Chương 1: Ông hiệu trưởng ngất xỉu
Căn phòng nhỏ của chúng tôi ở phố Bây-cơ đã chứng kiến không ít lần ra vào đầy kịch tính, nhưng tôi không nhớ có lần nào đột ngột và gây sửng sốt hơn lần đầu tiên tiến sĩ Tho-ni-crốp Hắc-xta-bơn xuất hiện. Tấm danh thiếp của ông, có vẻ quá nhỏ để chở nổi cả đống học vị, tới trước ông vài giây, rồi chính ông bước vào. Ông to lớn, bệ vệ, đường bệ đến mức như hiện thân của sự vững vàng và tự chủ. Vậy mà việc đầu tiên ông làm khi cánh cửa vừa đóng lại sau lưng là loạng choạng va vào bàn, rồi trượt xuống sàn, và cái thân hình oai vệ ấy nằm sõng soài, bất tỉnh trên tấm thảm da gấu trước lò sưởi của chúng tôi.
Chúng tôi bật dậy, và trong mấy giây chỉ biết lặng người nhìn cái xác tàu đồ sộ ấy, như dấu vết của một cơn bão bất ngờ và chết chóc nào đó ngoài đại dương cuộc đời. Rồi Hôm vội lấy gối kê đầu ông, còn tôi đưa rượu mạnh tới môi ông. Gương mặt nặng nề, trắng bệch hằn đầy nếp lo âu, túi mắt sệ xuống dưới hai mí mắt nhắm nghiền có màu xám chì, khoé miệng chảy xệ xuống đầy sầu khổ, mấy lớp cằm lổn nhổn râu chưa cạo. Cổ áo và áo sơ mi lấm bẩn sau một chặng đường dài, tóc trên cái đầu thanh tú dựng lên rối bù. Người nằm trước mặt chúng tôi là một người đang bị giày vò ghê gớm.
— Ông ta bị sao vậy, Oát-xơn? — Hôm hỏi.
— Kiệt sức hoàn toàn, có lẽ chỉ vì đói và mệt, — tôi nói, ngón tay đặt lên mạch, nơi dòng sống chỉ còn rỉ ra mảnh và yếu.
— Vé khứ hồi từ Mác-cơn-tơn, miền bắc nước Anh, — Hôm nói, rút tấm vé từ túi đựng đồng hồ của ông ta. — Chưa tới mười hai giờ trưa. Hẳn ông ta đã lên đường từ rất sớm.
Đôi mí mắt nhăn nheo bắt đầu run run, rồi một đôi mắt xám ngơ ngác nhìn chúng tôi. Một thoáng sau, người đàn ông đã lồm cồm đứng dậy, mặt đỏ bừng vì xấu hổ.
— Xin thứ lỗi cho sự yếu đuối này, thưa ông Hôm. Tôi đã hơi quá căng thẳng. Cảm ơn ông, nếu được một cốc sữa và một chiếc bánh quy, chắc chắn tôi sẽ đỡ hơn. Tôi đích thân tới đây, thưa ông Hôm, để chắc chắn rằng ông sẽ đi cùng tôi. Tôi sợ rằng không bức điện nào thuyết phục nổi ông về mức độ khẩn cấp tuyệt đối của vụ này.
— Khi nào ông hồi phục hẳn...
— Tôi khoẻ lại rồi. Tôi không hiểu sao mình lại yếu đến thế. Thưa ông Hôm, tôi mong ông đi Mác-cơn-tơn với tôi ngay chuyến tàu tới.
Bạn tôi lắc đầu.
— Đồng nghiệp của tôi, bác sĩ Oát-xơn, có thể nói ông nghe rằng hiện giờ chúng tôi rất bận. Tôi đang nhận vụ giấy tờ nhà Phe-rơ, và vụ án mạng A-bơ-ga-ven-ni sắp đưa ra xử. Chỉ một việc hết sức quan trọng mới kéo được tôi rời Luân Đôn lúc này.
— Quan trọng ư! — Vị khách giơ hai tay lên trời. — Ông chưa nghe gì về vụ bắt cóc con trai duy nhất của công tước Hôn-đơ-nét sao?
— Cái gì! Ông cựu bộ trưởng trong nội các ấy à?
— Chính thế. Chúng tôi đã cố giữ cho báo chí không biết, nhưng tối qua tờ Địa Cầu đã có lời đồn. Tôi tưởng ông đã nghe phong thanh.
Hôm vươn cánh tay dài gầy guộc lấy tập vần H trong bộ tra cứu của anh.
— "Hôn-đơ-nét, công tước đời thứ sáu, hiệp sĩ Ga-tơ, uỷ viên Hội đồng Cơ mật", ôi, cả nửa bảng chữ cái! "Nam tước Bê-vơ-li, bá tước Cát-xtơn", trời ơi, một danh sách dài làm sao! "Thống đốc hạt Ha-lam-sia từ năm 1900. Kết hôn năm 1888 với bà Ê-đít, con gái ngài Sác-lơ Áp-pơn-đo. Người thừa kế và con trai duy nhất, tiểu công tước Xan-tai-ơ. Sở hữu khoảng một trăm nghìn héc-ta đất. Có mỏ ở Lan-ca-sia và xứ Oên. Địa chỉ: dãy nhà Các-tơn, Luân Đôn; lâu đài Hôn-đơ-nét, hạt Ha-lam-sia; lâu đài Cát-xtơn, Ban-go, xứ Oên. Đại thần Hải quân năm 1872; Quốc vụ khanh..." Chà, chà, người này hẳn là một trong những thần dân lớn nhất của Hoàng gia!
— Lớn nhất, và có lẽ giàu nhất. Tôi biết, thưa ông Hôm, rằng ông rất coi trọng danh dự nghề nghiệp, và sẵn lòng làm việc vì chính công việc. Tuy vậy, tôi xin nói để ông rõ, công tước đã cho biết sẽ trao một tấm séc năm nghìn bảng cho người nói được con trai ngài đang ở đâu, và thêm một nghìn nữa cho người chỉ ra được kẻ hay những kẻ đã bắt cậu đi.
— Một lời hứa thật hào phóng như bậc vương giả, — Hôm nói. — Oát-xơn, tôi nghĩ chúng ta sẽ theo tiến sĩ Hắc-xta-bơn về miền bắc. Còn bây giờ, thưa tiến sĩ Hắc-xta-bơn, uống xong cốc sữa rồi, xin ông vui lòng cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra, xảy ra khi nào, xảy ra thế nào, và cuối cùng, tiến sĩ Tho-ni-crốp Hắc-xta-bơn của trường Tu Viện gần Mác-cơn-tơn dính dáng gì tới chuyện này, và tại sao ông lại tới nhờ tôi giúp sau khi sự việc đã xảy ra ba ngày. Râu cằm của ông cho biết ngày đấy.
Vị khách đã ăn uống xong. Ánh sáng đã trở lại trong mắt, sắc hồng đã trở lại trên má, và ông bắt tay vào trình bày sự việc một cách rất hăng hái và mạch lạc.
— Tôi xin thưa với các ông, trường Tu Viện là một trường dự bị, do tôi sáng lập và làm hiệu trưởng. Cuốn "Bàn thêm về thơ Hô-ra-xơ" của Hắc-xta-bơn có lẽ sẽ giúp các ông nhớ ra tên tôi. Trường Tu Viện, không ngoại lệ, là trường dự bị tốt nhất và chọn lọc nhất nước Anh. Huân tước Lê-vơ-xtốc, bá tước Blác-uô-tơ, ngài Cát-cát Xôm, tất cả đều đã gửi con cho tôi. Nhưng tôi cảm thấy trường mình đã lên tới đỉnh cao nhất khi, mấy tuần trước, công tước Hôn-đơ-nét cử ông Giêm Oai-đơ, thư ký của ngài, tới báo rằng tiểu công tước Xan-tai-ơ, mười tuổi, con trai duy nhất và người thừa kế của ngài, sắp được giao cho tôi dạy dỗ. Tôi nào ngờ đó lại là màn mở đầu cho tai hoạ nặng nề nhất đời mình.
— Ngày mồng một tháng năm, cậu bé tới trường, đúng ngày đầu học kỳ hè. Cậu là một cậu bé dễ mến, chẳng mấy chốc đã quen nếp sống ở trường. Tôi xin nói với các ông, mong là tôi không hớ, nhưng trong chuyện thế này thì nói nửa vời là vô lý, rằng cậu không hoàn toàn hạnh phúc ở nhà. Ai cũng biết cuộc hôn nhân của công tước chẳng êm ấm gì, và chuyện đã kết thúc bằng việc hai bên thoả thuận ly thân, bà công tước sang sống ở miền nam nước Pháp. Chuyện ấy mới xảy ra trước đó không lâu, và ai cũng biết cậu bé rất thương mẹ. Sau khi mẹ rời lâu đài Hôn-đơ-nét, cậu buồn rầu ủ rũ, và chính vì thế mà công tước muốn gửi cậu tới trường tôi. Chỉ hai tuần sau cậu đã thấy ở trường như ở nhà, và có vẻ hoàn toàn vui vẻ.
— Lần cuối cùng người ta thấy cậu là đêm mười ba tháng năm, tức là đêm thứ hai vừa rồi. Phòng cậu ở tầng ba, phải đi qua một phòng khác rộng hơn có hai cậu bé ngủ. Hai cậu này không thấy, không nghe gì cả, nên chắc chắn cậu Xan-tai-ơ không đi lối ấy. Cửa sổ phòng cậu mở, và có một gốc thường xuân to khoẻ bò xuống tận đất. Bên dưới chúng tôi không tìm thấy dấu chân nào, nhưng chắc chắn đó là lối ra duy nhất có thể có.
— Bảy giờ sáng thứ ba thì người ta phát hiện cậu vắng mặt. Giường cậu có dấu người nằm. Trước khi đi cậu đã mặc quần áo đầy đủ, bộ đồng phục thường ngày gồm áo vét đen kiểu trường I-tơn và quần màu xám sẫm. Không có dấu hiệu nào cho thấy có người vào phòng, và chắc chắn nếu có tiếng kêu hay xô xát thì đã có người nghe thấy, vì cậu Con-tơ, cậu lớn hơn ở phòng ngoài, ngủ rất tỉnh.
— Khi phát hiện tiểu công tước Xan-tai-ơ mất tích, tôi lập tức điểm danh toàn trường, cả học trò, thầy giáo lẫn người làm. Lúc ấy chúng tôi mới biết cậu không trốn đi một mình. Ông Hai-đơ-gơ, thầy dạy tiếng Đức, cũng biến mất. Phòng ông ở tầng ba, tận đầu kia toà nhà, quay cùng hướng với phòng cậu Xan-tai-ơ. Giường ông cũng có dấu người nằm, nhưng có vẻ ông ra đi khi mới mặc quần áo dở dang, vì áo sơ mi và tất còn vứt dưới sàn. Chắc chắn ông đã tụt xuống theo dây thường xuân, vì chúng tôi thấy dấu chân ở chỗ ông đặt chân xuống bãi cỏ. Xe đạp của ông để trong một cái lán nhỏ cạnh bãi cỏ, và cũng đã biến mất.
— Ông ấy làm việc với tôi hai năm, tới với những lời giới thiệu tốt nhất, nhưng là người ít nói, cau có, không được thầy giáo lẫn học trò ưa lắm. Không tìm thấy dấu vết gì của những kẻ bỏ trốn, và giờ đã sáng thứ năm mà chúng tôi vẫn mù tịt như hôm thứ ba. Dĩ nhiên chúng tôi đã hỏi ngay ở lâu đài Hôn-đơ-nét. Lâu đài chỉ cách vài dặm, và chúng tôi tưởng cậu bé đột nhiên nhớ nhà nên đã về với bố, nhưng ở đó không ai nghe tin gì về cậu. Công tước vô cùng bối rối, còn tôi thì các ông đã thấy đấy, sự chờ đợi và trách nhiệm đã làm tôi suy sụp thần kinh tới mức nào. Thưa ông Hôm, nếu có bao giờ ông dốc hết tài năng, tôi khẩn cầu ông hãy làm thế lúc này, vì cả đời ông sẽ không bao giờ gặp một vụ nào xứng đáng hơn.
Sơ-lốc Hôm đã lắng nghe lời kể của ông hiệu trưởng khốn khổ với sự chú tâm cao nhất. Đôi lông mày nhíu lại và nếp nhăn sâu giữa hai hàng mày cho thấy anh chẳng cần ai thúc giục cũng đã dồn hết tâm trí vào một bài toán mà, ngoài những quyền lợi to lớn dính líu tới, còn đánh thẳng vào niềm say mê của anh với những gì phức tạp và khác thường. Giờ anh rút sổ tay ra, ghi một hai dòng.
— Ông thật sơ suất khi không tới gặp tôi sớm hơn, — anh nghiêm khắc nói. — Ông bắt tôi khởi đầu cuộc điều tra với một bất lợi rất lớn. Chẳng hạn, không thể nào có chuyện dây thường xuân và bãi cỏ kia lại chẳng cho một người quan sát lão luyện biết được điều gì.
— Không phải lỗi tôi, thưa ông Hôm. Công tước hết sức muốn tránh mọi chuyện ồn ào trước công chúng. Ngài sợ nỗi bất hạnh trong gia đình bị phơi ra trước thiên hạ. Ngài ghê sợ mọi chuyện như thế.
— Nhưng đã có điều tra chính thức chứ?
— Có, thưa ông, nhưng kết quả thật đáng thất vọng. Người ta có ngay một manh mối tưởng là đúng, vì có tin một cậu bé và một thanh niên đã được thấy rời một ga gần đó trên chuyến tàu sớm. Mãi tối qua chúng tôi mới nhận tin hai người ấy đã bị lùng ra ở Li-vơ-pun, và hoá ra họ chẳng liên quan gì tới vụ này. Chính lúc ấy, tuyệt vọng và thất vọng, sau một đêm mất ngủ, tôi đi thẳng tới ông bằng chuyến tàu sớm.
— Tôi đoán trong lúc lần theo manh mối sai ấy thì việc điều tra tại chỗ bị lơi lỏng?
— Bị bỏ hẳn.
— Vậy là mất toi ba ngày. Vụ này đã bị xử lý tệ hại hết sức.
— Tôi thấy thế và xin nhận như thế.
— Tuy vậy, bài toán này hẳn rốt cuộc cũng có lời giải. Tôi rất vui lòng điều tra nó. Ông có tìm ra mối liên hệ nào giữa cậu bé mất tích và ông thầy người Đức không?
— Không hề.
— Cậu ấy có học lớp ông thầy ấy không?
— Không, theo tôi biết thì cậu chưa bao giờ nói với ông ấy một lời.
— Điều đó quả là rất lạ. Cậu bé có xe đạp không?
— Không.
— Có chiếc xe đạp nào khác bị mất không?
— Không.
— Chắc chứ?
— Hoàn toàn chắc.
— Thế thì ông không định nghiêm túc cho rằng ông thầy người Đức này đạp xe đi giữa đêm khuya, tay bế cậu bé đấy chứ?
— Dĩ nhiên là không.
— Vậy trong đầu ông có giả thuyết gì?
— Chiếc xe đạp có thể là để đánh lạc hướng. Có thể nó được giấu ở đâu đó, còn hai người đi bộ.
— Đúng thế, nhưng đánh lạc hướng kiểu ấy thì có phần vô lý, phải không? Trong lán còn xe đạp nào khác không?
— Vài chiếc.
— Nếu muốn người ta nghĩ họ đã đi xe đạp, chẳng lẽ hắn không giấu hẳn hai chiếc?
— Tôi đoán là có.
— Dĩ nhiên là có. Giả thuyết đánh lạc hướng không ổn. Nhưng chi tiết này là điểm xuất phát tuyệt vời cho cuộc điều tra. Dù sao thì một chiếc xe đạp cũng chẳng dễ giấu hay huỷ. Còn một câu nữa. Hôm trước khi cậu bé biến mất, có ai tới thăm cậu không?
— Không.
— Cậu có nhận được thư không?
— Có, một lá.
— Của ai?
— Của bố cậu.
— Ông có bóc thư của học trò không?
— Không.
— Vậy sao ông biết thư của bố cậu?
— Trên phong bì có huy hiệu dòng họ, và địa chỉ viết bằng nét chữ cứng nhắc đặc biệt của công tước. Vả lại công tước cũng nhớ là mình có viết.
— Trước đó cậu nhận thư lần cuối là khi nào?
— Trước đó mấy ngày không có lá nào.
— Có bao giờ cậu nhận thư từ Pháp không?
— Không, chưa bao giờ.
— Dĩ nhiên ông hiểu mục đích những câu hỏi của tôi. Hoặc cậu bé bị bắt đi bằng vũ lực, hoặc cậu tự ý ra đi. Trong trường hợp sau, hẳn phải có sự xúi giục nào đó từ bên ngoài mới khiến một cậu bé ít tuổi như vậy làm chuyện ấy. Nếu không có ai tới thăm thì sự xúi giục ấy phải tới qua thư từ. Vì thế tôi cố tìm hiểu những ai thư từ với cậu.
— Tôi e là không giúp ông được nhiều. Theo tôi biết, người duy nhất viết thư cho cậu là bố cậu.
— Người đã viết cho cậu đúng vào ngày cậu biến mất. Quan hệ giữa hai bố con có thân thiết lắm không?
— Công tước chẳng bao giờ thân thiết lắm với ai. Ngài hoàn toàn chìm đắm trong những vấn đề quốc gia đại sự, và gần như không để những cảm xúc tầm thường chạm tới. Nhưng theo cách của ngài, ngài luôn tử tế với cậu bé.
— Nhưng cậu bé thì thương mẹ hơn?
— Vâng.
— Cậu có nói thế không?
— Không.
— Vậy là công tước nói?
— Trời đất, không đời nào!
— Vậy sao ông biết?
— Tôi có vài lần nói chuyện riêng với ông Giêm Oai-đơ, thư ký của công tước. Chính ông ấy cho tôi biết về tình cảm của tiểu công tước Xan-tai-ơ.
— Tôi hiểu. Nhân tiện, lá thư cuối cùng của công tước, người ta có tìm thấy nó trong phòng cậu bé sau khi cậu đi không?
— Không, cậu đã mang nó theo. Thưa ông Hôm, tôi nghĩ đã tới lúc chúng ta phải ra ga Iu-xtơn.
— Tôi sẽ gọi một chiếc xe ngựa bốn bánh. Mười lăm phút nữa chúng tôi sẽ sẵn sàng. Nếu ông đánh điện về nhà, thưa ông Hắc-xta-bơn, thì nên để người quanh vùng tưởng rằng cuộc điều tra vẫn đang tiến hành ở Li-vơ-pun, hay ở bất cứ nơi nào mà con mồi giả ấy đã dẫn bầy chó săn của các ông tới. Trong lúc đó tôi sẽ lặng lẽ làm chút việc ngay trước cửa nhà ông, và có lẽ dấu vết chưa nguội tới mức hai con chó săn già như Oát-xơn và tôi không đánh hơi được.
Chiều tối hôm ấy, chúng tôi đã ở giữa bầu không khí lạnh và trong lành của vùng núi Pích, nơi có ngôi trường nổi tiếng của tiến sĩ Hắc-xta-bơn. Tới nơi thì trời đã tối. Trên bàn ở tiền sảnh có một tấm danh thiếp, và người quản gia thì thầm điều gì đó với chủ. Ông quay sang chúng tôi, từng nét mặt nặng nề đều lộ vẻ bối rối.
— Công tước đang ở đây, — ông nói. — Công tước và ông Oai-đơ đang ở trong phòng làm việc. Mời các ông, tôi sẽ giới thiệu.
Dĩ nhiên tôi đã quen với chân dung của vị chính khách lừng danh, nhưng con người thật khác hẳn tranh vẽ. Ông cao lớn, đường bệ, ăn mặc chỉn chu tới từng chi tiết, gương mặt gầy hốc hác, cái mũi dài và cong một cách kỳ dị. Nước da ông trắng bệch như người chết, càng làm người ta giật mình khi đặt cạnh bộ râu dài màu đỏ rực, thon dần xuống phủ trên chiếc gi-lê trắng, sợi dây đồng hồ lấp lánh qua chòm râu. Nhân vật đường bệ ấy đứng giữa tấm thảm trước lò sưởi của tiến sĩ Hắc-xta-bơn, nhìn chúng tôi lạnh như đá. Bên cạnh ông là một người còn rất trẻ, tôi đoán là Oai-đơ, viên thư ký riêng. Anh ta nhỏ người, hay bồn chồn, lanh lợi, với đôi mắt xanh nhạt thông minh và nét mặt linh hoạt. Chính anh ta mở đầu câu chuyện ngay, bằng giọng sắc gọn và quả quyết.
— Sáng nay tôi có ghé qua, thưa tiến sĩ Hắc-xta-bơn, nhưng quá muộn, không ngăn được ông lên Luân Đôn. Tôi được biết mục đích của ông là mời ông Sơ-lốc Hôm nhận điều tra vụ này. Công tước lấy làm ngạc nhiên, thưa tiến sĩ, rằng ông đã làm một việc như thế mà không hỏi ý ngài.
— Khi tôi biết cảnh sát đã thất bại...
— Công tước hoàn toàn không tin rằng cảnh sát đã thất bại.
— Nhưng ông Oai-đơ, chắc chắn là...
— Ông thừa biết, thưa tiến sĩ, rằng công tước đặc biệt muốn tránh mọi chuyện ồn ào trước công chúng. Ngài muốn càng ít người biết chuyện càng tốt.
— Việc này dễ sửa thôi, — ông tiến sĩ bị bẽ mặt nói. — Ông Sơ-lốc Hôm có thể trở về Luân Đôn bằng chuyến tàu sáng mai.
— Không hẳn thế đâu, thưa tiến sĩ, không hẳn thế, — Hôm nói bằng giọng ngọt ngào nhất. — Không khí miền bắc này trong lành dễ chịu quá, nên tôi định ở lại vài ngày trên những cánh đồng hoang của các ông, và tìm cách nào đó khiến đầu óc mình bận rộn. Tôi trú dưới mái nhà ông hay ở quán trọ trong làng, dĩ nhiên là do ông quyết.
Tôi thấy ông tiến sĩ khốn khổ đang lưỡng lự tới cùng cực, và ông được cứu nhờ giọng nói trầm, vang của vị công tước râu đỏ, ngân lên như tiếng chiêng báo giờ ăn.
— Tôi đồng ý với ông Oai-đơ, thưa tiến sĩ Hắc-xta-bơn, rằng lẽ ra ông nên hỏi ý tôi thì khôn ngoan hơn. Nhưng vì ông Hôm đã được ông kể cho biết chuyện rồi, thì quả thật vô lý nếu chúng ta không nhờ tới tài của ông ấy. Thưa ông Hôm, chẳng cần phải ra quán trọ, tôi rất vui nếu ông về ở với tôi tại lâu đài Hôn-đơ-nét.
— Cảm ơn công tước. Vì việc điều tra, tôi nghĩ tôi nên ở lại ngay nơi xảy ra sự việc bí ẩn thì khôn ngoan hơn.
— Tuỳ ông, ông Hôm. Dĩ nhiên ông Oai-đơ hay tôi có thể cho ông biết điều gì thì ông cứ hỏi.
— Có lẽ tôi sẽ cần tới gặp ngài ở lâu đài, — Hôm nói. — Giờ tôi chỉ xin hỏi ngài, ngài đã tự mình nghĩ ra lời giải thích nào cho sự mất tích bí ẩn của con trai ngài chưa?
— Chưa, thưa ông.
— Xin thứ lỗi nếu tôi nhắc tới điều làm ngài đau lòng, nhưng tôi không có cách nào khác. Ngài có nghĩ bà công tước dính dáng gì tới chuyện này không?
Vị đại thần lộ rõ vẻ ngần ngừ.
— Tôi không nghĩ thế, — cuối cùng ông nói.
— Lời giải thích hiển nhiên khác là đứa trẻ bị bắt cóc để đòi tiền chuộc. Ngài chưa nhận được yêu cầu nào như thế sao?
— Chưa, thưa ông.
— Thêm một câu nữa, thưa công tước. Tôi được biết ngài đã viết thư cho con trai đúng vào ngày xảy ra sự việc.
— Không, tôi viết từ hôm trước.
— Đúng thế. Nhưng cậu nhận được nó vào hôm ấy?
— Phải.
— Trong thư ngài có điều gì có thể làm cậu mất bình tĩnh hay xui cậu làm một việc như thế không?
— Không, thưa ông, chắc chắn không.
— Ngài có tự tay gửi lá thư ấy không?
Câu trả lời của nhà quý tộc bị viên thư ký cắt ngang. Anh ta chen vào, có phần nóng nảy.
— Công tước không có thói quen tự tay gửi thư, — anh ta nói. — Lá thư ấy được đặt cùng những lá khác trên bàn làm việc, và chính tôi bỏ chúng vào túi thư.
— Anh chắc lá thư này có trong số đó chứ?
— Vâng, tôi có để ý thấy.
— Hôm ấy ngài viết bao nhiêu lá thư, thưa công tước?
— Hai ba chục lá. Tôi thư từ rất nhiều. Nhưng chắc chắn chuyện này hơi lạc đề?
— Không hoàn toàn, — Hôm nói.
— Về phần tôi, — công tước nói tiếp, — tôi đã khuyên cảnh sát chú ý tới miền nam nước Pháp. Tôi đã nói tôi không tin bà công tước lại khuyến khích một hành động quái gở như thế, nhưng thằng bé có những ý nghĩ hết sức sai lầm, và có thể nó đã trốn sang với mẹ, với sự giúp sức của tay người Đức kia. Thưa tiến sĩ Hắc-xta-bơn, tôi nghĩ giờ chúng tôi sẽ về lâu đài.
Tôi thấy Hôm còn muốn hỏi thêm vài câu nữa, nhưng thái độ dứt khoát của nhà quý tộc cho thấy cuộc gặp đã chấm dứt. Rõ ràng với bản tính quý tộc tột bậc của ông, việc bàn chuyện gia đình riêng tư với người lạ là điều hết sức ghê tởm, và ông sợ mỗi câu hỏi mới lại rọi một luồng sáng gay gắt hơn vào những góc khuất được che đậy kín đáo trong lịch sử dòng họ công tước của mình.
Khi nhà quý tộc và viên thư ký đi rồi, bạn tôi lập tức lao vào cuộc điều tra với sự hăng hái vốn có.
Phòng cậu bé được xem xét kỹ lưỡng, và chẳng cho kết quả gì ngoài niềm tin tuyệt đối rằng cậu chỉ có thể trốn ra qua cửa sổ. Phòng và đồ đạc của ông thầy người Đức cũng không cho thêm manh mối nào. Ở chỗ ông ta, một nhánh thường xuân đã đứt dưới sức nặng của ông, và dưới ánh đèn bão, chúng tôi thấy trên bãi cỏ vết lõm nơi gót chân ông chạm đất. Vết lõm duy nhất trên thảm cỏ xanh xén ngắn ấy là nhân chứng vật chất duy nhất còn lại của cuộc trốn chạy ban đêm không sao giải thích nổi.
Sơ-lốc Hôm một mình rời khỏi trường, quá mười một giờ mới về. Anh kiếm được một tấm bản đồ quân sự khổ lớn của vùng này, mang vào phòng tôi, trải lên giường, đặt cây đèn cân bằng ngay giữa, rồi vừa hút thuốc vừa nghiên cứu, thỉnh thoảng lại dùng cái đầu tẩu bằng hổ phách đang bốc khói chỉ vào những điểm đáng chú ý.
— Vụ này càng lúc càng cuốn tôi, Oát-xơn ạ, — anh nói. — Rõ ràng nó có vài điểm đáng chú ý. Ở giai đoạn đầu này, tôi muốn anh nắm được những đặc điểm địa lý có thể liên quan nhiều tới cuộc điều tra.
— Nhìn tấm bản đồ này. Ô vuông sẫm màu này là trường Tu Viện. Tôi sẽ cắm một cái ghim vào đây. Còn đường kẻ này là con đường cái. Anh thấy nó chạy theo hướng đông tây ngang qua trường, và anh cũng thấy trong vòng một dặm về cả hai phía không có con đường nhánh nào. Nếu hai người kia đi bằng đường cái thì phải là con đường này.
— Đúng vậy.
— Nhờ một sự tình cờ lạ lùng và may mắn, ta có thể kiểm tra phần nào những gì đã đi qua con đường này trong đêm ấy. Ở điểm này, chỗ cái tẩu của tôi đang đặt, có một cảnh sát hạt đứng gác từ mười hai giờ đêm tới sáu giờ sáng. Như anh thấy, đó là ngã tư đầu tiên ở phía đông. Người này quả quyết anh ta không rời vị trí phút nào, và chắc chắn không có cậu bé hay người đàn ông nào có thể đi qua đó mà không bị anh ta thấy. Tối nay tôi đã nói chuyện với viên cảnh sát ấy, và tôi thấy anh ta hoàn toàn đáng tin cậy. Thế là đầu này bị chặn. Giờ ta xét đầu kia. Ở đây có một quán trọ, quán Bò Đỏ, bà chủ quán đang ốm. Bà cho người lên Mác-cơn-tơn mời bác sĩ, nhưng bác sĩ bận một ca khác nên tới sáng mới tới. Người trong quán thức suốt đêm chờ ông, và hình như lúc nào cũng có người để mắt tới con đường. Họ quả quyết không có ai đi qua. Nếu lời khai của họ đáng tin, thì ta may mắn chặn được cả phía tây, và có thể nói rằng những kẻ bỏ trốn hoàn toàn không đi đường cái.
— Nhưng còn chiếc xe đạp? — tôi phản bác.
— Đúng thế. Lát nữa ta sẽ nói tới chiếc xe đạp. Ta suy luận tiếp: nếu những người này không đi đường cái, hẳn họ phải băng qua vùng đất ở phía bắc hoặc phía nam trường. Điều đó chắc chắn. Hãy cân nhắc hai phía. Phía nam trường, như anh thấy, là một vùng đất canh tác rộng, chia thành những thửa ruộng nhỏ, giữa các thửa có tường đá. Tôi thừa nhận ở đó đi xe đạp là không thể. Có thể gạt ý ấy đi. Ta quay sang vùng phía bắc. Ở đây có một khu rừng nhỏ, trên bản đồ ghi là rừng Rách Rưới, và bên kia rừng là một cánh đồng hoang mênh mông nhấp nhô, đồng hoang Lâu-ơ Ghin, trải dài mười dặm và cao dần lên. Đây, ở một bên vùng hoang vu này là lâu đài Hôn-đơ-nét, đi đường bộ thì mười dặm, nhưng băng qua đồng hoang thì chỉ sáu. Đó là một vùng bình nguyên hoang vắng lạ lùng. Có vài nông dân trên đồng hoang có những mảnh đất nhỏ, nuôi cừu và bò. Ngoài họ ra, chỉ có chim choi choi và chim mỏ nhát là cư dân, cho tới tận đường cái đi Chét-xtơ-phin. Ở đó có một nhà thờ, anh thấy đấy, vài ngôi nhà tranh và một quán trọ. Xa hơn nữa thì đồi núi trở nên dốc đứng. Chắc chắn cuộc truy tìm của ta phải nhắm về phía bắc này.
— Nhưng còn chiếc xe đạp? — tôi khăng khăng.
— Thôi được, thôi được! — Hôm sốt ruột nói. — Một tay đạp xe giỏi đâu cần đường cái. Đồng hoang chằng chịt lối mòn, mà đêm ấy trăng tròn. Ơ kìa! Gì thế này?
Có tiếng gõ cửa dồn dập, và ngay sau đó tiến sĩ Hắc-xta-bơn đã ở trong phòng. Tay ông cầm một chiếc mũ lưỡi trai màu xanh lam của đội thể thao nhà trường, trên lưỡi trai có một vạch trắng hình chữ V.
— Cuối cùng chúng ta đã có manh mối! — ông kêu lên. — Tạ ơn trời! Cuối cùng chúng ta đã lần ra dấu vết của cậu bé thân yêu! Đây là mũ của cậu ấy.
— Tìm thấy ở đâu?
— Trong cỗ xe của đám người du mục cắm trại trên đồng hoang. Họ đi hôm thứ ba. Hôm nay cảnh sát lần ra họ và khám xe của họ. Tìm thấy cái này.
— Họ giải thích thế nào?
— Họ quanh co, nói dối, bảo là nhặt được trên đồng hoang sáng thứ ba. Chúng biết cậu ấy ở đâu, lũ vô lại! Tạ ơn Chúa, chúng đã bị nhốt kỹ cả rồi. Hoặc nỗi sợ pháp luật, hoặc hầu bao của công tước, chắc chắn sẽ moi được ra mọi điều chúng biết.
— Tới đây thì ổn, — Hôm nói khi cuối cùng ông tiến sĩ đã ra khỏi phòng. — Ít ra nó cũng củng cố giả thuyết rằng ta phải trông chờ kết quả ở phía đồng hoang Lâu-ơ Ghin. Cảnh sát thật ra chưa làm được gì ở đây, ngoài việc bắt mấy người du mục. Nhìn đây, Oát-xơn! Có một con lạch chảy qua đồng hoang. Anh thấy nó được ghi trên bản đồ đây. Có những chỗ nó loang rộng thành bãi lầy. Đặc biệt là vùng giữa lâu đài Hôn-đơ-nét và trường học. Tìm dấu vết ở chỗ khác trong thời tiết khô ráo này thì vô ích, nhưng ở chỗ ấy chắc chắn có cơ may còn lại dấu tích gì đó. Sáng sớm mai tôi sẽ gọi anh dậy, anh và tôi sẽ thử xem có rọi được chút ánh sáng nào vào bí ẩn này không.
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám