Truyện Đỉnh

🔍 Truyện trinh thám

Na-pô-lê-ông của giới tội phạm

Sơ-lốc Hôm: Vụ án cuối cùng · Chương 1/2 · của Arthur Conan Doyle

⏱ 19 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 17.643 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:07Với một trái tim nặng trĩu, tôi cầm bút…
  2. 3:00Tôi nghĩ anh biết tôi đủ rõ, Oát-xơn ạ,…
  3. 3:57Thế thì tôi càng dễ đề nghị anh đi…
  4. 6:23Như anh biết đấy, Oát-xơn, không ai hiểu thế…
  5. 11:32"Mọi điều tôi muốn nói, anh đều đã nghĩ…
  6. 12:29"Chậc, chậc," hắn nói. "Tôi tin chắc một người…
  7. 14:59Anh đã bị tấn công rồi à?
  8. 18:30Tôi gặp anh ở đâu?

Chương 1: Na-pô-lê-ông của giới tội phạm

Với một trái tim nặng trĩu, tôi cầm bút viết những dòng cuối cùng mà tôi sẽ còn ghi lại về những tài năng phi thường đã làm nên con người bạn tôi, ông Sơ-lốc Hôm. Bằng một lối kể rời rạc, và như tôi thấm thía cảm nhận, hoàn toàn chưa xứng đáng, tôi đã cố thuật lại đôi điều về những trải nghiệm kỳ lạ của mình bên anh, từ lần tình cờ đầu tiên đưa chúng tôi tới với nhau vào thời vụ Cuộc điều tra màu đỏ, cho tới khi anh nhúng tay vào vụ Bản hiệp ước hải quân, một sự can thiệp chắc chắn đã ngăn được một rắc rối quốc tế nghiêm trọng. Tôi đã định dừng ở đó, không nói gì về cái sự kiện đã để lại trong đời tôi một khoảng trống mà hai năm trôi qua cũng chẳng lấp được bao nhiêu. Thế nhưng những lá thư gần đây, trong đó đại tá Giêm Mô-ri-a-ti bênh vực thanh danh người anh em của mình, đã buộc tôi phải lên tiếng, và tôi không còn cách nào khác ngoài việc trình bày trước công chúng các sự việc đúng như chúng đã xảy ra. Chỉ mình tôi biết sự thật tuyệt đối của chuyện này, và tôi tin rằng đã đến lúc giấu kín nó chẳng còn ích gì. Theo tôi biết, báo chí mới có ba bài viết về chuyện ấy: bài trên tờ “Nhật Báo Giơ-ne-vơ” ngày 6 tháng 5 năm 1891, bản tin của hãng Rây-tơ trên các báo Anh ngày 7 tháng 5, và cuối cùng là lá thư gần đây mà tôi vừa nhắc tới. Hai bài đầu cực kỳ vắn tắt, còn bài sau cùng thì, như tôi sẽ chứng minh, là một sự bóp méo hoàn toàn sự thật. Giờ đây đến lượt tôi lần đầu kể lại những gì thực sự đã diễn ra giữa giáo sư Mô-ri-a-ti và ông Sơ-lốc Hôm.

Có lẽ người ta còn nhớ, sau khi tôi lấy vợ và mở phòng khám riêng, mối quan hệ hết sức thân thiết giữa Hôm và tôi đã thay đổi phần nào. Anh vẫn thỉnh thoảng tìm tới tôi khi cần người bầu bạn trong các cuộc điều tra, nhưng những dịp ấy ngày càng thưa dần, tới mức tôi thấy trong năm 1890 chỉ có ba vụ tôi còn giữ ghi chép. Suốt mùa đông năm ấy và đầu mùa xuân năm 1891, tôi đọc báo thấy anh được chính phủ Pháp mời lo một việc hệ trọng bậc nhất, và tôi nhận được hai lá thư ngắn của Hôm, gửi từ Nác-bon và từ Nim, qua đó tôi đoán anh sẽ ở bên Pháp khá lâu. Vì vậy, tôi khá ngạc nhiên khi thấy anh bước vào phòng khám của tôi vào tối ngày 24 tháng 4. Tôi thấy anh trông còn xanh xao, gầy gò hơn thường lệ.

— Phải, dạo này tôi đã tiêu hao sức lực hơi quá tay, anh nói, đáp lại ánh mắt chứ không phải lời nói của tôi. Thời gian gần đây tôi hơi bị dồn ép. Anh có phiền không nếu tôi đóng cửa chớp lại?

Ánh sáng duy nhất trong phòng là từ ngọn đèn trên bàn, nơi tôi đang ngồi đọc sách. Hôm men theo tường đi vòng qua, khép hai cánh cửa chớp lại rồi cài then thật chặt.

— Anh sợ điều gì à? tôi hỏi.

— Ừ, có sợ.

— Sợ gì?

— Sợ súng hơi.

— Hôm thân mến, anh nói thế nghĩa là sao?

— Tôi nghĩ anh biết tôi đủ rõ, Oát-xơn ạ, để hiểu rằng tôi hoàn toàn không phải người hay hốt hoảng. Nhưng đồng thời, không chịu nhận ra nguy hiểm khi nó đã kề sát bên mình thì là ngu xuẩn chứ chẳng phải can đảm. Cho tôi xin que diêm được không?

Anh rít một hơi thuốc lá, như thể tác dụng xoa dịu của nó làm anh dễ chịu.

— Tôi phải xin lỗi vì tới muộn thế này, anh nói, và tôi còn phải xin anh chịu phá lệ một chút, cho phép tôi lát nữa rời khỏi nhà anh bằng cách trèo qua bức tường vườn sau.

— Nhưng tất cả chuyện này nghĩa là gì? tôi hỏi.

Anh chìa tay ra, và dưới ánh đèn, tôi thấy hai khớp ngón tay anh bị toác ra, đang rỉ máu.

— Anh thấy đấy, đây không phải chuyện hão huyền đâu, anh mỉm cười nói. Ngược lại, nó đủ rắn chắc để một người đấm vào mà vỡ tay. Bà Oát-xơn có nhà không?

— Nhà tôi đang đi thăm người quen.

— Thế à! Vậy anh ở nhà một mình?

— Một mình.

— Thế thì tôi càng dễ đề nghị anh đi cùng tôi một tuần sang lục địa.

— Đi đâu?

— Ồ, đâu cũng được. Với tôi thì nơi nào cũng thế.

Tất cả chuyện này có cái gì đó rất lạ. Bản tính Hôm không phải là người đi nghỉ vu vơ không mục đích, và có cái gì đó trên khuôn mặt xanh xao, hốc hác của anh cho tôi biết thần kinh anh đang căng thẳng tột độ. Anh thấy câu hỏi trong mắt tôi, liền chụm các đầu ngón tay, tì khuỷu tay lên đầu gối, giải thích tình hình.

— Chắc anh chưa bao giờ nghe nói tới giáo sư Mô-ri-a-ti? anh nói.

— Chưa bao giờ.

— Đấy, cái thiên tài và cái kỳ diệu của chuyện này là ở chỗ đó! anh kêu lên. Hắn len lỏi khắp Luân Đôn, vậy mà chẳng ai nghe nói tới hắn. Chính điều đó đặt hắn lên đỉnh cao trong lịch sử tội phạm. Tôi nói với anh hoàn toàn nghiêm túc, Oát-xơn ạ, nếu tôi đánh bại được con người ấy, nếu tôi giải phóng được xã hội khỏi hắn, tôi sẽ cảm thấy sự nghiệp của mình đã lên tới đỉnh, và tôi sẵn sàng chuyển sang một lối sống bình lặng hơn. Nói riêng giữa hai ta, những vụ gần đây mà tôi đã giúp hoàng gia Xcan-đi-na-vi và nước cộng hoà Pháp đã cho tôi một vị thế đủ để tiếp tục sống theo lối yên tĩnh hợp với tôi nhất, và dồn tâm trí vào những nghiên cứu hoá học của mình. Nhưng tôi không thể yên, Oát-xơn ạ, tôi không thể ngồi yên trên ghế, nếu tôi nghĩ rằng một kẻ như giáo sư Mô-ri-a-ti vẫn đang ung dung đi lại trên phố phường Luân Đôn mà không ai dám thách thức.

— Vậy hắn đã làm gì?

— Cuộc đời hắn thật phi thường. Hắn xuất thân danh giá, học vấn tuyệt vời, được trời phú cho một năng khiếu toán học phi phàm. Năm hai mươi mốt tuổi, hắn viết một chuyên luận về định lý nhị thức, được cả châu Âu ca ngợi. Nhờ đó, hắn được giữ ghế giáo sư toán học ở một trong những trường đại học nhỏ của nước ta, và theo mọi vẻ bề ngoài, có một tương lai rực rỡ nhất đang chờ hắn phía trước. Nhưng con người này mang những khuynh hướng di truyền thuộc loại quỷ quái nhất. Một dòng máu tội ác chảy trong huyết quản hắn, và thay vì được làm dịu đi, nó lại được khuếch đại, trở nên nguy hiểm gấp bội nhờ năng lực trí tuệ phi thường của hắn. Những lời đồn đại đen tối dần dần vây quanh hắn ở thành phố đại học ấy, và cuối cùng hắn buộc phải từ bỏ ghế giáo sư, lên Luân Đôn, mở lớp luyện thi cho sĩ quan quân đội. Thiên hạ chỉ biết có thế, còn những gì tôi đang kể với anh bây giờ là những điều chính tôi đã khám phá ra.

Như anh biết đấy, Oát-xơn, không ai hiểu thế giới tội phạm cấp cao ở Luân Đôn bằng tôi. Nhiều năm nay tôi luôn cảm thấy có một thế lực nào đó đứng sau những kẻ phạm tội, một thế lực tổ chức sâu xa luôn luôn chặn đường pháp luật và giương khiên che chở cho kẻ làm điều ác. Hết lần này tới lần khác, trong đủ mọi loại vụ án, giả mạo giấy tờ, trộm cướp, giết người, tôi đã cảm thấy sự hiện diện của thế lực này, và tôi đã suy ra bàn tay của nó trong nhiều vụ chưa được khám phá mà người ta không mời tôi tham gia. Nhiều năm qua tôi đã cố xé tấm màn che phủ nó, và cuối cùng đã tới lúc tôi nắm được đầu sợi chỉ và lần theo nó, cho tới khi, sau cả nghìn khúc quanh xảo quyệt, nó dẫn tôi tới cựu giáo sư Mô-ri-a-ti lừng danh toán học.

Hắn là Na-pô-lê-ông của giới tội phạm, Oát-xơn ạ. Hắn là kẻ tổ chức một nửa những điều xấu xa, và gần như tất cả những gì chưa bị phát hiện trong thành phố lớn này. Hắn là một thiên tài, một triết gia, một nhà tư tưởng trừu tượng. Hắn có một bộ óc hạng nhất. Hắn ngồi bất động như con nhện giữa tâm mạng lưới, nhưng mạng lưới ấy có hàng nghìn sợi toả ra, và hắn biết rõ từng rung động nhỏ nhất của mỗi sợi. Bản thân hắn ít khi ra tay. Hắn chỉ lên kế hoạch. Nhưng tay chân của hắn thì đông đảo và được tổ chức tuyệt vời. Cần làm một vụ, chẳng hạn cần lấy cắp một tài liệu, cần lục soát một ngôi nhà, cần thủ tiêu một người, thì lời nhắn được chuyển tới giáo sư, việc được tổ chức và thực hiện. Kẻ tay chân có thể bị bắt. Khi ấy sẽ có tiền nộp bảo lãnh hay thuê luật sư bào chữa cho hắn. Nhưng thế lực trung tâm sử dụng kẻ tay chân ấy thì không bao giờ bị bắt, thậm chí chẳng bao giờ bị nghi ngờ. Đó là tổ chức mà tôi đã suy ra, Oát-xơn ạ, và tôi đã dồn toàn bộ sức lực để vạch trần và đập tan nó.

Nhưng giáo sư được rào quanh bởi những biện pháp phòng vệ tinh vi tới mức, dù tôi làm gì đi nữa, dường như vẫn không thể có được chứng cứ đủ để kết tội hắn trước toà. Anh biết năng lực của tôi, Oát-xơn thân mến ạ, vậy mà sau ba tháng tôi buộc phải thú nhận rằng cuối cùng tôi đã gặp một đối thủ ngang tầm trí tuệ với mình. Nỗi ghê tởm tội ác của hắn chìm đi trong niềm thán phục tài năng của hắn. Nhưng cuối cùng hắn đã trượt chân, chỉ một chút, một chút xíu thôi, nhưng như thế đã là quá nhiều khi tôi đã theo sát hắn đến vậy. Tôi đã có cơ hội, và từ điểm ấy, tôi giăng lưới quanh hắn, cho tới giờ lưới đã sẵn sàng sập lại. Trong ba ngày nữa, tức là thứ hai tới, mọi việc sẽ chín muồi, và giáo sư cùng mọi thành viên chủ chốt của băng đảng sẽ nằm trong tay cảnh sát. Khi ấy sẽ diễn ra phiên toà hình sự lớn nhất thế kỷ, hơn bốn mươi bí ẩn được làm sáng tỏ, và dây thòng lọng cho tất cả bọn chúng. Nhưng anh hiểu cho, nếu ta hành động sớm dù chỉ một chút, chúng có thể vuột khỏi tay ta ngay cả vào giây phút cuối.

Giá mà tôi làm được tất cả những điều này mà giáo sư Mô-ri-a-ti không hay biết, thì mọi việc đã ổn. Nhưng hắn quá xảo quyệt. Hắn thấy từng bước tôi đi để giăng lưới quanh hắn. Hết lần này tới lần khác hắn cố vùng thoát, nhưng lần nào tôi cũng chặn đầu được. Tôi nói với anh, anh bạn ạ, nếu có thể viết ra tường tận cuộc đấu thầm lặng ấy, nó sẽ là những đường kiếm tấn công và đỡ đòn xuất sắc nhất trong lịch sử ngành thám tử. Chưa bao giờ tôi vươn lên được tầm cao như thế, và chưa bao giờ tôi bị một đối thủ dồn ép đến thế. Hắn đâm sâu, nhưng tôi đâm sâu hơn một chút. Sáng nay những bước cuối cùng đã được thực hiện, chỉ còn cần ba ngày nữa là xong việc. Tôi đang ngồi trong phòng suy nghĩ về chuyện ấy thì cửa mở, và giáo sư Mô-ri-a-ti đứng trước mặt tôi.

Thần kinh tôi khá vững, Oát-xơn ạ, nhưng tôi phải thú thật là tôi giật mình khi thấy chính kẻ mà mình nghĩ tới suốt bao lâu nay đang đứng ngay ngưỡng cửa. Dáng vẻ hắn thì tôi đã quá quen. Hắn cực kỳ cao và gầy, vầng trán nhô vồng lên thành một đường cong trắng, hai con mắt hõm sâu trong hốc. Hắn cạo râu nhẵn nhụi, xanh xao, có dáng vẻ khắc khổ, nét mặt vẫn còn phảng phất cốt cách nhà giáo. Đôi vai hắn còng xuống vì học hành nhiều, mặt chìa về phía trước, và cứ chầm chậm lắc lư từ bên này sang bên kia theo một kiểu kỳ quặc như loài bò sát. Hắn nheo mắt nhìn tôi chăm chú, đầy vẻ tò mò.

"Trán anh kém phát triển hơn tôi tưởng," cuối cùng hắn nói. "Mân mê khẩu súng đã nạp đạn trong túi áo choàng ngủ là một thói quen nguy hiểm đấy."

Sự thật là khi hắn bước vào, tôi lập tức nhận ra mối nguy hiểm cực độ đang đe doạ bản thân mình. Lối thoát duy nhất có thể hình dung được của hắn là bịt miệng tôi. Ngay trong chớp mắt, tôi đã chuyển khẩu súng lục từ ngăn kéo vào túi, chĩa vào hắn qua lớp vải. Nghe hắn nói thế, tôi rút súng ra, đặt nó lên bàn, cò đã lên sẵn. Hắn vẫn mỉm cười, chớp chớp mắt, nhưng có cái gì đó trong đôi mắt hắn khiến tôi rất mừng vì đã để súng ở đó.

"Rõ ràng là anh không biết tôi," hắn nói.

"Ngược lại," tôi đáp, "tôi nghĩ khá rõ ràng là tôi biết. Mời ông ngồi. Tôi có thể dành cho ông năm phút nếu ông có điều gì muốn nói."

"Mọi điều tôi muốn nói, anh đều đã nghĩ tới rồi," hắn nói.

"Vậy thì có lẽ câu trả lời của tôi ông cũng đã nghĩ tới rồi," tôi đáp.

"Anh vẫn giữ nguyên ý định?"

"Tuyệt đối."

Hắn thọc tay vào túi, và tôi nhấc khẩu súng trên bàn lên. Nhưng hắn chỉ lấy ra một cuốn sổ tay, trong đó có ghi nguệch ngoạc vài ngày tháng.

"Ngày 4 tháng giêng, anh đã chặn đường tôi," hắn nói. "Ngày 23, anh làm tôi phiền phức. Giữa tháng hai, anh làm tôi bất tiện nghiêm trọng. Cuối tháng ba, anh làm kế hoạch của tôi bị cản trở hoàn toàn. Và giờ, vào cuối tháng tư, vì sự truy đuổi không ngừng của anh, tôi thấy mình bị đặt vào một tình thế mà tôi thật sự có nguy cơ mất tự do. Tình hình đang trở nên không thể chịu nổi."

"Ông có đề nghị gì không?" tôi hỏi.

"Anh phải buông tha việc này, ông Hôm ạ," hắn nói, lắc lư khuôn mặt. "Anh thật sự phải buông tha, anh biết đấy."

"Sau thứ hai," tôi nói.

"Chậc, chậc," hắn nói. "Tôi tin chắc một người thông minh như anh sẽ thấy chuyện này chỉ có thể có một kết cục. Anh cần phải rút lui. Anh đã xoay xở mọi việc theo cách khiến chúng tôi chỉ còn một phương sách. Được thấy cách anh vật lộn với vụ này đã là một bữa tiệc trí tuệ đối với tôi, và tôi nói thật lòng rằng nếu bị buộc phải dùng tới một biện pháp cực đoan nào đó thì tôi sẽ đau buồn lắm. Anh cười, thưa anh, nhưng tôi cam đoan với anh là tôi sẽ đau buồn thật."

"Nguy hiểm là một phần của nghề tôi," tôi nhận xét.

"Đó không phải là nguy hiểm," hắn nói. "Đó là sự huỷ diệt không thể tránh khỏi. Anh không chỉ đứng chắn đường một cá nhân, mà chắn đường cả một tổ chức hùng mạnh, mà dù thông minh đến đâu, anh cũng chưa thể hình dung hết tầm vóc của nó. Anh phải tránh ra, ông Hôm, hoặc sẽ bị giẫm nát dưới chân."

"Tôi e rằng," tôi nói, đứng dậy, "mải vui với cuộc trò chuyện này mà tôi đã bỏ bê một việc quan trọng đang chờ tôi ở nơi khác."

Hắn cũng đứng dậy, lặng lẽ nhìn tôi, lắc đầu buồn bã.

"Thôi được, thôi được," cuối cùng hắn nói. "Tiếc thật, nhưng tôi đã làm những gì có thể. Tôi biết từng nước đi trong ván cờ của anh. Trước thứ hai anh chẳng làm được gì đâu. Đây là cuộc đấu tay đôi giữa anh với tôi, ông Hôm ạ. Anh mong đưa được tôi ra trước vành móng ngựa. Tôi nói cho anh biết, tôi sẽ không bao giờ đứng trước vành móng ngựa. Anh mong đánh bại được tôi. Tôi nói cho anh biết, anh sẽ không bao giờ đánh bại được tôi. Nếu anh đủ khôn ngoan để huỷ diệt tôi, thì cứ yên tâm rằng tôi cũng sẽ làm y như thế với anh."

"Ông đã khen tôi nhiều lời rồi, ông Mô-ri-a-ti," tôi nói. "Cho phép tôi đáp lại một lời khen, khi tôi nói rằng nếu tôi chắc chắn được điều thứ nhất, thì vì lợi ích của công chúng, tôi sẵn lòng vui vẻ chấp nhận điều thứ hai."

"Điều thứ hai thì tôi có thể hứa với anh, còn điều thứ nhất thì không," hắn gầm gừ, rồi quay tấm lưng còng về phía tôi, vừa ngó nghiêng vừa chớp mắt bước ra khỏi phòng.

Đó là cuộc gặp gỡ kỳ lạ của tôi với giáo sư Mô-ri-a-ti. Tôi thú thật nó để lại trong tôi một ấn tượng khó chịu. Lối nói nhỏ nhẹ, chính xác của hắn để lại một niềm tin rằng hắn nói thật, điều mà một kẻ chỉ biết doạ dẫm không thể làm được. Dĩ nhiên anh sẽ hỏi: sao không nhờ cảnh sát bảo vệ để đề phòng hắn? Lý do là tôi tin chắc rằng đòn sẽ giáng xuống từ tay chân của hắn. Tôi có những bằng chứng rất rõ rằng sẽ như vậy.

— Anh đã bị tấn công rồi à?

— Oát-xơn thân mến, giáo sư Mô-ri-a-ti không phải là kẻ để cỏ mọc dưới chân mình. Khoảng giữa trưa, tôi ra phố Ốc-xphớt lo vài việc. Khi tôi đi qua góc phố dẫn từ phố Ben-tinh ra ngã tư phố Uen-béc, một chiếc xe tải hai ngựa phóng như điên bỗng vút qua khúc quanh, lao vào tôi nhanh như chớp. Tôi nhảy lên vỉa hè, thoát chết chỉ trong một phần nhỏ của giây. Chiếc xe lao qua ngõ Ma-ri-lơ-bôn rồi biến mất trong nháy mắt. Sau đó tôi chỉ đi trên vỉa hè, Oát-xơn ạ, nhưng khi tôi đi xuống phố Vi-a thì một viên gạch từ mái một ngôi nhà rơi xuống, vỡ tan tành ngay dưới chân tôi. Tôi gọi cảnh sát, cho khám xét chỗ ấy. Trên mái có chất ngói và gạch để chuẩn bị sửa chữa, và họ muốn tôi tin rằng gió đã làm đổ một viên. Dĩ nhiên tôi biết rõ hơn thế, nhưng tôi không chứng minh được gì. Sau đó tôi đi xe tới căn hộ của anh tôi ở phố Pôn Mon, ở đó suốt ngày. Rồi giờ tôi tới chỗ anh, và trên đường đi tôi bị một tên côn đồ cầm dùi cui tấn công. Tôi đánh gục hắn, cảnh sát đã tạm giữ hắn. Nhưng tôi có thể nói với anh bằng niềm tin tuyệt đối rằng sẽ không bao giờ có ai truy ra được mối liên hệ nào giữa cái quý ông mà tôi đã làm toạc khớp tay mình vì đấm vào hàm răng cửa của hắn, với ông thầy dạy toán ẩn dật, người mà tôi dám chắc lúc này đang giải toán trên tấm bảng đen cách đây mười dặm. Anh sẽ chẳng lấy làm lạ, Oát-xơn, khi việc đầu tiên tôi làm lúc bước vào phòng anh là đóng cửa chớp, và tôi buộc phải xin phép anh được rời khỏi nhà bằng một lối ra kín đáo hơn cửa trước.

Tôi vẫn thường thán phục lòng can đảm của bạn tôi, nhưng chưa bao giờ bằng lúc này, khi anh ngồi bình thản điểm lại một chuỗi sự việc hẳn đã gộp lại thành một ngày kinh hoàng.

— Anh ngủ lại đây chứ? tôi nói.

— Không, anh bạn ạ, có thể anh sẽ thấy tôi là một vị khách nguy hiểm. Tôi đã có kế hoạch sẵn rồi, mọi việc sẽ ổn. Sự việc đã tiến xa tới mức chúng có thể tự vận hành mà không cần tôi, ít ra là tới khâu bắt giữ, dù sự có mặt của tôi là cần thiết để kết án. Vì vậy, rõ ràng tôi không thể làm gì tốt hơn là đi xa trong mấy ngày còn lại trước khi cảnh sát được tự do hành động. Bởi thế, tôi sẽ rất vui nếu anh có thể cùng tôi sang lục địa.

— Phòng khám đang vắng, tôi nói, và tôi có một người hàng xóm dễ tính. Tôi rất vui được đi.

— Và lên đường ngay sáng mai?

— Nếu cần.

— Ồ có, rất cần. Vậy đây là những chỉ dẫn cho anh, và tôi xin anh, Oát-xơn thân mến, hãy làm đúng từng chữ, vì giờ anh đang cùng tôi chơi một ván bài hai người chống lại tên vô lại thông minh nhất và băng tội phạm hùng mạnh nhất châu Âu. Nghe này! Tối nay, anh nhờ một người tin cậy mang hành lý anh định mang theo tới ga Vích-to-ri-a, không ghi địa chỉ. Sáng mai, anh cho gọi một chiếc xe ngựa, dặn người nhà đừng lấy chiếc thứ nhất hay chiếc thứ hai đi tới. Anh nhảy lên chiếc xe ấy, đi tới đầu dãy phố mái vòm Lao-thơ, phía phố Xtran. Anh đưa địa chỉ cho người đánh xe trên một mẩu giấy, dặn anh ta đừng vứt nó đi. Chuẩn bị sẵn tiền xe, và ngay khi xe dừng, anh lao qua dãy phố mái vòm, tính sao cho tới đầu bên kia đúng chín giờ mười lăm. Anh sẽ thấy một chiếc xe ngựa kín nhỏ đỗ sát vỉa hè, người đánh xe khoác áo choàng đen dày, cổ áo viền đỏ. Anh bước lên xe ấy, và sẽ tới ga Vích-to-ri-a kịp chuyến tàu tốc hành sang lục địa.

— Tôi gặp anh ở đâu?

— Ở ga. Toa hạng nhất thứ hai tính từ đầu tàu sẽ được giữ chỗ cho chúng ta.

— Vậy toa tàu là chỗ hẹn của chúng ta?

— Phải.

Tôi nài Hôm ở lại qua đêm cũng vô ích. Rõ ràng anh nghĩ mình có thể mang rắc rối tới cho mái nhà đang trú, và đó là lý do thôi thúc anh ra đi. Nói vội vài câu về kế hoạch ngày mai, anh đứng dậy cùng tôi ra vườn, trèo qua bức tường ngăn với phố Mo-ti-mơ, lập tức huýt sáo gọi một chiếc xe ngựa, và tôi nghe tiếng xe chở anh đi xa dần.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơ-lốc Hôm: Vụ án cuối cùng

  1. 1Na-pô-lê-ông của giới tội phạm19 phút
  2. 2Thác nước Rai-sen-báchĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảArthur Conan Doyle (1859 – 1930)
Năm mất1930
Xuất bản lần đầu1893
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Final Problem, trong tập The Memoirs of Sherlock Holmes, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →