Chương 1: Người huấn luyện ngựa ở Sốt-côm
Sơ-lốc Hôm đã cúi rất lâu trên chiếc kính hiển vi độ phóng đại thấp. Giờ anh đứng thẳng dậy, quay sang nhìn tôi đầy đắc thắng.
— Đây là keo, Oát-xơn, — anh nói. — Chắc chắn là keo. Anh xem những vật lấm tấm trong khung kính này!
Tôi cúi xuống thị kính và chỉnh lại cho vừa mắt.
— Mấy sợi lông kia là sợi vải của một chiếc áo khoác len thô. Những đám xám không đều là bụi. Bên trái có những vảy da. Còn mấy cục màu nâu ở giữa chắc chắn là keo.
— Thôi được, — tôi cười, — tôi sẵn lòng tin lời anh. Có chuyện gì phụ thuộc vào đó không?
— Đó là một chứng cứ rất đẹp, — anh đáp. — Trong vụ ở Xanh Pan-crát, có lẽ anh còn nhớ, người ta tìm thấy một chiếc mũ cạnh xác viên cảnh sát. Bị cáo chối rằng mũ không phải của mình. Nhưng anh ta làm nghề đóng khung tranh, ngày nào cũng dùng keo.
— Đó là vụ của anh à?
— Không. Anh bạn Mê-ri-veo của tôi ở Xcốt-len Y-át nhờ tôi xem giúp. Từ khi tôi tóm được tay đúc tiền giả nhờ mạt kẽm và mạt đồng trong đường may cổ tay áo hắn, họ mới bắt đầu thấy tầm quan trọng của kính hiển vi.
Anh sốt ruột nhìn đồng hồ.
— Tôi có một thân chủ mới hẹn tới, nhưng ông ta trễ rồi. Nhân tiện, Oát-xơn, anh có biết chút gì về đua ngựa không?
— Phải biết chứ. Tôi trả cho nó khoảng nửa số tiền trợ cấp thương binh của mình.
— Vậy tôi sẽ biến anh thành cuốn "Cẩm nang trường đua bỏ túi" của tôi. Ngài Rô-bớt No-bơ-tơn thì sao? Cái tên ấy có gợi cho anh điều gì không?
— Có chứ. Ông ta sống ở trang viên cổ Sốt-côm, mà tôi biết nơi ấy rõ lắm, vì có một mùa hè tôi từng nghỉ ở đó. Có lần No-bơ-tơn suýt nữa đã rơi vào phạm vi công việc của anh.
— Chuyện thế nào?
— Đó là khi ông ta quất roi ngựa vào Xam Bru-ơ, tay cho vay nặng lãi khét tiếng ở phố Cơ-dơn, ngay trên bãi cỏ Niu-mác-kít. Ông ta suýt giết chết người ấy.
— À, nghe có vẻ thú vị! Ông ta có hay làm thế không?
— Chà, ông ta nổi tiếng là kẻ nguy hiểm. Ông ta gần như là tay kỵ sĩ liều lĩnh nhất nước Anh, mấy năm trước về nhì ở giải vượt rào lớn nhất. Ông ta thuộc loại người sinh nhầm thời. Đáng lẽ ông ta phải là một công tử ăn chơi thời nhiếp chính, một võ sĩ quyền Anh, một lực sĩ, một tay đánh cược liều mạng ở trường đua, một kẻ mê đắm các quý bà xinh đẹp, và theo mọi lời đồn, đã nợ nần ngập đầu tới mức có lẽ không bao giờ ngoi lên nổi.
— Tuyệt lắm, Oát-xơn! Một bức chân dung nhỏ mà đủ nét. Tôi như đã biết người ấy rồi. Giờ anh có thể cho tôi chút hình dung về trang viên cổ Sốt-côm không?
— Tôi chỉ biết nó nằm giữa công viên Sốt-côm, và ở đó có trại ngựa giống cùng khu huấn luyện Sốt-côm nổi tiếng.
— Và người huấn luyện trưởng, — Hôm nói, — là Giôn Mây-xơn. Anh không cần ngạc nhiên vì tôi biết điều đó, Oát-xơn, vì thứ tôi đang mở ra đây là thư ông ta gửi. Nhưng anh kể thêm về Sốt-côm đi. Có vẻ tôi đã đào trúng một mạch quặng giàu.
— Còn có giống chó Sốt-côm nữa, — tôi nói. — Cuộc thi chó nào cũng nghe nhắc tới chúng. Giống chó quý hiếm nhất nước Anh. Chúng là niềm kiêu hãnh đặc biệt của bà chủ trang viên cổ Sốt-côm.
— Tôi đoán là vợ ngài Rô-bớt No-bơ-tơn!
— Ngài Rô-bớt chưa bao giờ lấy vợ. Mà thế cũng hay, tôi nghĩ vậy, xét tới tương lai của ông ta. Ông ta sống cùng người chị góa chồng, phu nhân Bê-a-tơ-rít Phôn-đơ.
— Ý anh là bà ấy sống cùng ông ta?
— Không, không. Trang viên vốn thuộc về người chồng quá cố của bà, ngài Giêm. No-bơ-tơn chẳng có chút quyền gì với nó. Bà chỉ được hưởng hoa lợi suốt đời, sau đó nó sẽ về tay em trai chồng bà. Trong khi chờ đợi, năm nào bà cũng thu tiền tô.
— Còn cậu em Rô-bớt, tôi đoán, là người tiêu số tiền tô ấy?
— Đại khái là thế. Ông ta là một tay quỷ quái, hẳn bà ấy phải sống không yên chút nào. Ấy vậy mà tôi nghe nói bà rất thương ông ta. Nhưng ở Sốt-côm có chuyện gì không ổn?
— À, đó chính là điều tôi muốn biết. Và tôi đoán người có thể kể cho chúng ta đây rồi.
Cửa mở, cậu bé giúp việc đưa vào một người cao lớn, mày râu nhẵn nhụi, với vẻ mặt cứng rắn, nghiêm khắc mà người ta chỉ thấy ở những ai phải cai quản ngựa hoặc trẻ con. Ông Giôn Mây-xơn có rất nhiều cả hai thứ dưới quyền, và trông ông đủ sức gánh vác việc ấy. Ông cúi chào với vẻ bình thản lạnh lùng, rồi ngồi xuống chiếc ghế Hôm vừa chỉ.
— Ông nhận được thư tôi chứ, ông Hôm?
— Có, nhưng thư chẳng giải thích gì cả.
— Chuyện quá tế nhị, tôi không dám viết chi tiết ra giấy. Mà cũng quá rắc rối nữa. Chỉ có gặp mặt tôi mới kể được.
— Vậy thì chúng tôi xin nghe.
— Trước hết, ông Hôm ạ, tôi nghĩ ông chủ tôi, ngài Rô-bớt, đã phát điên rồi.
Hôm nhướn mày.
— Đây là phố Bây-cơ, không phải phố của các bác sĩ thần kinh, — anh nói. — Nhưng sao ông lại nói thế?
— Thưa ông, khi một người làm một hai việc kỳ quặc thì có thể có lý do, nhưng khi việc gì người ấy làm cũng kỳ quặc thì người ta bắt đầu thắc mắc. Tôi tin rằng con Hoàng tử Sốt-côm và giải Đơ-bi đã làm ông ấy mất trí.
— Đó là con ngựa non ông đang cho đua?
— Con giỏi nhất nước Anh, ông Hôm ạ. Nếu có ai biết thì người đó là tôi. Giờ tôi xin nói thẳng, vì tôi biết các ông là những người có danh dự và chuyện sẽ không ra khỏi căn phòng này. Ngài Rô-bớt nhất định phải thắng giải Đơ-bi này. Ông ấy nợ ngập tới cổ, và đây là cơ hội cuối cùng. Mọi thứ ông ấy gom góp hay vay mượn được đều đặt cả vào con ngựa, mà lại ăn tỷ lệ rất cao nữa! Giờ thì cược một ăn bốn chục, nhưng khi ông ấy bắt đầu đặt thì gần một ăn một trăm.
— Nhưng sao lại thế, nếu con ngựa giỏi như vậy?
— Thiên hạ không biết nó giỏi tới đâu. Ngài Rô-bớt đã quá khôn với bọn rình trộm tin ngựa. Ông ấy cho con ngựa anh em cùng mẹ khác cha với Hoàng tử ra chạy tập. Không ai phân biệt nổi hai con. Nhưng phi nước đại thì cứ hai trăm mét con Hoàng tử bỏ xa nó hai thân ngựa. Ông ấy chẳng nghĩ gì khác ngoài con ngựa và cuộc đua. Cả đời ông ấy đặt vào đó. Ông ấy đang khất bọn cho vay nặng lãi tới ngày ấy. Nếu Hoàng tử phụ ông ấy thì ông ấy tiêu đời.
— Nghe như một canh bạc khá liều lĩnh, nhưng điên ở chỗ nào?
— Trước hết, ông chỉ cần nhìn ông ấy là thấy. Tôi không tin đêm ông ấy ngủ được. Giờ nào ông ấy cũng ra chuồng ngựa. Mắt ông ấy dại hẳn đi. Tất cả đã vượt quá sức chịu đựng của thần kinh ông ấy. Rồi còn cách ông ấy đối xử với phu nhân Bê-a-tơ-rít nữa!
— À! Chuyện ấy thế nào?
— Xưa nay họ luôn là hai chị em thân thiết nhất. Cả hai cùng chung sở thích, và bà yêu ngựa chẳng kém gì ông ấy. Ngày nào cũng đúng giờ ấy bà cho xe xuống thăm chúng, và trên hết bà yêu con Hoàng tử. Nó vểnh tai lên khi nghe tiếng bánh xe trên sỏi, và sáng nào nó cũng chạy nước kiệu ra tận xe để nhận cục đường. Nhưng giờ thì hết rồi.
— Vì sao?
— Chà, có vẻ bà đã mất hết hứng thú với ngựa. Cả tuần nay bà cho xe chạy ngang chuồng ngựa mà chẳng buồn nói một câu chào buổi sáng!
— Ông nghĩ đã có một trận cãi nhau?
— Mà là một trận cãi nhau cay đắng, dữ dội, hằn học nữa kia. Không thế thì sao ông ấy lại đem cho con chó cảnh mà bà yêu như con đẻ? Mấy hôm trước ông ấy đem nó cho lão Ba-nơ, chủ quán Rồng Xanh, cách đó năm cây số, ở làng Cren-đôn.
— Chuyện ấy quả là lạ thật.
— Dĩ nhiên, với trái tim yếu và chứng phù thũng, chẳng ai mong bà đi lại được cùng ông ấy, nhưng tối nào ông ấy cũng ở trong phòng bà hai tiếng. Ông ấy làm được gì cũng nên làm, vì bà là người bạn hiếm có của ông ấy. Nhưng giờ chuyện đó cũng hết. Ông ấy không bao giờ lại gần bà. Và bà buồn lòng lắm. Bà ủ ê, hờn dỗi, và uống rượu, ông Hôm ạ, uống như hũ chìm.
— Trước khi xa cách, bà ấy có uống không?
— Thì bà cũng uống một ly, nhưng giờ thường là cả một chai mỗi tối. Ông Xti-vân, quản gia, kể với tôi thế. Mọi thứ đã đổi khác, ông Hôm ạ, và có điều gì đó thối nát khủng khiếp trong chuyện này. Rồi lại nữa, ông chủ làm gì dưới hầm mộ nhà nguyện cổ vào ban đêm? Và người đàn ông gặp ông ấy ở đó là ai?
Hôm xoa tay.
— Kể tiếp đi, ông Mây-xơn. Chuyện của ông càng lúc càng thú vị.
— Chính ông quản gia thấy ông ấy đi. Mười hai giờ đêm, mưa như trút. Thế là đêm hôm sau tôi lên nhà chính, và quả nhiên ông chủ lại đi. Xti-vân và tôi theo sau, nhưng việc ấy thót tim lắm, vì nếu ông ấy thấy chúng tôi thì nguy to. Ông ấy mà đã nổi nóng thì nắm đấm khủng khiếp lắm, chẳng nể ai. Vì thế chúng tôi không dám tới quá gần, nhưng vẫn bám được ông ấy. Ông ấy đi tới cái hầm mộ có ma, và ở đó có một người đàn ông đang chờ.
— Hầm mộ có ma là gì?
— Thưa ông, trong công viên có một nhà nguyện cổ đổ nát. Cũ tới mức chẳng ai xác định được nó có từ bao giờ. Và bên dưới có một hầm mộ mang tiếng xấu trong vùng. Ban ngày nó đã tối tăm, ẩm thấp, hoang vắng, còn ban đêm thì trong hạt chẳng mấy ai đủ gan bén mảng tới gần. Nhưng ông chủ thì không sợ. Cả đời ông ấy chẳng sợ gì. Nhưng ông ấy làm gì ở đó vào lúc nửa đêm?
— Khoan đã! — Hôm nói. — Ông bảo có một người đàn ông khác ở đó. Hẳn là một người làm ở chuồng ngựa của ông, hoặc ai đó trong nhà! Chắc chắn ông chỉ cần nhận ra là ai rồi hỏi người ấy chứ?
— Không phải người tôi quen.
— Sao ông dám nói thế?
— Vì tôi đã thấy hắn, ông Hôm ạ. Đó là đêm thứ hai. Ngài Rô-bớt quay lại đi ngang qua chúng tôi, tôi với Xti-vân, run như hai con thỏ trong bụi rậm, vì đêm ấy có chút trăng. Nhưng chúng tôi nghe tiếng người kia đi lại phía sau. Chúng tôi chẳng sợ hắn. Thế là khi ngài Rô-bớt đi khuất, chúng tôi đứng dậy, làm như đang dạo bộ dưới trăng, và cứ thế tiến thẳng tới chỗ hắn, ra vẻ tình cờ, vô tư hết mức. Tôi bảo: "Chào anh bạn! Anh là ai đấy?" Tôi đoán hắn không nghe chúng tôi tới, nên hắn ngoái lại nhìn với bộ mặt như vừa thấy quỷ từ địa ngục bước ra. Hắn hét lên một tiếng rồi chạy biến vào bóng tối, nhanh hết sức hắn. Hắn chạy giỏi thật, tôi phải công nhận. Chỉ một phút là hắn đã khuất tầm mắt, khuất cả tiếng chân, và hắn là ai, làm gì, chúng tôi không bao giờ biết.
— Nhưng ông có thấy rõ hắn dưới trăng không?
— Có, tôi dám thề về khuôn mặt vàng vọt của hắn, một gã tiểu nhân, tôi nghĩ thế. Hắn thì có gì dính dáng tới ngài Rô-bớt được?
Hôm ngồi trầm ngâm một lúc.
— Ai bầu bạn với phu nhân Bê-a-tơ-rít Phôn-đơ? — cuối cùng anh hỏi.
— Có cô hầu gái của bà, Ke-ri I-vân. Cô ấy theo bà đã năm năm nay.
— Và chắc chắn là rất tận tụy?
Ông Mây-xơn ngọ nguậy khó chịu.
— Tận tụy thì có tận tụy, — cuối cùng ông đáp. — Nhưng tôi không nói là với ai.
— À! — Hôm nói.
— Tôi không thể đi kể chuyện trong nhà ra ngoài.
— Tôi hiểu, ông Mây-xơn. Dĩ nhiên tình hình đã khá rõ. Qua lời bác sĩ Oát-xơn tả ngài Rô-bớt, tôi hiểu không người đàn bà nào an toàn bên ông ta. Ông không nghĩ trận cãi nhau giữa hai chị em có thể bắt nguồn từ đó sao?
— Chà, chuyện tai tiếng ấy rõ rành rành từ lâu rồi.
— Nhưng có thể trước đó bà ấy không thấy. Cứ giả sử bà ấy bỗng phát hiện ra. Bà ấy muốn tống cô hầu đi. Em trai bà không cho. Người bệnh, tim yếu, không đi lại được, chẳng có cách nào bắt người khác theo ý mình. Cô hầu đáng ghét vẫn bị ràng buộc với bà. Bà không chịu nói năng, hờn dỗi, sa vào rượu. Ngài Rô-bớt nổi giận, lấy mất con chó cưng của bà. Tất cả chẳng phải đều ăn khớp với nhau sao?
— Chà, có thể, trong chừng mực ấy.
— Chính xác! Trong chừng mực ấy. Nhưng tất cả những chuyện đó liên quan gì tới những chuyến đi đêm xuống hầm mộ cổ? Ta không thể ghép chuyện ấy vào câu chuyện của ta.
— Không, thưa ông, mà còn một chuyện nữa tôi không ghép vào được. Tại sao ngài Rô-bớt lại muốn đào một xác chết lên?
Hôm ngồi bật dậy.
— Chúng tôi chỉ mới phát hiện hôm qua, sau khi tôi viết thư cho ông. Hôm qua ngài Rô-bớt lên Luân Đôn, nên Xti-vân và tôi xuống hầm mộ. Mọi thứ vẫn y nguyên, thưa ông, trừ một góc có một phần thi thể người.
— Tôi đoán ông đã báo cảnh sát?
Vị khách của chúng tôi mỉm cười gượng gạo.
— Thưa ông, tôi nghĩ họ khó mà quan tâm. Đó chỉ là cái đầu và vài khúc xương của một xác ướp. Có thể nó đã nghìn năm tuổi. Nhưng trước đây nó không có ở đó. Điều đó tôi dám thề, Xti-vân cũng vậy. Nó được giấu vào một góc, phủ một tấm ván lên trên, nhưng góc ấy trước nay vẫn luôn trống.
— Ông đã làm gì với nó?
— Thì chúng tôi để nguyên ở đó.
— Thế là khôn ngoan. Ông nói hôm qua ngài Rô-bớt đi vắng. Ông ấy đã về chưa?
— Chúng tôi mong hôm nay ông ấy về.
— Ngài Rô-bớt đem cho con chó của chị mình từ hôm nào?
— Đúng một tuần trước tính tới hôm nay. Con vật cứ tru lên bên ngoài cái nhà giếng cũ, mà sáng hôm ấy ngài Rô-bớt đang lên cơn. Ông ấy chộp lấy nó, tôi tưởng ông ấy giết nó mất. Rồi ông ấy đưa nó cho Xan-đi Bên, cậu nài ngựa, bảo mang tới cho lão Ba-nơ ở quán Rồng Xanh, vì ông ấy không bao giờ muốn nhìn thấy nó nữa.
Hôm ngồi im lặng suy nghĩ một lúc. Anh đã châm cái tẩu cũ nhất, hôi nhất của mình.
— Tôi vẫn chưa rõ ông muốn tôi làm gì trong chuyện này, ông Mây-xơn, — cuối cùng anh nói. — Ông không nói cụ thể hơn được sao?
— Có lẽ cái này sẽ cụ thể hơn, ông Hôm, — vị khách nói.
Ông lấy trong túi ra một gói giấy, cẩn thận mở ra, để lộ một mẩu xương cháy đen.
Hôm xem xét nó đầy hứng thú.
— Ông lấy nó ở đâu?
— Dưới tầng hầm, ngay bên dưới phòng phu nhân Bê-a-tơ-rít, có một lò sưởi trung tâm. Nó đã tắt một thời gian, nhưng ngài Rô-bớt kêu lạnh nên cho đốt lại. Hác-vi lo việc đốt lò, cậu ấy là một trong mấy đứa làm cho tôi. Ngay sáng nay cậu ấy mang cái này tới cho tôi, tìm thấy khi cào tro ra. Cậu ấy thấy nó chẳng lành chút nào.
— Tôi cũng thấy vậy, — Hôm nói. — Anh nghĩ sao, Oát-xơn?
Nó đã cháy thành một cục than đen, nhưng không thể nghi ngờ gì về ý nghĩa giải phẫu của nó.
— Đó là lồi cầu trên của một xương đùi người, — tôi nói.
— Chính xác!
Hôm đã trở nên rất nghiêm trọng.
— Cậu ấy chăm lò vào lúc nào?
— Tối nào cậu ấy cũng nhóm lò rồi để đó.
— Vậy ban đêm ai cũng có thể vào chỗ lò?
— Vâng, thưa ông.
— Có vào được từ bên ngoài không?
— Có một cửa thông ra ngoài. Có một cửa khác dẫn lên cầu thang tới hành lang có phòng phu nhân Bê-a-tơ-rít.
— Nước sâu lắm đây, ông Mây-xơn, vừa sâu vừa khá đục. Ông nói đêm qua ngài Rô-bớt không có nhà?
— Không, thưa ông.
— Vậy thì dù ai đốt xương, đó cũng không phải ông ta.
— Đúng vậy, thưa ông.
— Cái quán trọ ông vừa nhắc tên gì nhỉ?
— Quán Rồng Xanh.
— Vùng ấy của hạt Béc-sơ có chỗ câu cá tốt không?
Gương mặt ông huấn luyện ngựa thật thà lộ rõ vẻ tin chắc rằng lại thêm một gã điên nữa vừa bước vào cuộc đời vốn đã đủ khổ sở của ông.
— Chà, thưa ông, tôi nghe nói suối cối xay có cá hồi, còn hồ của trang viên có cá chó.
— Thế là đủ tốt rồi. Oát-xơn và tôi là những tay câu cá lừng danh, phải không Oát-xơn? Từ giờ ông có thể liên lạc với chúng tôi ở quán Rồng Xanh. Tối nay chúng tôi sẽ tới đó. Khỏi phải nói là chúng tôi không muốn gặp ông, ông Mây-xơn ạ, nhưng một mẩu thư sẽ tới được tay chúng tôi, và chắc chắn tôi sẽ tìm được ông nếu cần. Khi đã đi sâu thêm chút nữa vào vụ việc, tôi sẽ cho ông biết ý kiến cân nhắc của tôi.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám