Truyện Đỉnh

🔍 Truyện trinh thám

Người khách đeo mặt nạ

Sơ-lốc Hôm: Vụ bê bối xứ Bô-hem · Chương 1/3 · của Arthur Conan Doyle

⏱ 18 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 18.128 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Với Sơ-lốc Hôm, bao giờ bà ấy cũng là…
  2. 5:57Ờ, chắc vài trăm lần.
  3. 8:09Anh lấy trên kệ xuống một cuốn sách dày…
  4. 11:16Ông có thể gọi tôi là bá tước Phôn…
  5. 13:47Vậy thì xin Bệ hạ cứ hỏi, Hôm nói,…
  6. 15:20Ảnh của ta.
  7. 16:06Nhưng với ta thì rất nghiêm trọng, nhà vua…
  8. 17:30Còn về tiền nong?

Chương 1: Người khách đeo mặt nạ

Với Sơ-lốc Hôm, bao giờ bà ấy cũng là "người đàn bà". Tôi hiếm khi nghe anh gọi bà bằng một cái tên nào khác. Trong mắt anh, bà vượt lên trên và lấn át cả giới nữ. Không phải anh có thứ tình cảm nào giống như tình yêu với I-rin Át-lơ. Mọi thứ tình cảm, nhất là tình cảm ấy, đều đáng ghét đối với đầu óc lạnh lùng, chính xác nhưng cân bằng tuyệt vời của anh. Theo tôi, anh là cỗ máy suy luận và quan sát hoàn hảo nhất mà thế gian từng thấy. Nhưng nếu làm một người tình, anh sẽ tự đặt mình vào một chỗ đứng sai lạc. Anh chẳng bao giờ nói về những thứ tình cảm mềm yếu, trừ những lúc giễu cợt, khinh khỉnh. Với người quan sát, đó là những thứ đáng quý, rất tốt để vén bức màn che động cơ và hành vi của con người. Nhưng với một người suy luận đã rèn luyện, để những thứ ấy len vào tâm tính tinh tế, được điều chỉnh tỉ mỉ của mình, tức là đưa vào một yếu tố gây nhiễu, có thể làm mọi kết quả suy nghĩ đều đáng ngờ. Một hạt sạn trong một khí cụ nhạy bén, hay một vết nứt trên một chiếc thấu kính cực mạnh của anh, cũng không gây xáo trộn bằng một cảm xúc mạnh trong một con người như anh. Ấy vậy mà với anh, chỉ có một người đàn bà, và người đàn bà ấy là cố I-rin Át-lơ, người để lại một ký ức đầy ngờ vực và tai tiếng.

Dạo ấy tôi ít gặp Hôm. Cuộc hôn nhân của tôi đã khiến chúng tôi xa nhau. Hạnh phúc trọn vẹn của riêng tôi, cùng những mối bận tâm quanh tổ ấm đến với một người đàn ông lần đầu được làm chủ một gia đình, đủ để thu hút hết tâm trí tôi. Còn Hôm, người ghét cay ghét đắng mọi hình thức giao tế với cả tâm hồn phóng túng của mình, vẫn ở lại căn hộ cũ của chúng tôi ở phố Bây-cơ, vùi đầu giữa những cuốn sách cũ, tuần này qua tuần khác dao động giữa cô-ca-in và tham vọng, giữa cơn lơ mơ của thuốc và sinh lực dữ dội của bản tính sắc sảo. Như mọi khi, anh vẫn say mê nghiên cứu tội phạm, dồn những năng lực lớn lao và tài quan sát phi thường của mình vào việc lần theo những manh mối, làm sáng tỏ những bí ẩn mà cảnh sát chính thức đã bỏ cuộc vì vô vọng. Thỉnh thoảng tôi nghe loáng thoáng chuyện về anh: anh được mời sang Ô-đét-xa trong vụ án mạng Tơ-rê-pốp, anh làm sáng tỏ thảm kịch kỳ lạ của anh em nhà Át-kin-xơn ở Tơ-rin-cô-ma-li, và sau cùng là sứ mệnh anh đã hoàn thành hết sức khéo léo và thành công cho hoàng gia Hà Lan. Ngoài những dấu hiệu hoạt động ấy, mà tôi cũng chỉ biết như mọi độc giả báo hằng ngày, tôi chẳng biết gì nhiều về người bạn và người cùng phòng cũ của mình.

Một tối, đó là ngày hai mươi tháng ba năm 1888, tôi đi thăm một bệnh nhân về, vì bấy giờ tôi đã trở lại hành nghề y. Đường về đưa tôi qua phố Bây-cơ. Đi ngang cánh cửa quen thuộc, nơi luôn gắn liền trong tâm trí tôi với thời tôi đi hỏi vợ và với những biến cố đen tối trong vụ án mà tôi đã kể lại dưới tên Cuộc điều tra màu đỏ, tôi bỗng thấy thèm được gặp lại Hôm, muốn biết anh đang dùng tài năng phi thường của mình vào việc gì. Phòng anh sáng rực đèn. Ngay khi tôi ngước lên, tôi thấy bóng anh cao gầy hai lần lướt qua tấm rèm thành một hình đen sẫm. Anh đang đi tới đi lui trong phòng, nhanh và hăm hở, đầu cúi gục xuống ngực, hai tay chắp sau lưng. Với tôi, người biết rõ từng tâm trạng, từng thói quen của anh, dáng điệu ấy đã tự kể cả một câu chuyện. Anh lại đang làm việc. Anh đã thoát ra khỏi những cơn mơ do thuốc gây ra, và đang hăm hở lần theo dấu vết của một bài toán mới. Tôi bấm chuông và được đưa lên căn phòng mà trước kia tôi cũng ở chung một phần.

Anh không tỏ ra vồn vã. Anh hiếm khi vồn vã. Nhưng tôi nghĩ anh mừng khi gặp tôi. Gần như không nói một lời, nhưng với ánh mắt thân tình, anh vẫy tay mời tôi ngồi ghế bành, ném sang tôi hộp xì gà, rồi chỉ về phía tủ rượu và bình nước sô-đa ở góc phòng. Đoạn anh đứng trước lò sưởi, nhìn tôi từ đầu tới chân theo cái kiểu đăm chiêu hướng vào trong rất riêng của anh.

— Hôn nhân hợp với anh đấy, anh nói. Oát-xơn ạ, tôi nghĩ từ lần trước gặp tới giờ anh lên thêm ba cân rưỡi.

— Ba cân thôi! tôi đáp.

— Thật à, tôi lại nghĩ là hơn một chút. Chỉ chút xíu thôi, Oát-xơn ạ. Và tôi thấy anh lại hành nghề rồi. Anh đâu có nói với tôi là anh định đeo ách trở lại.

— Thế sao anh biết?

— Tôi thấy, rồi tôi suy ra. Cũng như tôi biết dạo này anh bị ướt sũng, và nhà anh có một cô hầu hết sức vụng về, cẩu thả vậy.

— Hôm thân mến, tôi nói, thế này thì quá lắm. Giá anh sống cách đây vài thế kỷ, hẳn người ta đã thiêu anh như thiêu phù thuỷ. Đúng là hôm thứ năm tôi có đi bộ về miền quê và về nhà lấm lem bê bết, nhưng tôi đã thay quần áo rồi, tôi không hiểu sao anh suy ra được. Còn con bé Ma-ri Giên thì đúng là hết thuốc chữa, vợ tôi đã báo cho nó nghỉ việc. Nhưng ở đây nữa, tôi cũng không hiểu anh tìm ra bằng cách nào.

Anh cười khúc khích, xoa hai bàn tay dài, gân guốc vào nhau.

— Đơn giản như chính sự đơn giản, anh nói. Mắt tôi thấy rằng ở mặt trong chiếc giày bên trái của anh, ngay chỗ ánh lửa rọi vào, lớp da bị cứa sáu đường gần như song song. Rõ ràng là do ai đó đã cạo quanh mép đế giày một cách rất cẩu thả để gỡ lớp bùn khô bám vào. Vì thế, anh thấy đấy, tôi suy ra hai điều: anh đã đi ra ngoài trong thời tiết xấu, và anh có một cô hầu thuộc loại đặc biệt chuyên rạch giày của chủ. Còn chuyện hành nghề, nếu một quý ông bước vào phòng tôi, người sực mùi i-ốt-đô-phoóc, ngón trỏ bên phải có vết đen của nitrat bạc, và chiếc mũ chóp cao phồng lên ở bên phải, chỗ ông ta giấu cái ống nghe, thì tôi phải đần độn lắm mới không tuyên bố ông ta là một thành viên đang hành nghề của giới y khoa.

Tôi không nhịn được cười khi nghe anh giải thích quá trình suy luận của mình một cách dễ dàng như thế.

— Mỗi khi nghe anh nêu lý lẽ, tôi nói, tôi lại thấy sự việc đơn giản đến buồn cười, tới mức tưởng mình cũng làm được dễ dàng. Thế nhưng lần nào anh suy luận, tôi cũng bí cho tới khi anh giải thích. Vậy mà tôi tin mắt tôi cũng tinh như mắt anh.

— Đúng thế, anh đáp, châm một điếu thuốc lá rồi buông mình xuống ghế bành. Anh nhìn, nhưng anh không quan sát. Khác biệt rõ ràng lắm. Chẳng hạn, anh đã nhiều lần thấy những bậc thang dẫn từ tiền sảnh lên căn phòng này.

— Nhiều lần.

— Bao nhiêu lần?

— Ờ, chắc vài trăm lần.

— Thế có bao nhiêu bậc?

— Bao nhiêu bậc à? Tôi không biết.

— Đúng thế! Anh không quan sát. Thế mà anh đã nhìn thấy. Ý tôi chính là ở đó. Còn tôi, tôi biết có mười bảy bậc, vì tôi vừa nhìn thấy vừa quan sát. Nhân tiện, vì anh quan tâm tới những bài toán nho nhỏ này, và vì anh có lòng ghi chép lại một hai chuyện vặt của tôi, có lẽ anh sẽ thấy cái này thú vị.

Anh ném sang tôi một tờ giấy viết thư dày, màu hồng nhạt, nãy giờ vẫn để mở trên bàn.

— Nó đến chuyến thư cuối cùng, anh nói. Anh đọc to lên xem.

Bức thư không ghi ngày, không chữ ký, không địa chỉ. Thư viết:

Tối nay, vào lúc tám giờ kém mười lăm, sẽ có một quý ông tới gặp ông để hỏi ý kiến về một việc hệ trọng bậc nhất. Những gì ông đã giúp một hoàng gia châu Âu gần đây cho thấy ông là người có thể yên tâm giao phó những việc có tầm quan trọng khó mà nói quá được. Những lời ấy về ông chúng tôi từ mọi phía đã nhận được. Vậy vào giờ ấy xin ông có mặt ở phòng, và xin đừng phật ý nếu người khách của ông đeo mặt nạ.

— Đúng là bí ẩn thật, tôi nhận xét. Anh nghĩ thế này nghĩa là gì?

— Tôi chưa có dữ kiện. Đưa ra giả thuyết trước khi có dữ kiện là một sai lầm tai hại. Người ta sẽ vô tình bẻ cong sự việc cho vừa với giả thuyết, thay vì làm giả thuyết cho vừa với sự việc. Nhưng còn chính bức thư. Anh suy ra được gì từ nó?

Tôi xem xét kỹ nét chữ và tờ giấy viết thư.

— Người viết thư hẳn là khá giả, tôi nhận xét, cố bắt chước cách làm của bạn tôi. Loại giấy này một xấp không dưới nửa đồng cua-ron. Nó dày và cứng một cách khác thường.

— Khác thường, đúng chữ ấy đấy, Hôm nói. Đây hoàn toàn không phải giấy của nước Anh. Anh giơ nó lên chỗ sáng xem.

Tôi làm theo, và thấy dệt chìm trong thớ giấy một chữ E hoa với một chữ g thường, một chữ P, và một chữ G hoa với một chữ t thường.

— Anh hiểu cái đó thế nào? Hôm hỏi.

— Tên nhà sản xuất, chắc thế. Hay đúng hơn là chữ lồng tên người ấy.

— Hoàn toàn không phải. Chữ G với chữ t nhỏ là viết tắt của chữ Ghê-dên-sáp, tiếng Đức nghĩa là Công ty. Đó là lối viết tắt thông thường, giống như chữ Co. của ta. Chữ P dĩ nhiên là Pa-pia, tức là Giấy. Còn lại chữ Eg. Ta thử tra cuốn Từ điển địa danh lục địa xem.

Anh lấy trên kệ xuống một cuốn sách dày bìa nâu.

— Ê-glâu, Ê-glô-nít, đây rồi, Ê-gri-a. Một nơi thuộc vùng nói tiếng Đức, ở xứ Bô-hem, không xa thành phố Các-xbát. Nổi tiếng là nơi Van-len-xtai qua đời, và có nhiều xưởng thuỷ tinh, nhiều xưởng giấy. Ha ha, anh bạn, anh hiểu ra sao nào?

Mắt anh sáng lấp lánh, anh nhả ra một đám khói thuốc xanh to tướng đầy đắc thắng.

— Tờ giấy được làm ở xứ Bô-hem, tôi nói.

— Chính xác. Và người viết thư là người Đức. Anh có để ý cách đặt câu kỳ quặc này không: những lời ấy về ông chúng tôi từ mọi phía đã nhận được. Một người Pháp hay một người Nga không viết như thế được. Chỉ người Đức mới đối xử thiếu lịch sự với động từ đến thế, cứ dồn nó xuống cuối câu. Vậy chỉ còn phải tìm xem người Đức viết thư trên giấy Bô-hem, thích đeo mặt nạ hơn là để lộ mặt này, muốn gì. Và nếu tôi không lầm thì ông ta đang tới đây để giải toả mọi nghi vấn của chúng ta.

Anh vừa dứt lời thì có tiếng vó ngựa gõ lốp cốp và tiếng bánh xe nghiến vào mép vỉa hè, rồi tiếng chuông bị giật mạnh. Hôm huýt sáo.

— Nghe tiếng thì là xe hai ngựa, anh nói. Đúng rồi, anh nói tiếp, liếc ra ngoài cửa sổ. Một chiếc xe kín xinh xắn với một cặp ngựa tuyệt đẹp. Mỗi con một trăm năm mươi đồng ghi-nê. Oát-xơn ạ, vụ này chẳng có gì khác thì cũng có tiền.

— Tôi nghĩ tôi nên về thì hơn, Hôm ạ.

— Chẳng việc gì phải về, bác sĩ. Cứ ngồi yên đấy. Thiếu người chép sử cho mình thì tôi lạc lõng lắm. Mà chuyện này hứa hẹn thú vị đấy. Bỏ lỡ thì tiếc.

— Nhưng thân chủ của anh...

— Mặc ông ta. Có thể tôi cần anh giúp, và có thể ông ta cũng cần. Ông ta tới rồi đây. Anh ngồi vào cái ghế bành kia, bác sĩ, và chú ý hết sức nhé.

Những bước chân chậm chạp và nặng nề nãy giờ vang trên cầu thang và hành lang dừng lại ngay trước cửa. Rồi có tiếng gõ cửa to, đầy uy quyền.

— Mời vào! Hôm nói.

Một người đàn ông bước vào, cao không dưới hai mét, ngực và chân tay vạm vỡ như một lực sĩ thần thoại. Ông ăn mặc sang trọng, cái sang trọng mà ở nước Anh người ta sẽ cho là gần với kém thẩm mỹ. Những dải lông cừu non xoăn dày viền ngang tay áo và vạt trước chiếc áo khoác hai hàng khuy. Chiếc áo choàng xanh thẫm khoác trên vai lót lụa màu lửa, cài ở cổ bằng một chiếc trâm chỉ gồm một viên ngọc bê-rin rực sáng. Đôi ủng cao tới nửa bắp chân, miệng ủng viền lông thú nâu sang trọng, càng tô đậm ấn tượng về một vẻ xa hoa man dã toát ra từ toàn bộ dáng vẻ của ông. Ông cầm trên tay một chiếc mũ rộng vành. Nửa trên khuôn mặt ông, xuống quá gò má, đeo một chiếc mặt nạ đen, hình như ông vừa chỉnh lại nó, vì khi bước vào tay ông vẫn còn đặt lên đó. Nhìn nửa dưới khuôn mặt, ông có vẻ là người cứng cỏi, môi dưới dày trễ xuống, cằm dài và thẳng cho thấy một sự kiên quyết đến mức cố chấp.

— Ông đã nhận được thư của tôi? ông hỏi bằng một giọng trầm khàn, nặng âm hưởng Đức. Tôi đã báo trước là tôi sẽ tới.

Ông nhìn từ người này sang người kia, như không biết nên nói với ai.

— Xin mời ông ngồi, Hôm nói. Đây là bạn và cũng là đồng sự của tôi, bác sĩ Oát-xơn, người thỉnh thoảng có lòng giúp tôi trong các vụ việc. Tôi hân hạnh được tiếp chuyện ai đây?

— Ông có thể gọi tôi là bá tước Phôn Cram, một nhà quý tộc xứ Bô-hem. Tôi hiểu rằng quý ông đây, bạn của ông, là người trọng danh dự và kín đáo, người mà tôi có thể tin cậy giao phó một việc cực kỳ hệ trọng. Nếu không thì tôi muốn chỉ nói chuyện riêng với ông hơn.

Tôi đứng dậy định đi, nhưng Hôm nắm cổ tay tôi, đẩy tôi ngồi xuống ghế.

— Cả hai, hoặc không ai cả, anh nói. Điều gì ông nói được với tôi thì ông cũng nói được trước mặt quý ông đây.

Bá tước nhún đôi vai rộng.

— Vậy thì trước hết, ông nói, tôi buộc hai ông phải giữ bí mật tuyệt đối trong hai năm. Hết thời hạn ấy, chuyện này sẽ chẳng còn quan trọng gì nữa. Nhưng hiện giờ, nói không quá, nó hệ trọng tới mức có thể ảnh hưởng tới lịch sử châu Âu.

— Tôi xin hứa, Hôm nói.

— Tôi cũng vậy.

— Xin hai ông thứ lỗi cho chiếc mặt nạ này, người khách lạ lùng của chúng tôi nói tiếp. Vị quyền quý thuê tôi muốn người đại diện của mình không bị hai ông biết mặt. Và tôi cũng xin thú thật ngay rằng danh hiệu tôi vừa tự xưng không hẳn là của tôi.

— Tôi biết điều đó, Hôm khô khan nói.

— Hoàn cảnh hết sức tế nhị, phải dùng mọi biện pháp đề phòng để dập tắt một chuyện có thể trở thành một vụ bê bối khổng lồ, làm tổn hại nghiêm trọng tới một hoàng gia đang trị vì ở châu Âu. Nói thẳng ra, chuyện này dính líu tới dòng họ lớn Ooc-mơ-xtai, những vị vua cha truyền con nối của xứ Bô-hem.

— Tôi cũng biết điều đó, Hôm lẩm bẩm, ngả người trong ghế bành rồi nhắm mắt lại.

Người khách liếc nhìn với vẻ hơi ngạc nhiên cái dáng uể oải, nằm dài của con người mà hẳn ông đã được tả là nhà suy luận sắc bén nhất và người hành động năng nổ nhất châu Âu. Hôm chậm rãi mở mắt, sốt ruột nhìn ông thân chủ khổng lồ.

— Nếu Bệ hạ hạ cố trình bày sự việc, anh nói, thì tôi sẽ dễ khuyên Bệ hạ hơn.

Người đàn ông nhảy bật khỏi ghế, đi tới đi lui khắp phòng, kích động không sao kìm được. Rồi với một cử chỉ tuyệt vọng, ông giật phắt chiếc mặt nạ khỏi mặt, ném xuống sàn.

— Ông nói đúng, ông kêu lên. Ta là vua. Việc gì ta phải cố giấu?

— Phải, việc gì phải giấu? Hôm lẩm bẩm. Bệ hạ chưa mở lời thì tôi đã biết mình đang nói chuyện với Uyn-hem Gốt-xrai-sơ Xi-ghi-xmông Phôn Ooc-mơ-xtai, đại công tước xứ Ca-xen Phen-xtai, vua cha truyền con nối của xứ Bô-hem.

— Nhưng ông có thể hiểu, người khách lạ lùng của chúng tôi nói, lại ngồi xuống và đưa tay vuốt vầng trán cao, trắng, ông có thể hiểu rằng ta không quen đích thân làm những việc thế này. Thế nhưng chuyện tế nhị tới mức ta không thể giao cho một người đại diện mà không tự đặt mình vào tay hắn. Ta đã cải trang, bí mật từ Pra-ha tới đây để hỏi ý kiến ông.

— Vậy thì xin Bệ hạ cứ hỏi, Hôm nói, lại nhắm mắt.

— Sự việc vắn tắt như sau. Khoảng năm năm trước, trong một chuyến lưu lại lâu ở Vác-sa-va, ta làm quen với một người đàn bà phiêu lưu nổi tiếng, I-rin Át-lơ. Hẳn ông đã quen cái tên ấy.

— Bác sĩ, phiền anh tra tên bà ta trong sổ mục lục của tôi, Hôm lẩm bẩm, mắt vẫn nhắm.

Từ nhiều năm nay, anh có một hệ thống xếp hồ sơ mọi mẩu tin về người và việc, đến mức khó mà kể ra một đề tài hay một con người nào mà anh không cung cấp ngay được thông tin. Lần này tôi tìm thấy tiểu sử của bà kẹp giữa tiểu sử của một vị giáo sĩ Do Thái và tiểu sử của một trung tá hải quân từng viết một chuyên luận về cá biển sâu.

— Để xem nào! Hôm nói. Hừm! Sinh ở bang Niu Giơ-xi năm 1858. Giọng nữ trầm, hừm! Nhà hát La Xca-la, hừm! Nữ danh ca chính của Nhà hát Hoàng gia Vác-sa-va, phải rồi! Đã rời sân khấu nhạc kịch, ha! Đang sống ở Luân Đôn, đúng thế! Theo tôi hiểu, Bệ hạ đã vướng vào cô gái trẻ này, đã viết cho cô ta vài lá thư có thể gây tai tiếng, và giờ muốn lấy lại những lá thư ấy.

— Đúng như vậy. Nhưng làm sao...

— Có cuộc hôn nhân bí mật nào không?

— Không.

— Không có giấy tờ, chứng thư pháp lý gì chứ?

— Không.

— Vậy thì tôi không hiểu Bệ hạ. Nếu cô gái trẻ này đưa những lá thư ra để tống tiền hay vì mục đích gì khác, thì cô ta lấy gì để chứng minh chúng là thật?

— Còn nét chữ.

— Xì! Giả mạo.

— Giấy viết thư riêng của ta.

— Bị đánh cắp.

— Con dấu riêng của ta.

— Làm giả.

— Ảnh của ta.

— Mua được.

— Cả hai chúng ta cùng chụp chung trong ảnh.

— Ôi trời! Thế thì gay lắm! Bệ hạ quả là đã khinh suất.

— Ta đã điên rồ, mất trí.

— Bệ hạ đã tự làm hại mình nghiêm trọng.

— Hồi ấy ta mới chỉ là thái tử. Ta còn trẻ. Giờ ta cũng mới ba mươi.

— Phải lấy lại tấm ảnh.

— Chúng ta đã thử và thất bại.

— Bệ hạ phải trả tiền. Phải mua lại nó.

— Cô ta không chịu bán.

— Vậy thì lấy trộm.

— Đã thử năm lần rồi. Hai lần bọn trộm do ta thuê lục tung nhà cô ta. Một lần chúng ta đánh tráo hành lý khi cô ta đi đường. Hai lần cô ta bị chặn đường. Chẳng được kết quả gì.

— Không thấy dấu vết gì của tấm ảnh?

— Tuyệt nhiên không.

Hôm bật cười.

— Quả là một bài toán nhỏ xinh xắn, anh nói.

— Nhưng với ta thì rất nghiêm trọng, nhà vua trách móc.

— Rất nghiêm trọng, đúng thế. Thế cô ta định làm gì với tấm ảnh?

— Huỷ hoại ta.

— Nhưng bằng cách nào?

— Ta sắp cưới vợ.

— Tôi có nghe nói.

— Cưới Clô-tin Lốt-man Phôn Xắc-xơ Mê-ninh-ghen, con gái thứ hai của vua xứ Xcan-đi-na-vi. Có lẽ ông biết gia đình nàng nghiêm khắc về nguyên tắc thế nào. Bản thân nàng là hiện thân của sự tế nhị. Chỉ một chút bóng ngờ vực về hạnh kiểm của ta cũng đủ làm hỏng cả cuộc hôn nhân.

— Còn I-rin Át-lơ?

— Doạ gửi tấm ảnh cho họ. Và cô ta sẽ làm thật. Ta biết cô ta sẽ làm thật. Ông không biết cô ta đâu, cô ta có một tâm hồn bằng thép. Cô ta có khuôn mặt của người đẹp nhất trong đàn bà, và đầu óc của người cương quyết nhất trong đàn ông. Để ngăn ta cưới một người đàn bà khác, cô ta dám làm tới cùng, không chừa thủ đoạn nào.

— Bệ hạ có chắc là cô ta chưa gửi đi không?

— Ta chắc.

— Vì sao?

— Vì cô ta đã nói sẽ gửi đi đúng vào ngày lễ đính hôn được công bố. Tức là thứ hai tới.

— Ồ, vậy chúng ta còn ba ngày, Hôm vừa nói vừa ngáp. Thế thì may quá, vì hiện giờ tôi đang có một hai việc quan trọng cần xem xét. Dĩ nhiên Bệ hạ sẽ ở lại Luân Đôn trong lúc này chứ?

— Dĩ nhiên. Ông sẽ tìm thấy ta ở khách sạn Lang-hêm, dưới tên bá tước Phôn Cram.

— Vậy tôi sẽ viết vài dòng báo cho Bệ hạ biết công việc tiến triển ra sao.

— Ông cứ làm thế. Ta sẽ sốt ruột lắm.

— Còn về tiền nong?

— Ông được toàn quyền.

— Hoàn toàn?

— Ta nói cho ông biết, để có tấm ảnh ấy ta sẵn sàng đổi cả một tỉnh trong vương quốc của ta.

— Còn chi phí trước mắt?

Nhà vua lấy dưới áo choàng ra một chiếc túi da sơn dương nặng trĩu, đặt lên bàn.

— Đây có ba trăm bảng bằng vàng và bảy trăm bảng bằng giấy bạc, ông nói.

Hôm viết vội một tờ biên nhận vào một trang sổ tay, đưa cho ông.

— Còn địa chỉ của cô ấy? anh hỏi.

— Biệt thự Brai-ơ-ni, đại lộ Xơ-pen-tai, khu Xanh Giôn Út.

Hôm ghi lại.

— Còn một câu nữa, anh nói. Tấm ảnh là ảnh cỡ lớn để bàn phải không?

— Phải.

— Vậy thì xin chúc Bệ hạ ngủ ngon, và tôi tin rằng chúng tôi sẽ sớm có tin vui cho Bệ hạ. Chúc anh ngủ ngon, Oát-xơn, anh nói thêm khi bánh xe của chiếc xe ngựa hoàng gia lăn xa dần trên phố. Nếu anh có lòng ghé lại đây lúc ba giờ chiều mai thì tôi muốn bàn với anh chuyện nhỏ này.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơ-lốc Hôm: Vụ bê bối xứ Bô-hem

  1. 1Người khách đeo mặt nạ18 phút
  2. 2Ông mục sư bị thươngĐang thu âm
  3. 3Người đàn bàĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảArthur Conan Doyle (1859 – 1930)
Năm mất1930
Xuất bản lần đầu1891
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: A Scandal in Bohemia, trong tập The Adventures of Sherlock Holmes, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →