thích, ngài Iu-xtớt không phải lúc nào cũng đáng tin. Tôi vào bếp, vào phòng đựng đồ của quản gia, phòng để súng, phòng bi-a, phòng khách, và cuối cùng là phòng ăn. Khi tới gần cửa sổ, nơi có rèm dày che kín, tôi bỗng thấy gió thổi vào mặt và nhận ra cửa đang mở. Tôi gạt rèm sang bên và thấy mình đứng đối mặt với một người đàn ông có tuổi, vai rộng, vừa bước vào phòng. Đó là một ô cửa sổ kiểu Pháp cao, thật ra như một cánh cửa đi ra bãi cỏ. Tay tôi cầm cây nến thắp sáng, và nhờ ánh nến, sau lưng gã đầu tiên tôi thấy hai gã khác đang bước vào. Tôi lùi lại, nhưng gã kia đã xông vào tôi ngay. Hắn chộp cổ tay tôi trước, rồi tới cổ họng. Tôi há miệng định thét, nhưng hắn giáng một cú đấm tàn bạo vào mắt tôi, làm tôi ngã quỵ xuống sàn. Chắc tôi đã bất tỉnh vài phút, vì khi tỉnh lại, tôi thấy chúng đã giật đứt sợi dây chuông, trói chặt tôi vào chiếc ghế gỗ sồi kê ở đầu bàn ăn. Tôi bị trói chặt tới mức không cựa được, và một chiếc khăn bịt miệng khiến tôi không kêu được tiếng nào. Đúng lúc ấy người chồng bất hạnh của tôi bước vào phòng. Rõ ràng ông đã nghe thấy những tiếng động khả nghi, và đã chuẩn bị sẵn cho cảnh tượng như thế. Ông mặc áo ngủ và quần dài, tay cầm cây gậy gỗ mận gai yêu thích. Ông lao vào bọn trộm, nhưng một tên khác, chính là gã có tuổi, cúi xuống nhặt que cời trong lò và giáng cho ông một đòn khủng khiếp khi ông lao qua. Ông ngã xuống, rên lên một tiếng rồi không bao giờ cử động nữa. Tôi lại ngất đi, nhưng một lần nữa chắc cũng chỉ bất tỉnh vài phút thôi. Khi mở mắt ra, tôi thấy chúng đã gom đồ bạc trên tủ búp-phê, và đã mở một chai rượu vang để sẵn ở đó. Mỗi tên cầm một ly trong tay. Tôi đã nói với ông rồi phải không, một gã có tuổi, để râu, còn hai gã kia là những thằng trai trẻ mặt nhẵn nhụi. Họ có thể là một ông bố với hai đứa con trai. Chúng thì thầm nói chuyện với nhau. Rồi chúng lại xem tôi có bị trói chặt không. Cuối cùng chúng rút đi, đóng cửa sổ lại sau lưng. Phải mất mười lăm phút tôi mới gỡ được khăn bịt miệng. Khi gỡ được rồi, tiếng thét của tôi làm cô hầu gái chạy xuống. Chẳng mấy chốc những người làm khác cũng hay tin, và chúng tôi cho người gọi cảnh sát địa phương, họ liên lạc ngay với Luân Đôn. Đó thật sự là tất cả những gì tôi có thể kể với các ông, và tôi mong không phải kể lại câu chuyện đau đớn này thêm lần nào nữa.
— Ông có câu hỏi nào không, ông Hôm? — Hốp-kin hỏi.
— Tôi sẽ không làm phiền thêm tới sự kiên nhẫn và thời gian của phu nhân Brác-ken-xtôn, — Hôm nói. — Trước khi vào phòng ăn, tôi muốn nghe cô kể những gì cô đã thấy.
Anh nhìn cô hầu gái.
— Tôi đã thấy mấy gã ấy từ trước khi chúng vào nhà, — cô nói. — Lúc ngồi bên cửa sổ phòng ngủ, tôi thấy ba người đàn ông dưới ánh trăng ở chỗ cổng gác đằng kia, nhưng lúc ấy tôi chẳng nghĩ ngợi gì. Hơn một tiếng sau đó, tôi nghe bà chủ thét lên, và tôi chạy xuống, thấy bà, con cừu non tội nghiệp, đúng như bà kể, còn ông ta nằm dưới sàn, máu me và óc văng khắp phòng. Thế là đủ làm một người đàn bà mất trí rồi, bị trói ở đó, váy áo lấm tấm máu ông ta, nhưng cô Mê-ri Phrây-dơ ở A-đơ-lết chưa bao giờ thiếu can đảm, và phu nhân Brác-ken-xtôn ở trang viên Áp-bi cũng chẳng học được thói khác. Các ông hỏi bà đủ lâu rồi, giờ bà sẽ về phòng riêng, chỉ có bà Tê-rê-xa già này bên cạnh, để nghỉ ngơi cho lại sức, bà cần lắm.
Với sự dịu dàng của một người mẹ, người phụ nữ gầy gò choàng tay ôm lấy bà chủ, dìu bà ra khỏi phòng.
— Cô ấy ở với bà suốt từ bé, — Hốp-kin nói. — Đã bế ẵm bà từ khi còn là đứa trẻ, rồi theo bà sang Anh khi họ rời nước Úc mười tám tháng trước. Tên cô ấy là Tê-rê-xa Rai, kiểu hầu gái thời nay chẳng còn tìm đâu ra. Mời ông lối này, ông Hôm!
Vẻ quan tâm sắc sảo đã biến khỏi gương mặt giàu biểu cảm của Hôm, và tôi biết khi bí ẩn không còn thì mọi sức hấp dẫn của vụ án cũng tan biến. Vẫn còn việc bắt người, nhưng mấy tên vô lại tầm thường ấy là cái thá gì mà anh phải nhúng tay vào? Một chuyên gia uyên bác, thâm sâu thấy mình bị mời tới chữa một ca sởi hẳn cũng bực bội như cái bực bội tôi đọc thấy trong mắt bạn tôi. Thế nhưng quang cảnh trong phòng ăn của trang viên Áp-bi đủ kỳ lạ để thu hút sự chú ý của anh và khơi lại mối quan tâm đang tàn lụi.
Đó là một căn phòng rất rộng và cao, trần gỗ sồi chạm trổ, tường ốp gỗ sồi, quanh tường treo một loạt đầu hươu và vũ khí cổ tuyệt đẹp. Ở đầu kia phòng, đối diện cửa ra vào, là ô cửa sổ kiểu Pháp cao mà chúng tôi đã nghe kể. Ba cửa sổ nhỏ hơn bên phải tràn ánh nắng mùa đông lạnh lẽo vào phòng. Bên trái là một lò sưởi lớn, sâu, với cái bệ gỗ sồi đồ sộ nhô ra phía trên. Cạnh lò sưởi là một chiếc ghế gỗ sồi nặng nề có tay vịn và thanh ngang ở dưới. Một sợi dây màu đỏ thẫm được luồn qua luồn lại những chỗ hở của khung gỗ, buộc chặt ở hai bên vào thanh ngang phía dưới. Khi cởi trói cho phu nhân, người ta đã tuột sợi dây khỏi người bà, nhưng những nút buộc vẫn còn nguyên. Những chi tiết ấy chúng tôi mãi sau mới để ý, vì lúc đầu tâm trí chúng tôi hoàn toàn bị hút vào vật khủng khiếp nằm trên tấm thảm da hổ trước lò sưởi.
Đó là thi thể một người đàn ông cao lớn, cân đối, chừng bốn mươi tuổi. Ông nằm ngửa, mặt hướng lên, hàm răng trắng nhe ra qua bộ râu đen ngắn. Hai bàn tay nắm chặt giơ lên trên đầu, và một cây gậy gỗ mận gai nặng nằm vắt ngang. Những đường nét đẹp, sẫm màu, mũi khoằm của ông co rúm trong một cơn hận thù độc địa, khiến gương mặt người chết đông cứng trong một vẻ quỷ quái khủng khiếp. Rõ ràng ông đang nằm trên giường khi có báo động, vì ông mặc chiếc áo ngủ thêu hoa đỏm dáng, và đôi chân trần thò ra khỏi ống quần. Đầu ông bị thương nặng khủng khiếp, và cả căn phòng là bằng chứng cho sự hung bạo dã man của cú đánh đã quật ngã ông. Bên cạnh ông là cây que cời lò nặng trịch, bị cong hẳn đi vì cú va chạm. Hôm xem xét cả nó lẫn cái cảnh tan nát không tả nổi mà nó đã gây ra.
— Hẳn lão Ran-đôn bố phải là người rất khoẻ, — anh nhận xét.
— Vâng, — Hốp-kin nói. — Tôi có hồ sơ về hắn, hắn là một tay rất thô bạo.
— Anh bắt hắn chắc không khó.
— Chẳng khó chút nào. Chúng tôi vẫn đang săn lùng hắn, và có tin hắn đã trốn sang Mỹ. Giờ biết cả băng đang ở đây, tôi không thấy chúng trốn đường nào được. Chúng tôi đã báo tin tới mọi hải cảng, và trước tối nay sẽ có lệnh treo thưởng. Điều làm tôi không hiểu là sao chúng lại làm một chuyện điên rồ như thế, khi biết phu nhân có thể tả lại chúng, và chúng tôi không thể không nhận ra theo lời tả.
— Đúng thế. Người ta sẽ nghĩ chúng phải bịt miệng luôn cả phu nhân Brác-ken-xtôn.
— Có thể chúng không nhận ra, — tôi gợi ý, — rằng bà đã tỉnh lại sau cơn ngất.
— Rất có thể. Nếu bà có vẻ bất tỉnh, chúng sẽ không lấy mạng bà. Còn người đàn ông tội nghiệp này thì sao, Hốp-kin? Hình như tôi có nghe vài chuyện kỳ quặc về ông ta.
— Khi tỉnh táo thì ông ta là người tốt bụng, nhưng khi say thì đúng là quỷ dữ, hay đúng hơn là khi ngà ngà say, vì ông ta hiếm khi say hẳn. Những lúc ấy như có ma quỷ nhập vào, và ông ta làm gì cũng dám. Theo tôi nghe được, dù giàu có và có tước hiệu, cũng đã một hai lần ông ta suýt phải dính tới chúng tôi. Có một vụ tai tiếng về việc ông ta tưới dầu hoả lên một con chó rồi châm lửa đốt, mà tệ hơn nữa đó lại là chó của phu nhân, và phải khó khăn lắm mới ỉm đi được. Rồi ông ta ném cả một bình rượu vào cô hầu gái kia, Tê-rê-xa Rai, cũng lôi thôi một phen. Nói chung, và nói riêng với nhau thôi, không có ông ta thì ngôi nhà này sẽ sáng sủa hơn. Ông đang nhìn gì thế?
Hôm đã quỳ xuống, hết sức chăm chú xem xét những nút buộc trên sợi dây đỏ đã trói phu nhân. Rồi anh cẩn thận xem xét đầu dây bị đứt, xơ ra ở chỗ nó bị giật đứt khi tên trộm kéo nó xuống.
— Khi sợi dây này bị giật xuống, hẳn chuông dưới bếp phải reo rất to, — anh nhận xét.
— Không ai nghe được đâu. Bếp nằm tít phía sau nhà.
— Làm sao tên trộm biết không ai nghe thấy? Sao hắn dám giật dây chuông liều lĩnh như thế?
— Đúng thế, ông Hôm, đúng thế. Ông nêu đúng câu hỏi mà tôi đã tự hỏi mình đi hỏi lại. Chắc chắn gã này phải biết rõ ngôi nhà và nếp sinh hoạt trong nhà. Hắn phải hiểu rõ rằng vào giờ còn tương đối sớm ấy, người làm đã đi ngủ hết, và không ai có thể nghe tiếng chuông reo dưới bếp. Vì thế hắn hẳn phải thông đồng chặt chẽ với một người làm nào đó. Điều đó chắc chắn là rõ. Nhưng có tám người làm, ai cũng có tư cách tốt.
— Nếu mọi điều khác như nhau, — Hôm nói, — người ta sẽ nghi người bị ông chủ ném bình rượu vào đầu. Nhưng như thế lại có nghĩa là phản bội bà chủ, người mà cô ta có vẻ hết lòng tận tuỵ. Thôi được, thôi được, đây chỉ là điểm phụ, và khi anh bắt được Ran-đôn, có lẽ anh sẽ dễ dàng tóm được tên đồng loã. Lời kể của phu nhân chắc chắn được mọi chi tiết ta thấy trước mắt chứng thực, nếu nó cần chứng thực.
Anh đi tới ô cửa sổ kiểu Pháp và mở toang ra.
— Ở đây không có dấu vết gì, nhưng đất cứng như sắt, chẳng mong có được. Tôi thấy mấy cây nến trên bệ lò sưởi này đã được thắp.
— Vâng, chính nhờ ánh sáng của chúng và cây nến của phu nhân mà bọn trộm nhìn thấy đường đi.
— Thế chúng lấy gì?
— Chà, chúng chẳng lấy bao nhiêu, chỉ sáu món đồ bạc trên tủ búp-phê. Phu nhân Brác-ken-xtôn nghĩ rằng chính chúng cũng hoảng vì cái chết của ngài Iu-xtớt, nên không lục soát cả nhà như lẽ ra chúng đã làm.
— Chắc chắn là vậy, nhưng tôi hiểu là chúng có uống ít rượu vang.
— Để trấn tĩnh thần kinh.
— Đúng thế. Ba cái ly trên tủ búp-phê kia chưa ai động tới, tôi đoán thế?
— Vâng, cả cái chai cũng còn y như lúc chúng để lại.
— Ta xem nào. Ơ kìa, ơ kìa! Gì thế này?
Ba cái ly đặt chụm lại với nhau, ly nào cũng vương màu rượu, và một ly có cặn rượu đọng dưới đáy. Cái chai đặt gần đó, còn hai phần ba, bên cạnh là một nút bần dài thấm đẫm màu rượu. Dáng vẻ của nó và lớp bụi trên chai cho thấy bọn sát nhân đã thưởng thức một thứ rượu vang lâu năm chẳng tầm thường chút nào.
Thái độ của Hôm đã thay đổi. Anh không còn vẻ uể oải nữa, và tôi lại thấy ánh quan tâm lanh lợi trong đôi mắt sâu sắc sảo của anh. Anh nhấc nút bần lên, xem xét tỉ mỉ.
— Chúng mở nó bằng cách nào? — anh hỏi.
Hốp-kin chỉ vào một ngăn kéo mở hờ. Trong đó có mấy tấm khăn bàn và một cái mở nút chai lớn.
— Phu nhân Brác-ken-xtôn có nói là chúng dùng cái mở nút ấy không?
— Không, ông nhớ là lúc chai được mở thì bà đang bất tỉnh.
— Đúng thế. Thật ra, cái mở nút ấy không hề được dùng. Chai này được mở bằng một cái mở nút bỏ túi, có lẽ gắn trên một con dao, dài không quá bốn phân. Nếu anh xem kỹ đầu nút bần, anh sẽ thấy cái mũi xoắn đã bị vặn vào ba lần trước khi rút được nút ra. Nút bần chưa hề bị xuyên thủng. Cái mở nút dài này sẽ xuyên thủng nó và rút ra chỉ bằng một cú kéo. Khi bắt được gã này, anh sẽ thấy hắn có một trong những con dao nhiều lưỡi ấy.
— Tuyệt vời! — Hốp-kin nói.
— Nhưng thú thật mấy cái ly này làm tôi bối rối. Phu nhân Brác-ken-xtôn thật sự đã thấy ba người đàn ông uống rượu, phải không?
— Vâng, bà nói rõ điều đó.
— Vậy là xong. Còn gì để nói nữa? Nhưng anh phải công nhận, Hốp-kin ạ, ba cái ly này rất đáng chú ý. Sao? Anh chẳng thấy gì đáng chú ý à? Thôi được, thôi được, bỏ qua. Có lẽ khi một người có kiến thức đặc biệt và khả năng đặc biệt như tôi, thì người ấy dễ đi tìm một lời giải thích phức tạp trong khi lời giải thích đơn giản hơn nằm ngay trước mặt. Dĩ nhiên chuyện mấy cái ly chỉ là tình cờ. Thôi, chào anh, Hốp-kin. Tôi không thấy mình giúp được gì cho anh, và có vẻ vụ án của anh đã rất rõ ràng. Khi bắt được Ran-đôn, và có diễn biến gì mới, thì báo cho tôi biết. Tôi mong sớm được chúc mừng anh kết thúc thành công. Đi thôi, Oát-xơn, tôi nghĩ về nhà thì ta sẽ làm được việc có ích hơn.
Trên đường về, nhìn mặt Hôm tôi thấy anh đang rất bối rối vì một điều anh đã quan sát được. Thỉnh thoảng anh cố gắng gạt ấn tượng ấy đi, nói như thể mọi chuyện đã rõ, nhưng rồi những ngờ vực lại ập xuống, và đôi lông mày nhíu lại cùng ánh mắt lơ đãng cho thấy ý nghĩ của anh lại quay về căn phòng ăn rộng lớn ở trang viên Áp-bi, nơi tấn thảm kịch nửa đêm đã diễn ra. Cuối cùng, theo một sự thôi thúc đột ngột, đúng lúc tàu chúng tôi đang chậm chạp rời một ga ngoại ô, anh nhảy xuống sân ga và lôi tôi theo.
— Xin lỗi anh bạn thân mến, — anh nói khi chúng tôi nhìn mấy toa cuối của đoàn tàu khuất sau khúc quanh. — Tôi rất tiếc đã bắt anh làm nạn nhân của một điều có vẻ như ý thích chợt nảy, nhưng thề có trời, Oát-xơn, tôi thật sự không thể bỏ vụ án trong tình trạng ấy. Mọi bản năng của tôi đều phản đối. Sai rồi, sai hết rồi, tôi dám thề là sai. Thế nhưng lời kể của phu nhân thì trọn vẹn, lời chứng thực của cô hầu gái thì đầy đủ, các chi tiết khá chính xác. Tôi có gì để đối lại? Ba cái ly rượu, chỉ có thế. Nhưng nếu tôi không mặc nhiên coi mọi sự là đúng, nếu tôi xem xét mọi thứ với sự cẩn thận như khi ta tiếp cận vụ án từ đầu, không có câu chuyện soạn sẵn nào làm lệch suy nghĩ, thì liệu tôi có tìm ra được điều gì chắc chắn hơn để dựa vào không? Dĩ nhiên là có. Ngồi xuống chiếc ghế dài này, Oát-xơn, chờ tới khi có tàu đi Chi-xơn-hớt, và để tôi trình bày chứng cứ với anh. Trước hết tôi xin anh hãy gạt khỏi đầu cái ý nghĩ rằng mọi điều cô hầu gái hay bà chủ đã nói đều nhất định phải đúng. Không được để vẻ duyên dáng của phu nhân làm lệch phán đoán của ta.
— Chắc chắn trong lời kể của bà có những chi tiết, nếu ta bình tâm xem xét, sẽ khơi lên nghi ngờ. Bọn trộm kia đã vớ được một mẻ lớn ở Xi-đơn-ham hai tuần trước. Báo chí có nói về chúng và tả hình dạng chúng, nên tự nhiên ai muốn bịa ra một câu chuyện có bọn cướp tưởng tượng đều sẽ nghĩ tới chúng. Thật ra, bọn trộm vừa làm được một vụ béo bở thường chỉ muốn yên ổn hưởng thụ, chẳng dại gì dấn ngay vào một vụ nguy hiểm khác. Lại nữa, bọn trộm hiếm khi ra tay vào giờ còn sớm như thế. Bọn trộm hiếm khi đánh một phụ nữ để ngăn bà ta thét lên, vì người ta sẽ nghĩ đó là cách chắc chắn nhất làm bà ta thét. Chúng hiếm khi giết người khi đủ đông để khống chế một người đàn ông. Chúng hiếm khi bằng lòng với một mẻ ít ỏi khi còn nhiều thứ hơn nằm trong tầm tay. Và cuối cùng, tôi phải nói, những kẻ như thế rất hiếm khi bỏ lại một chai rượu còn dở. Tất cả những cái "hiếm khi" ấy làm anh thấy thế nào, Oát-xơn?
— Gộp lại thì chắc chắn chúng có sức nặng đáng kể, nhưng từng cái một thì hoàn toàn có thể xảy ra. Theo tôi, điều khác thường nhất là phu nhân bị trói vào ghế.
— Chà, tôi không chắc lắm về điều đó, Oát-xơn ạ, vì rõ ràng chúng phải hoặc giết bà, hoặc khống chế bà sao cho bà không thể báo động ngay khi chúng bỏ trốn. Nhưng dù sao tôi cũng đã cho thấy, phải không, rằng câu chuyện của phu nhân có yếu tố khó tin nào đó? Và giờ, chồng lên tất cả, là chuyện mấy cái ly rượu.
— Mấy cái ly rượu làm sao?
— Anh có hình dung ra chúng không?
— Tôi thấy rõ lắm.
— Người ta bảo ta rằng ba người đã uống bằng ba cái ly ấy. Anh thấy có khả năng không?
— Sao lại không? Ly nào cũng có rượu.
— Đúng thế, nhưng chỉ một ly có cặn. Hẳn anh đã để ý điều đó. Nó gợi cho anh điều gì?
— Ly rót sau cùng thì dễ có cặn nhất.
— Hoàn toàn không. Chai rượu đầy cặn, và không thể nào hai ly đầu trong vắt còn ly thứ ba lại đặc cặn. Có hai cách giải thích, và chỉ có hai. Một là sau khi rót ly thứ hai, cái chai bị lắc mạnh, nên ly thứ ba hứng hết cặn. Điều đó không có vẻ hợp lý. Không, không, tôi chắc là tôi đúng.
— Vậy anh cho là thế nào?
— Rằng chỉ có hai cái ly được dùng, và cặn của cả hai được đổ vào ly thứ ba, để tạo ấn tượng sai rằng có ba người ở đây. Như thế thì tất cả cặn sẽ dồn vào ly cuối cùng, phải không? Phải, tôi tin chắc là như vậy. Nhưng nếu tôi đã đoán trúng lời giải thích thật cho hiện tượng nhỏ bé này, thì ngay lập tức vụ án từ chỗ tầm thường trở thành cực kỳ đáng chú ý, vì nó chỉ có thể có nghĩa là phu nhân Brác-ken-xtôn và cô hầu gái đã cố ý nói dối chúng ta, rằng không một lời nào trong câu chuyện của họ đáng tin, rằng họ có lý do rất mạnh để che chở cho kẻ phạm tội thật, và rằng ta phải tự dựng lại vụ án mà không có chút giúp đỡ nào từ phía họ. Đó là nhiệm vụ đang chờ ta, và Oát-xơn này, tàu đi Xi-đơn-ham tới rồi.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám