Truyện Đỉnh

🔍 Truyện trinh thám

Chiếc mũ cũ và con ngỗng Giáng sinh

Sơ-lốc Hôm: Viên ngọc xanh · Chương 1/2 · của Arthur Conan Doyle

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 16.817 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07Sáng ngày thứ hai sau lễ Giáng sinh, tôi…
  2. 3:29Hẳn là anh ta đã trả lại cho chủ?
  3. 4:45Tôi cầm vật rách nát lên tay, lật đi…
  4. 7:03Đây là vấn đề dung tích, anh nói. Một…
  5. 9:11Cái gì anh cũng có câu trả lời. Nhưng…
  6. 10:45Nó hơn cả một viên đá quý. Nó là…
  7. 14:05Đưa tôi cây bút chì và mẩu giấy kia.…
  8. 16:26Tôi nghĩ nhiều khả năng là Hen-ri Bây-cơ hoàn…

Chương 1: Chiếc mũ cũ và con ngỗng Giáng sinh

Sáng ngày thứ hai sau lễ Giáng sinh, tôi ghé thăm bạn tôi là Sơ-lốc Hôm để chúc mừng anh nhân dịp năm hết tết đến. Anh đang nằm dài trên tràng kỷ, mặc chiếc áo choàng ngủ màu tím, bên phải trong tầm tay là giá để tẩu thuốc, cạnh đó là một chồng báo buổi sáng nhàu nhĩ, rõ ràng vừa được đọc kỹ. Bên cạnh tràng kỷ có một chiếc ghế gỗ, trên góc lưng ghế treo một chiếc mũ phớt cứng tồi tàn, cũ nát, sờn rách, nứt nẻ nhiều chỗ. Chiếc kính lúp và chiếc kẹp đặt trên mặt ghế cho thấy chiếc mũ được treo như thế là để xem xét.

— Anh đang bận, tôi nói. Có lẽ tôi làm phiền anh.

— Chẳng phiền gì cả. Tôi lại mừng có một người bạn để bàn về những gì mình tìm ra. Chuyện này hoàn toàn vặt vãnh, anh hất ngón tay cái về phía chiếc mũ cũ, nhưng có vài điểm liên quan tới nó không phải hoàn toàn không thú vị, thậm chí còn bổ ích nữa.

Tôi ngồi xuống ghế bành của anh, hơ tay bên ngọn lửa đang reo tí tách, vì trời đã vào đợt rét đậm, cửa kính phủ dày những tinh thể băng.

— Tôi đoán, tôi nói, trông thì tầm thường thế thôi, nhưng vật này hẳn gắn với một câu chuyện chết chóc nào đó. Nó là manh mối sẽ dẫn anh tới chỗ giải một bí ẩn và trừng phạt một tội ác.

— Không, không. Chẳng có tội ác nào cả, Sơ-lốc Hôm cười nói. Chỉ là một trong những sự cố nhỏ ngộ nghĩnh, thứ sẽ xảy ra khi có bốn triệu con người chen chúc nhau trong vài dặm vuông. Giữa những va chạm qua lại của một đám người đông đúc nhường ấy, sự việc có thể kết hợp với nhau theo mọi cách, và sẽ nảy ra nhiều bài toán nhỏ có thể lạ lùng, kỳ quặc mà chẳng phải tội ác gì. Chúng ta đã từng gặp những chuyện như thế rồi.

— Nhiều lắm là đằng khác, tôi nói. Trong sáu vụ gần đây nhất mà tôi ghi vào sổ, có ba vụ hoàn toàn chẳng dính dáng gì tới tội ác theo luật pháp.

— Chính thế. Anh muốn nói tới vụ tôi tìm cách lấy lại giấy tờ của I-rin Át-lơ, vụ kỳ lạ của cô Ma-ri Xơ-thơ-lân, và chuyện người đàn ông môi trề. Tôi tin là việc nhỏ này cũng sẽ rơi vào loại vô hại ấy thôi. Anh biết Pi-tơ-xơn, người gác cổng chứ?

— Biết.

— Chiến lợi phẩm này là của anh ta.

— Mũ của anh ta à?

— Không, không, anh ta nhặt được. Chủ của nó là ai thì không biết. Tôi xin anh hãy coi nó không phải như một chiếc mũ quả dưa méo mó, mà như một bài toán trí tuệ. Trước hết, nó đến đây thế nào. Nó tới vào sáng Giáng sinh, cùng với một con ngỗng béo tốt, mà tôi tin chắc lúc này đang được quay trước lò sưởi nhà Pi-tơ-xơn. Sự việc như sau. Khoảng bốn giờ sáng ngày Giáng sinh, Pi-tơ-xơn, như anh biết, là một người rất lương thiện, đi dự một bữa vui nho nhỏ về, đang đi dọc đường Tô-ten-hem Cót về nhà. Dưới ánh đèn khí, anh ta thấy phía trước có một người đàn ông khá cao, đi hơi loạng choạng, vai vác một con ngỗng trắng. Khi người ấy tới góc phố Gút, một cuộc xô xát nổ ra giữa ông ta với một nhóm du côn. Một tên trong bọn hất văng mũ ông ta. Ông ta bèn giơ gậy lên tự vệ, nhưng vung qua đầu thì lại đập vỡ cửa kính một cửa hiệu phía sau lưng. Pi-tơ-xơn lao tới để che chở người lạ khỏi bọn hành hung. Nhưng người kia, hoảng hồn vì đã làm vỡ cửa kính, lại thấy một người mặc đồng phục trông như nhà chức trách đang chạy về phía mình, liền buông con ngỗng, co giò chạy, mất hút vào mê cung những con phố nhỏ phía sau đường Tô-ten-hem Cót. Bọn du côn cũng chạy biến khi Pi-tơ-xơn xuất hiện. Thế là anh ta làm chủ chiến trường, và làm chủ luôn chiến lợi phẩm, gồm chiếc mũ méo mó này và một con ngỗng Giáng sinh không chê vào đâu được.

— Hẳn là anh ta đã trả lại cho chủ?

— Anh bạn thân mến, bài toán nằm ở chỗ đó. Đúng là có một tấm thiếp nhỏ buộc vào chân trái con ngỗng, ghi: Gửi bà Hen-ri Bây-cơ. Cũng đúng là trên lớp lót chiếc mũ này còn đọc được hai chữ cái đầu H. B. Nhưng trong thành phố của chúng ta có tới mấy nghìn người họ Bây-cơ, và mấy trăm người tên Hen-ri Bây-cơ, nên chẳng dễ gì trả lại đồ thất lạc cho đúng một người trong số họ.

— Vậy Pi-tơ-xơn đã làm gì?

— Sáng Giáng sinh anh ta mang cả mũ lẫn ngỗng tới chỗ tôi, vì biết rằng ngay cả những bài toán nhỏ nhất tôi cũng thấy thú vị. Con ngỗng thì chúng tôi giữ tới sáng nay, khi có dấu hiệu cho thấy, dù trời rét nhẹ, tốt nhất nên ăn nó ngay, đừng chần chừ vô ích. Vì thế người nhặt được nó đã mang nó đi để hoàn tất cái định mệnh sau cùng của một con ngỗng. Còn tôi thì tiếp tục giữ chiếc mũ của quý ông vô danh đã đánh mất bữa tối Giáng sinh của mình.

— Ông ta không đăng báo tìm à?

— Không.

— Vậy anh có manh mối gì để biết ông ta là ai?

— Chỉ có những gì chúng ta suy ra được.

— Từ chiếc mũ của ông ta?

— Chính xác.

— Anh đùa đấy chứ. Từ cái mũ phớt cũ nát này thì anh suy ra được gì?

— Kính lúp của tôi đây. Anh biết phương pháp của tôi rồi. Anh thử tự xem có thể suy ra được gì về con người từng đội vật này.

Tôi cầm vật rách nát lên tay, lật đi lật lại, mặt khá rầu rĩ. Đó là một chiếc mũ đen rất bình thường, kiểu tròn thông dụng, cứng, đã cũ lắm rồi. Lớp lót trước kia là lụa đỏ, nhưng đã bạc màu nhiều. Không có tên nhà sản xuất. Nhưng như Hôm đã nói, hai chữ cái H. B. được viết nguệch ngoạc ở một bên. Vành mũ có đục lỗ để móc dây giữ mũ, nhưng sợi dây chun đã mất. Ngoài ra, nó nứt nẻ, bám bụi dày đặc, lốm đốm vết bẩn ở nhiều chỗ, dù hình như đã có người cố che những mảng bạc màu bằng cách bôi mực lên.

— Tôi chẳng thấy gì cả, tôi nói, đưa trả nó cho bạn tôi.

— Ngược lại, Oát-xơn ạ, anh thấy tất cả. Chỉ có điều anh không suy luận từ những gì anh thấy. Anh quá rụt rè khi rút ra kết luận.

— Vậy xin anh cho tôi biết anh suy ra được gì từ chiếc mũ này.

Anh cầm nó lên, ngắm nghía theo cái kiểu đăm chiêu, hướng vào trong rất riêng của anh.

— Có lẽ nó không gợi được nhiều như lẽ ra nó có thể gợi, anh nói, nhưng vẫn có vài suy luận rất rõ ràng, và vài suy luận khác ít ra cũng có khả năng đúng rất cao. Người đàn ông này rất có học thức, điều đó thì nhìn là thấy ngay, và ba năm trước ông ta khá giả, dù bây giờ đã sa sút. Ông ta từng biết lo xa, nhưng giờ thì kém hơn trước, cho thấy có sự sa sút về đạo đức. Gộp điều này với sự sa sút về tiền bạc, có vẻ như đang có một ảnh hưởng xấu nào đó tác động lên ông ta, có lẽ là rượu. Điều đó có thể giải thích cả một việc hiển nhiên khác, là vợ ông ta đã hết yêu ông ta.

— Hôm thân mến!

— Tuy vậy ông ta vẫn giữ được chút tự trọng, anh nói tiếp, chẳng để ý gì tới lời phản đối của tôi. Ông ta sống một cuộc đời ít vận động, ít ra ngoài, thể lực sút kém hẳn, đã đứng tuổi, tóc hoa râm, mới cắt tóc mấy hôm nay, và xức kem dưỡng tóc mùi chanh. Đó là những điều rõ ràng hơn cả có thể suy ra từ chiếc mũ. Nhân tiện thêm một điều nữa, gần như chắc chắn nhà ông ta không lắp đèn khí.

— Anh đùa thật rồi, Hôm.

— Chẳng đùa chút nào. Lẽ nào ngay cả bây giờ, khi tôi đã nói cho anh những kết quả này, anh vẫn không thấy tôi đi tới chúng bằng cách nào?

— Tôi biết chắc mình rất đần, nhưng tôi phải thú thật là không theo kịp anh. Chẳng hạn, làm sao anh suy ra người này có học thức?

Thay cho câu trả lời, Hôm chụp chiếc mũ lên đầu. Nó tụt xuống quá trán, chạm tới sống mũi anh.

— Đây là vấn đề dung tích, anh nói. Một người có bộ óc to thế này thì hẳn trong đó phải có chút gì chứ.

— Còn sự sa sút về tiền bạc?

— Chiếc mũ này đã ba năm tuổi. Kiểu vành phẳng uốn cong ở mép này thịnh hành vào hồi ấy. Đây là mũ loại tốt nhất. Anh nhìn dải lụa gân và lớp lót tuyệt hảo này xem. Nếu ba năm trước người này đủ tiền mua một chiếc mũ đắt như thế, mà từ đó tới nay không mua chiếc nào khác, thì chắc chắn ông ta đã sa sút.

— Ừ, cái đó thì rõ rồi. Nhưng còn chuyện biết lo xa và sa sút đạo đức?

Sơ-lốc Hôm bật cười.

— Lo xa đây này, anh nói, đặt ngón tay lên cái khoen và cái vòng nhỏ dùng để móc dây giữ mũ. Mũ bán ra chẳng bao giờ có thứ này. Nếu ông ta đặt làm thêm, đó là dấu hiệu của một mức độ lo xa nhất định, vì ông ta đã chịu khó đề phòng gió thổi bay mũ. Nhưng ta thấy ông ta đã làm đứt dây chun mà không buồn thay cái mới, thì rõ ràng bây giờ ông ta kém lo xa hơn trước, một bằng chứng rõ rệt về một bản tính đang yếu đi. Mặt khác, ông ta đã cố che một vài vết bẩn trên lớp nỉ bằng cách bôi mực lên, đó là dấu hiệu ông ta chưa mất hết lòng tự trọng.

— Lập luận của anh quả là nghe xuôi tai.

— Những điểm khác, rằng ông ta đã đứng tuổi, tóc hoa râm, mới cắt tóc, và dùng kem dưỡng tóc mùi chanh, đều có thể thấy được khi xem kỹ phần dưới của lớp lót. Kính lúp cho thấy rất nhiều mẩu tóc ngắn, bị kéo của thợ cắt tóc cắt gọn. Chúng đều có vẻ dinh dính, và có mùi kem chanh rõ rệt. Anh để ý sẽ thấy lớp bụi này không phải bụi đường xám, lạo xạo, mà là bụi nhà màu nâu, mịn như lông tơ, cho thấy phần lớn thời gian chiếc mũ được treo trong nhà. Còn những vết ẩm ở mặt trong là bằng chứng chắc chắn rằng người đội nó đổ mồ hôi rất nhiều, nên khó mà có thể lực tốt được.

— Nhưng vợ ông ta, anh bảo bà ấy đã hết yêu ông ta.

— Chiếc mũ này đã mấy tuần không được chải. Oát-xơn thân mến ạ, khi nào tôi thấy anh đội một chiếc mũ bám bụi cả tuần, mà vợ anh vẫn để anh ra đường như thế, thì tôi sẽ lo rằng cả anh cũng đã bất hạnh mất tình yêu của vợ.

— Nhưng biết đâu ông ta sống độc thân.

— Không đâu, ông ta đang mang con ngỗng về để làm lành với vợ. Anh nhớ tấm thiếp buộc ở chân con ngỗng chứ.

— Cái gì anh cũng có câu trả lời. Nhưng làm thế quái nào anh suy ra được nhà ông ta không lắp đèn khí?

— Một vết sáp nến, thậm chí hai vết, có thể là tình cờ. Nhưng khi tôi thấy không dưới năm vết, thì tôi nghĩ chẳng còn mấy nghi ngờ rằng người này thường xuyên phải dùng nến mỡ. Có lẽ tối tối ông ta đi lên lầu, một tay cầm mũ, một tay cầm cây nến đang chảy nhỏ giọt. Dù sao thì ông ta cũng không thể dính vết sáp nến từ một ngọn đèn khí. Anh thấy thoả mãn chưa?

— Ồ, tài tình lắm, tôi vừa nói vừa cười. Nhưng như anh vừa nói, chẳng có tội ác nào xảy ra, chẳng có thiệt hại gì ngoài việc mất một con ngỗng, nên tất cả những thứ này có vẻ hơi phí sức.

Sơ-lốc Hôm vừa mở miệng định đáp thì cửa bật mở, và Pi-tơ-xơn, người gác cổng, xông vào phòng, má đỏ bừng, mặt mũi như người vừa sửng sốt đến choáng váng.

— Con ngỗng, ông Hôm! Con ngỗng, thưa ông! anh ta hổn hển.

— Hả? Nó làm sao? Nó sống lại rồi vỗ cánh bay qua cửa sổ nhà bếp à?

Hôm xoay người trên tràng kỷ để nhìn rõ hơn khuôn mặt đang kích động của anh ta.

— Ông xem này, thưa ông! Ông xem vợ tôi tìm thấy gì trong diều nó!

Anh ta xoè bàn tay ra, giữa lòng bàn tay là một viên đá màu xanh lấp lánh rực rỡ, nhỏ hơn hạt đậu một chút, nhưng trong suốt và chói sáng đến nỗi nó lấp lánh như một đốm điện trong lòng bàn tay khum tối của anh ta.

Sơ-lốc Hôm huýt sáo, ngồi bật dậy.

— Trời đất, Pi-tơ-xơn! anh nói. Thế này đúng là kho báu rồi. Tôi đoán anh biết mình đang cầm thứ gì chứ?

— Kim cương phải không, thưa ông? Một viên đá quý. Nó cứa vào kính như cứa vào ma-tít.

— Nó hơn cả một viên đá quý. Nó là viên đá quý.

— Đừng bảo là viên ngọc xanh của nữ bá tước Moóc-ca đấy nhé! tôi buột miệng.

— Chính nó. Tôi phải biết kích thước và hình dạng của nó chứ, vì dạo gần đây ngày nào tôi cũng đọc mẩu tin rao tìm nó trên báo “Thời Báo”. Nó là độc nhất vô nhị, giá trị của nó chỉ có thể phỏng đoán, nhưng số tiền thưởng một nghìn bảng thì chắc chắn chưa bằng một phần hai mươi giá thị trường.

— Một nghìn bảng! Lạy Chúa nhân từ!

Người gác cổng ngồi phịch xuống ghế, nhìn hết người này tới người kia trong chúng tôi.

— Đó là tiền thưởng. Và tôi có lý do để biết rằng còn có những lý do tình cảm phía sau, khiến bà bá tước sẵn sàng bỏ ra nửa gia sản của mình miễn là tìm lại được viên ngọc.

— Nếu tôi nhớ không lầm thì nó bị mất ở khách sạn Cốt-xmô-pô-li-tan, tôi nói.

— Đúng thế, vào ngày hai mươi hai tháng mười hai, vừa đúng năm hôm trước. Giôn Hoóc-nơ, một thợ sửa ống nước, bị buộc tội đã lấy nó khỏi hộp nữ trang của bà bá tước. Chứng cứ chống lại anh ta mạnh tới mức vụ án đã được chuyển lên toà đại hình. Hình như tôi có bài tường thuật về vụ này ở đây.

Anh lục lọi đống báo, liếc qua ngày tháng, cuối cùng vuốt phẳng một tờ, gấp đôi lại, rồi đọc đoạn sau:

Vụ trộm nữ trang ở khách sạn Cốt-xmô-pô-li-tan. Giôn Hoóc-nơ, hai mươi sáu tuổi, thợ sửa ống nước, bị đưa ra toà vì tội đã lấy cắp, vào ngày hai mươi hai tháng này, từ hộp nữ trang của nữ bá tước Moóc-ca, viên đá quý nổi tiếng được gọi là viên ngọc xanh. Giêm Rai-đơ, quản lý phục vụ của khách sạn, khai rằng vào ngày xảy ra vụ trộm, anh ta đã dẫn Hoóc-nơ lên phòng thay đồ của nữ bá tước để hàn lại thanh thứ hai của tấm vỉ lò sưởi bị lỏng. Anh ta ở lại với Hoóc-nơ một lúc, nhưng rồi bị gọi đi. Khi quay lại, anh ta thấy Hoóc-nơ đã biến mất, chiếc bàn giấy bị cạy, và chiếc hộp nhỏ bọc da, mà về sau mới biết là nơi bà bá tước vẫn cất viên ngọc, nằm trống rỗng trên bàn trang điểm. Rai-đơ lập tức báo động, và ngay tối hôm ấy Hoóc-nơ bị bắt. Nhưng không tìm thấy viên ngọc trên người anh ta cũng như trong phòng anh ta ở. Ca-tơ-rin Ki-u-xắc, hầu gái của bà bá tước, khai rằng đã nghe tiếng Rai-đơ kêu lên thảng thốt khi phát hiện vụ trộm, và đã chạy vào phòng, thấy mọi việc đúng như nhân chứng trước tả. Thanh tra Brát-xtrít, khu B, khai về việc bắt giữ Hoóc-nơ. Khi bị bắt, Hoóc-nơ vùng vẫy điên cuồng, một mực kêu oan. Vì có chứng cứ bị can từng có tiền án trộm cắp, quan toà không xử nhanh mà chuyển vụ án lên toà đại hình. Hoóc-nơ, người đã tỏ ra vô cùng xúc động trong suốt phiên toà, ngất đi lúc kết thúc và được khiêng ra khỏi phòng xử.

— Hừm! Đấy là chuyện ở toà vi cảnh, Hôm trầm ngâm nói, quăng tờ báo sang một bên. Câu hỏi giờ chúng ta phải giải là chuỗi sự việc nào đã dẫn từ một hộp nữ trang bị lục lọi ở đầu này, tới cái diều của một con ngỗng trên đường Tô-ten-hem Cót ở đầu kia. Anh thấy đấy, Oát-xơn, những suy luận nho nhỏ của chúng ta bỗng trở nên quan trọng hơn nhiều, và chẳng còn vô hại nữa. Viên ngọc đây. Viên ngọc từ con ngỗng mà ra, và con ngỗng từ ông Hen-ri Bây-cơ mà ra, quý ông với chiếc mũ tồi tàn và đủ mọi đặc điểm khác mà tôi đã làm anh chán tai. Vậy giờ chúng ta phải hết sức nghiêm túc tìm quý ông này, xác định xem ông ta đóng vai trò gì trong bí ẩn nhỏ này. Muốn thế, ta phải thử cách đơn giản nhất trước, mà chắc chắn đó là đăng một mẩu tin trên tất cả các báo buổi chiều. Nếu không ăn thua, tôi sẽ dùng tới những cách khác.

— Anh sẽ viết gì?

— Đưa tôi cây bút chì và mẩu giấy kia. Nào: Nhặt được ở góc phố Gút một con ngỗng và một chiếc mũ phớt đen. Ông Hen-ri Bây-cơ có thể nhận lại nếu tới số 221B phố Bây-cơ vào sáu giờ rưỡi tối nay. Thế là rõ ràng, gọn gàng.

— Rất gọn. Nhưng liệu ông ta có đọc được không?

— Ồ, chắc chắn ông ta sẽ để mắt tới báo chí, vì với một người nghèo thì đó là một mất mát lớn. Rõ ràng lúc ấy ông ta sợ quá, vì không may làm vỡ cửa kính, lại thấy Pi-tơ-xơn chạy tới, nên chẳng nghĩ được gì ngoài chuyện bỏ chạy. Nhưng từ đó tới giờ hẳn ông ta đã hối hận cay đắng vì cái phút bốc đồng khiến mình buông rơi con ngỗng. Hơn nữa, có tên ông ta trong mẩu tin thì thế nào ông ta cũng thấy, vì bất cứ ai quen ông ta cũng sẽ chỉ cho ông ta xem. Đây, Pi-tơ-xơn, chạy ra văn phòng quảng cáo, nhờ đăng cái này lên các báo buổi chiều.

— Báo nào, thưa ông?

— Ồ, báo “Địa Cầu”, “Ngôi Sao”, “Pôn Mon”, “Tin Xanh Giêm”, “Tin Buổi Chiều”, “Tiêu Chuẩn”, “Tiếng Vọng”, và bất cứ báo nào anh nghĩ ra.

— Vâng, thưa ông. Còn viên đá này?

— À phải, tôi sẽ giữ viên ngọc. Cảm ơn anh. À này, Pi-tơ-xơn, trên đường về anh mua giùm một con ngỗng để lại đây cho tôi, vì ta phải có một con trả cho quý ông kia, thay cho con mà cả nhà anh đang chén.

Khi người gác cổng đã đi, Hôm cầm viên ngọc lên, giơ ra chỗ sáng.

— Một vật xinh đẹp, anh nói. Anh xem nó lấp lánh, rực rỡ chưa kìa. Dĩ nhiên nó là hạt nhân, là tâm điểm của tội ác. Viên đá quý nào cũng vậy. Chúng là những miếng mồi ưa thích của quỷ dữ. Ở những viên ngọc lớn hơn, lâu đời hơn, mỗi mặt cắt có thể ứng với một vụ đổ máu. Viên này chưa tới hai mươi năm tuổi. Người ta tìm thấy nó bên bờ sông A-moi ở miền nam Trung Hoa. Điều đáng chú ý là nó có mọi đặc điểm của hồng ngọc, chỉ khác là nó màu xanh chứ không phải màu đỏ thắm. Dù còn trẻ, nó đã có một lịch sử đen tối. Đã có hai vụ giết người, một vụ tạt axít, một vụ tự sát, và mấy vụ trộm cướp xảy ra chỉ vì cục than kết tinh nặng chưa tới ba gam này. Ai mà ngờ một món đồ chơi xinh xắn như thế lại là kẻ cung cấp khách cho giá treo cổ và nhà tù? Giờ tôi sẽ khoá nó vào két, rồi viết vài dòng báo cho bà bá tước biết là chúng ta đang giữ nó.

— Anh có nghĩ anh thợ Hoóc-nơ kia vô tội không?

— Tôi chưa thể nói được.

— Vậy anh có cho rằng người kia, Hen-ri Bây-cơ, có dính líu gì tới vụ này không?

— Tôi nghĩ nhiều khả năng là Hen-ri Bây-cơ hoàn toàn vô tội, chẳng hề biết rằng con ngỗng ông ta đang vác trên vai còn quý giá hơn cả một con ngỗng bằng vàng ròng. Tuy vậy, tôi sẽ xác định điều đó bằng một phép thử rất đơn giản, nếu mẩu tin của chúng ta có người trả lời.

— Và trước lúc ấy anh không thể làm gì được?

— Không gì cả.

— Thế thì tôi sẽ đi khám bệnh tiếp. Nhưng tối nay tôi sẽ quay lại đúng giờ anh hẹn, vì tôi muốn được thấy lời giải cho một chuyện rối rắm thế này.

— Rất hoan nghênh anh. Bảy giờ tôi ăn tối. Hình như có món chim dẽ. Nhân tiện, sau những chuyện vừa rồi, có lẽ tôi nên dặn bà Hớt-xơn xem xét cái diều của nó.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơ-lốc Hôm: Viên ngọc xanh

  1. 1Chiếc mũ cũ và con ngỗng Giáng sinh17 phút
  2. 2Con ngỗng có vằn ở đuôiĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảArthur Conan Doyle (1859 – 1930)
Năm mất1930
Xuất bản lần đầu1892
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Adventure of the Blue Carbuncle, trong tập The Adventures of Sherlock Holmes, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →