Truyện Đỉnh

🔍 Truyện trinh thám

Bảo vật quốc gia

Sơ-lốc Hôm: Chiếc vương miện ngọc bê-rin · Chương 1/3 · của Arthur Conan Doyle

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 19.186 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Một buổi sáng, tôi đứng bên cửa sổ lồi…
  2. 2:53Người đàn ông ngồi hơn một phút, ngực phập…
  3. 5:49"Ngân hàng có làm việc ấy khi vật bảo…
  4. 7:27"Ông nghi ngờ giá trị của nó?" ngài hỏi.
  5. 12:15Giờ chỉ còn phải kể về con bé. Nó…
  6. 14:16"Bố đã rất tốt với con," nó nói, "nhưng…
  7. 15:40"Vậy thì chúc con ngủ ngon."
  8. 17:21"Mất ba viên. Và mày biết chúng ở đâu.…

Chương 1: Bảo vật quốc gia

Một buổi sáng, tôi đứng bên cửa sổ lồi nhìn xuống phố.

— Anh Hôm ơi, tôi nói, có một người điên đang đi tới kìa. Thật đáng buồn khi người nhà lại để ông ta ra ngoài một mình.

Bạn tôi uể oải đứng dậy khỏi ghế bành, đút tay vào túi áo choàng ngủ, đứng nhìn qua vai tôi. Đó là một buổi sáng tháng hai trong trẻo, giá buốt, tuyết hôm trước vẫn còn phủ dày trên mặt đất, lấp lánh dưới ánh mặt trời mùa đông. Ở giữa phố Bây-cơ, xe cộ đã cày tuyết thành một dải nâu vụn nát, nhưng hai bên đường và trên những mép tuyết chất đống dọc vỉa hè, nó vẫn trắng như lúc mới rơi. Vỉa hè xám đã được dọn sạch, cạo kỹ, nhưng vẫn trơn trượt nguy hiểm, nên người qua lại ít hơn thường lệ. Thật vậy, từ phía ga tàu điện ngầm chẳng có ai đi tới, ngoài một quý ông duy nhất mà cử chỉ lập dị đã thu hút sự chú ý của tôi.

Đó là một người đàn ông chừng năm mươi tuổi, cao, đẫy đà, oai vệ, khuôn mặt to, đường nét rõ, dáng người đầy uy quyền. Ông ăn mặc chững chạc mà sang trọng: áo đuôi tôm đen, mũ bóng loáng, xà cạp màu nâu gọn gàng, quần màu xám ngọc trai cắt khéo. Thế nhưng cử chỉ của ông trái ngược một cách lố bịch với vẻ đường bệ của quần áo và nét mặt, vì ông đang chạy thục mạng, thỉnh thoảng lại nhảy cẫng lên một chút, như kiểu một người mệt mỏi ít khi bắt đôi chân mình làm việc nặng. Vừa chạy ông vừa giật hai tay lên xuống, lắc lư cái đầu, mặt nhăn nhó vặn vẹo thành những nét kỳ quặc nhất.

— Ông ta bị làm sao thế nhỉ? tôi hỏi. Ông ta đang nhìn lên số nhà.

— Tôi tin là ông ta đang tới đây, Hôm nói, xoa tay.

— Tới đây?

— Phải, tôi nghĩ ông ta tới để hỏi ý kiến tôi về nghề nghiệp. Tôi nghĩ tôi nhận ra các triệu chứng. Ha! Tôi đã chẳng bảo anh sao?

Anh vừa nói thì người đàn ông, thở hồng hộc, lao tới cửa nhà chúng tôi, giật chuông tới mức cả ngôi nhà vang lên tiếng leng keng.

Lát sau ông đã ở trong phòng chúng tôi, vẫn thở hổn hển, vẫn khoa tay múa chân, nhưng trong mắt ông là một vẻ đau đớn và tuyệt vọng đến mức nụ cười của chúng tôi lập tức biến thành nỗi kinh hãi và thương cảm. Một lúc ông không nói được lời nào, chỉ lắc lư thân mình, giật tóc như một người đã bị dồn tới giới hạn cuối cùng của lý trí. Rồi bỗng ông bật dậy, đập đầu vào tường mạnh tới mức cả hai chúng tôi phải lao tới kéo ông ra giữa phòng. Sơ-lốc Hôm ấn ông ngồi xuống ghế bành, ngồi bên cạnh, vỗ nhẹ lên tay ông, trò chuyện với ông bằng cái giọng thoải mái, dỗ dành mà anh rất biết cách sử dụng.

— Ông tới để kể chuyện của mình với tôi, phải không? anh nói. Ông mệt vì vội vã quá. Xin ông chờ cho lại sức đã, rồi tôi sẽ rất vui lòng xem xét bất cứ bài toán nhỏ nào ông đưa ra.

Người đàn ông ngồi hơn một phút, ngực phập phồng, cố chế ngự cơn xúc động. Rồi ông đưa khăn tay lau trán, mím chặt môi, quay mặt về phía chúng tôi.

— Hẳn các ông nghĩ tôi điên? ông nói.

— Tôi thấy ông đã gặp một chuyện rất khổ tâm, Hôm đáp.

— Có Chúa biết! Một chuyện đủ làm tôi mất trí, vì nó đột ngột và khủng khiếp quá. Bị bêu riếu trước công chúng, có lẽ tôi còn chịu được, dù tôi là người mà danh dự chưa bao giờ bị một vết nhơ. Đau khổ riêng tư thì cũng là số phận chung của mọi người. Nhưng cả hai cùng ập tới, lại dưới hình thức khủng khiếp như thế, thì đủ làm lung lay cả tâm hồn tôi. Vả lại, đâu phải chỉ mình tôi. Ngay cả người cao quý nhất trong nước cũng có thể bị liên luỵ nếu không tìm được lối thoát cho chuyện khủng khiếp này.

— Xin ông bình tĩnh, thưa ông, Hôm nói, và kể rõ cho tôi biết ông là ai và chuyện gì đã xảy ra với ông.

— Tên tôi, người khách đáp, có lẽ các ông đã nghe quen tai. Tôi là A-lếch-xan-đơ Hôn-đơ, của ngân hàng Hôn-đơ và Xti-vân-xơn, phố Thrét-ni-đơn.

Cái tên ấy quả thật chúng tôi đã biết rõ, đó là tên người chủ chính của ngân hàng tư nhân lớn thứ hai ở khu Thành Phố Luân Đôn. Vậy chuyện gì đã xảy ra mà đưa một trong những công dân hàng đầu của Luân Đôn tới tình cảnh đáng thương nhất thế này? Chúng tôi tò mò chờ, cho tới khi ông lại gắng sức trấn tĩnh để kể câu chuyện của mình.

— Tôi cảm thấy thời gian là quý báu, ông nói. Chính vì thế mà tôi vội tới đây khi viên thanh tra cảnh sát gợi ý tôi nên nhờ ông hợp tác. Tôi đi tàu điện ngầm tới phố Bây-cơ rồi từ đó đi bộ vội vã, vì xe ngựa đi chậm lắm trong tuyết thế này. Vì vậy tôi mới thở dốc như thế, vì tôi là người rất ít vận động. Giờ tôi thấy khá hơn rồi, và tôi sẽ trình bày sự việc với các ông ngắn gọn nhưng rõ ràng hết mức có thể.

Dĩ nhiên các ông biết rõ, trong một ngân hàng làm ăn thành công, việc tìm được những khoản đầu tư sinh lời cho vốn của chúng tôi cũng quan trọng ngang với việc mở rộng quan hệ và tăng số người gửi tiền. Một trong những cách bỏ tiền ra có lãi nhất của chúng tôi là cho vay, khi vật bảo đảm không chê vào đâu được. Mấy năm gần đây chúng tôi đã làm khá nhiều theo hướng ấy, và có nhiều gia đình quý tộc được chúng tôi cho vay những khoản lớn, bảo đảm bằng tranh, thư viện hay đồ dùng bằng bạc của họ.

Sáng hôm qua, tôi đang ngồi trong phòng làm việc ở ngân hàng thì một nhân viên mang vào cho tôi một tấm danh thiếp. Tôi giật mình khi thấy cái tên, vì đó không phải ai khác mà là... thôi, có lẽ ngay cả với các ông, tôi cũng chỉ nên nói rằng đó là một cái tên quen thuộc khắp thế giới, một trong những cái tên cao quý nhất, tôn quý nhất nước Anh. Tôi cảm thấy vô cùng vinh dự, và khi ngài bước vào, tôi định nói điều ấy, nhưng ngài đi thẳng vào việc ngay, với vẻ của người muốn làm cho nhanh một việc chẳng dễ chịu gì.

"Ông Hôn-đơ," ngài nói, "tôi được biết ông vẫn thường cho vay tiền."

"Ngân hàng có làm việc ấy khi vật bảo đảm tốt," tôi đáp.

"Tôi tuyệt đối cần có ngay năm mươi nghìn bảng," ngài nói. "Dĩ nhiên một khoản vặt như thế, gấp mười lần tôi cũng có thể vay bạn bè, nhưng tôi thích làm việc này theo lối làm ăn hơn, và tự mình lo liệu. Ở địa vị của tôi, ông dễ hiểu rằng mắc nợ ân tình ai là điều không khôn ngoan."

"Cho tôi hỏi ngài cần khoản tiền ấy trong bao lâu?" tôi hỏi.

"Thứ hai tới tôi sẽ nhận được một khoản lớn, và khi ấy tôi nhất định sẽ trả lại khoản ông cho vay, cùng mức lãi ông thấy hợp lý. Nhưng điều rất cần thiết với tôi là tiền phải được giao ngay."

"Lẽ ra tôi rất sẵn lòng đưa ngay từ túi riêng của mình mà chẳng cần bàn thêm," tôi nói, "nếu khoản ấy không quá sức túi riêng của tôi. Còn nếu tôi cho vay nhân danh ngân hàng, thì để công bằng với người cộng sự, tôi buộc phải yêu cầu, ngay cả với ngài, mọi biện pháp đề phòng theo đúng lối làm ăn."

"Tôi lại càng muốn thế," ngài nói, nhấc lên một chiếc hộp vuông bọc da dê màu đen mà ngài đã đặt cạnh ghế. "Hẳn ông đã nghe nói tới chiếc Vương miện ngọc bê-rin?"

"Một trong những bảo vật quốc gia quý giá nhất của đế quốc," tôi nói.

"Đúng thế."

Ngài mở hộp, và ở đó, nằm trên lớp nhung mềm màu da người, là món trang sức lộng lẫy ngài vừa nhắc tên.

"Có ba mươi chín viên ngọc bê-rin cực lớn," ngài nói, "còn giá trị phần vàng chạm trổ thì không sao tính nổi. Ước tính thấp nhất cũng cho rằng chiếc vương miện đáng giá gấp đôi số tiền tôi hỏi vay. Tôi sẵn sàng để nó lại cho ông làm vật bảo đảm."

Tôi cầm chiếc hộp quý giá trên tay, bối rối nhìn từ nó sang vị khách lừng lẫy của mình.

"Ông nghi ngờ giá trị của nó?" ngài hỏi.

"Hoàn toàn không. Tôi chỉ nghi ngờ..."

"Việc tôi để nó lại có thích đáng không. Về chuyện đó ông cứ yên tâm. Tôi sẽ không bao giờ nghĩ tới chuyện làm thế nếu không hoàn toàn chắc chắn rằng trong bốn ngày tôi sẽ chuộc lại được. Đó thuần tuý là chuyện thủ tục. Vật bảo đảm đã đủ chưa?"

"Thừa đủ."

"Ông hiểu cho, ông Hôn-đơ, tôi đang cho ông một bằng chứng mạnh mẽ về lòng tin của tôi đối với ông, dựa trên tất cả những gì tôi đã nghe về ông. Tôi trông cậy ông không chỉ kín đáo, tránh mọi lời đồn đại về chuyện này, mà trên hết là giữ gìn chiếc vương miện với mọi biện pháp đề phòng có thể, vì tôi chẳng cần nói ông cũng biết, nếu nó gặp chuyện gì thì sẽ gây ra một vụ tai tiếng lớn trước công chúng. Nó bị hư hại chút nào cũng nghiêm trọng gần ngang với mất hẳn, vì trên đời không có viên ngọc bê-rin nào sánh được với những viên này, không thể nào thay thế được. Tuy vậy, tôi để nó lại cho ông với tất cả lòng tin, và sáng thứ hai tôi sẽ đích thân tới lấy."

Thấy vị khách nóng lòng muốn đi, tôi không nói gì thêm, gọi người thủ quỹ, bảo anh ta đưa ra năm mươi tờ giấy bạc một nghìn bảng. Nhưng khi chỉ còn lại một mình, với chiếc hộp quý giá nằm trên bàn trước mặt, tôi không khỏi lo ngại nghĩ tới trách nhiệm to lớn nó đặt lên vai mình. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, vì nó là bảo vật quốc gia, nếu có chuyện chẳng lành xảy ra với nó thì sẽ là một vụ tai tiếng khủng khiếp. Tôi đã hối hận vì nhận giữ nó. Nhưng giờ đã quá muộn để thay đổi, nên tôi khoá nó vào két riêng của mình, rồi quay lại làm việc.

Tới chiều tối, tôi cảm thấy để một vật quý giá như thế lại văn phòng mà về là thiếu thận trọng. Két sắt của ngân hàng đã từng bị phá trước đây, sao két của tôi lại không thể? Nếu vậy thì tôi sẽ rơi vào một tình cảnh khủng khiếp biết bao! Vì thế tôi quyết định trong mấy ngày tới sẽ luôn mang chiếc hộp đi đi về về theo mình, để nó không bao giờ thật sự ra khỏi tầm tay tôi. Với ý định ấy, tôi gọi một chiếc xe ngựa, mang theo món nữ trang về nhà ở Xtrét-thăm. Tôi chỉ thở phào khi đã mang nó lên lầu, khoá vào chiếc tủ có ngăn kéo trong phòng thay đồ của mình.

Giờ tôi xin nói đôi lời về người trong nhà, thưa ông Hôm, vì tôi muốn ông hiểu thấu đáo tình hình. Người giữ ngựa và cậu bé hầu của tôi ngủ ngoài nhà, có thể gạt hẳn ra. Tôi có ba cô hầu gái đã làm cho tôi nhiều năm, lòng trung thực tuyệt đối của họ không có gì phải ngờ. Một cô khác, Lu-xi Pa, cô hầu bàn thứ hai, mới làm cho tôi vài tháng. Nhưng cô tới với giấy giới thiệu rất tốt, và bao giờ cũng làm tôi hài lòng. Cô là một cô gái rất xinh, và có mấy anh chàng theo đuổi, thỉnh thoảng lảng vảng quanh nhà. Đó là điểm trừ duy nhất chúng tôi thấy ở cô, nhưng chúng tôi tin cô là một cô gái hoàn toàn tốt về mọi mặt.

Người làm thì chỉ có thế. Gia đình tôi lại nhỏ tới mức kể chẳng mất bao lâu. Tôi goá vợ, có một người con trai duy nhất là A-thơ. Nó đã làm tôi thất vọng, thưa ông Hôm, thất vọng não nề. Tôi chắc chắn chính tôi có lỗi. Người ta bảo tôi đã làm hư nó. Rất có thể là thế. Khi người vợ yêu quý của tôi mất, tôi cảm thấy nó là tất cả những gì tôi còn để thương yêu. Tôi không chịu nổi khi thấy nụ cười tắt trên mặt nó dù chỉ một khoảnh khắc. Tôi chưa bao giờ từ chối nó điều gì. Có lẽ nếu tôi nghiêm khắc hơn thì tốt hơn cho cả hai cha con, nhưng tôi đã muốn điều tốt nhất cho nó.

Dĩ nhiên tôi định để nó nối nghiệp tôi, nhưng nó không có khiếu làm ăn. Nó ngông cuồng, bướng bỉnh, và nói thật, tôi không dám giao cho nó những khoản tiền lớn. Hồi còn trẻ nó vào một câu lạc bộ quý tộc, và ở đó, nhờ phong thái dễ mến, nó chẳng mấy chốc đã thân thiết với nhiều kẻ rủng rỉnh tiền và có những thói quen tốn kém. Nó học đánh bài to, nướng tiền vào trường đua, đến nỗi hết lần này tới lần khác phải tới van xin tôi ứng trước tiền tiêu vặt để trả những món nợ danh dự. Đã hơn một lần nó cố thoát khỏi đám bạn bè nguy hiểm ấy, nhưng lần nào ảnh hưởng của người bạn nó, ngài Gioóc-giơ Bơn-uen, cũng đủ kéo nó quay lại.

Mà thật ra, tôi chẳng lấy làm lạ khi một người như ngài Gioóc-giơ Bơn-uen có được ảnh hưởng với nó, vì nó vẫn thường đưa anh ta về nhà tôi, và chính tôi cũng thấy mình khó cưỡng lại sức quyến rũ trong phong thái của anh ta. Anh ta lớn tuổi hơn A-thơ, là một người lịch duyệt tới tận đầu ngón tay, từng đi khắp nơi, thấy đủ mọi thứ, ăn nói xuất sắc, và rất đẹp trai. Thế nhưng khi bình tĩnh nghĩ về anh ta, xa khỏi vẻ hào nhoáng lúc anh ta có mặt, tôi tin chắc qua lối nói chuyện cay độc và ánh mắt mà tôi từng bắt gặp, rằng anh ta là người cần phải hết sức đề phòng. Tôi nghĩ thế, và Ma-ri bé bỏng của tôi cũng nghĩ thế, con bé có cái nhìn thấu tính cách người khác rất nhanh của người phụ nữ.

Giờ chỉ còn phải kể về con bé. Nó là cháu gái tôi. Nhưng khi em trai tôi mất năm năm trước, để nó lại bơ vơ trên đời, tôi đã nhận nó làm con nuôi, và từ đó tới nay vẫn coi nó như con gái. Nó là tia nắng trong nhà tôi, ngọt ngào, đầm ấm, xinh đẹp, quán xuyến việc nhà tuyệt vời, vậy mà dịu dàng, lặng lẽ, hiền thục hết mức một người phụ nữ có thể có. Nó là cánh tay phải của tôi. Tôi không biết sẽ làm gì nếu không có nó. Chỉ có một chuyện nó từng trái ý tôi. Thằng con tôi đã hai lần hỏi cưới nó, vì nó yêu con bé hết lòng, nhưng lần nào con bé cũng từ chối. Tôi nghĩ nếu có ai kéo được nó vào đường ngay thì chính là con bé, và cuộc hôn nhân ấy có lẽ đã thay đổi cả cuộc đời nó. Nhưng giờ, than ôi, đã quá muộn, muộn mãi mãi rồi!

Giờ thì, thưa ông Hôm, ông đã biết những người sống dưới mái nhà tôi, tôi xin kể tiếp câu chuyện khốn khổ của mình.

Tối hôm ấy, ăn tối xong, khi đang uống cà phê trong phòng khách, tôi kể với A-thơ và Ma-ri chuyện tôi gặp, và chuyện báu vật quý giá chúng tôi đang giữ dưới mái nhà, chỉ giấu tên vị khách. Lu-xi Pa, người mang cà phê vào, tôi chắc là đã ra khỏi phòng, nhưng tôi không dám thề là cửa đã đóng. Ma-ri và A-thơ rất thích thú, muốn xem chiếc vương miện nổi tiếng, nhưng tôi nghĩ tốt hơn đừng động tới nó.

"Bố để nó ở đâu?" A-thơ hỏi.

"Trong tủ riêng của bố."

"Chà, con mong trời đất đêm nay đừng có trộm vào nhà," nó nói.

"Tủ khoá rồi," tôi đáp.

"Ồ, chìa khoá cũ nào chẳng mở được cái tủ ấy. Hồi bé con đã tự mở nó bằng chìa khoá cái chạn ở phòng chứa đồ."

Nó vẫn hay ăn nói ngông nghênh như thế, nên tôi chẳng để tâm mấy. Nhưng tối hôm ấy nó theo tôi về phòng, mặt rất nghiêm.

"Bố này," nó nói, mắt nhìn xuống, "bố cho con hai trăm bảng được không?"

"Không, bố không cho!" tôi gắt. "Bố đã quá rộng rãi với con về chuyện tiền nong rồi."

"Bố đã rất tốt với con," nó nói, "nhưng con phải có số tiền này, không thì con chẳng bao giờ dám ló mặt vào câu lạc bộ nữa."

"Thế thì càng tốt!" tôi kêu lên.

"Vâng, nhưng bố không muốn con rời câu lạc bộ như một kẻ mất danh dự chứ," nó nói. "Con không chịu được nỗi nhục ấy. Con phải xoay được tiền bằng cách nào đó, và nếu bố không cho thì con phải tìm cách khác."

Tôi rất giận, vì đây là lần thứ ba trong tháng nó đòi tiền.

"Con sẽ không được một đồng xu nào của bố," tôi kêu lên. Nghe thế, nó cúi chào rồi ra khỏi phòng, chẳng nói thêm lời nào.

Khi nó đi rồi, tôi mở khoá tủ, kiểm tra chắc chắn báu vật vẫn an toàn, rồi khoá lại. Rồi tôi đi một vòng quanh nhà xem mọi thứ có chắc chắn không, việc mà thường tôi để Ma-ri làm, nhưng tối ấy tôi nghĩ nên tự mình làm. Khi xuống cầu thang, tôi thấy chính Ma-ri đang ở bên cửa sổ hông của tiền sảnh, con bé đóng và cài nó lại khi tôi tới gần.

"Bố ơi," con bé nói, và tôi thấy hình như nó hơi bối rối, "bố có cho cô hầu Lu-xi ra ngoài tối nay không?"

"Dĩ nhiên là không."

"Cô ấy vừa đi cửa sau vào. Con chắc là cô ấy chỉ ra cổng hông gặp ai đó thôi, nhưng con nghĩ như thế không an toàn lắm, nên phải chấm dứt."

"Sáng mai con nói với nó, hay bố nói nếu con muốn. Con chắc là mọi cửa đều cài cả rồi chứ?"

"Chắc chắn, bố ạ."

"Vậy thì chúc con ngủ ngon."

Tôi hôn con bé rồi lại lên phòng ngủ, chẳng mấy chốc đã ngủ say.

Tôi đang cố kể với ông mọi điều có thể liên quan tới vụ việc, thưa ông Hôm, nhưng xin ông cứ hỏi tôi bất cứ điểm nào tôi kể chưa rõ.

— Ngược lại, lời kể của ông rõ ràng lạ thường.

— Giờ tôi tới phần câu chuyện mà tôi muốn kể đặc biệt rõ ràng. Tôi vốn không ngủ say lắm, và nỗi lo trong lòng hẳn càng khiến tôi ngủ chập chờn hơn thường lệ. Khoảng hai giờ sáng, tôi bị một tiếng động nào đó trong nhà đánh thức. Khi tôi tỉnh hẳn thì nó đã dứt, nhưng để lại ấn tượng như có một cánh cửa sổ khẽ đóng lại đâu đó. Tôi nằm dỏng tai nghe. Bỗng, tôi kinh hoàng nghe rõ tiếng bước chân khe khẽ trong phòng bên cạnh. Tôi lẻn ra khỏi giường, tim đập thình thịch vì sợ, ló mắt nhìn qua góc cửa phòng thay đồ.

"A-thơ!" tôi thét lên. "Đồ khốn! Đồ ăn trộm! Sao mày dám động vào chiếc vương miện?"

Đèn khí vẫn để lửa nhỏ như lúc tôi đi ngủ, và đứa con bất hạnh của tôi, chỉ mặc áo sơ mi và quần dài, đang đứng cạnh ngọn đèn, tay cầm chiếc vương miện. Nó có vẻ đang vặn, hay đang dùng hết sức bẻ chiếc vương miện. Nghe tôi thét, nó buông tay đánh rơi chiếc vương miện, mặt tái nhợt như xác chết. Tôi chộp lấy nó xem xét. Một góc bằng vàng, có gắn ba viên ngọc bê-rin, đã biến mất.

"Thằng đê tiện!" tôi gào lên, giận tới mất trí. "Mày đã phá hỏng nó! Mày đã làm tao ô nhục mãi mãi! Mấy viên ngọc mày lấy trộm đâu rồi?"

"Lấy trộm!" nó kêu lên.

"Phải, đồ ăn trộm!" tôi gầm lên, lắc vai nó.

"Không mất viên nào cả. Không thể mất viên nào được," nó nói.

"Mất ba viên. Và mày biết chúng ở đâu. Chẳng lẽ tao phải gọi mày là đồ nói dối nữa, ngoài đồ ăn trộm? Chẳng phải tao vừa thấy mày định giật thêm một mảnh nữa sao?"

"Bố đã chửi con đủ rồi," nó nói. "Con không chịu thêm được nữa. Con sẽ không nói thêm một lời nào về chuyện này, vì bố đã chọn cách xúc phạm con. Sáng mai con sẽ rời khỏi nhà bố, tự kiếm đường sống."

"Mày sẽ rời khỏi đây trong tay cảnh sát!" tôi kêu lên, nửa điên vì đau đớn và giận dữ. "Tao sẽ cho điều tra chuyện này tới cùng."

"Bố sẽ chẳng biết được gì từ con đâu," nó nói, với một sự phẫn nộ mà tôi không ngờ có trong bản tính nó. "Nếu bố muốn gọi cảnh sát thì cứ để cảnh sát tìm được gì thì tìm."

Lúc ấy cả nhà đã náo động, vì tôi đã quát to trong cơn giận. Ma-ri là người đầu tiên lao vào phòng tôi, và khi thấy chiếc vương miện cùng nét mặt A-thơ, con bé đọc ra toàn bộ câu chuyện, thét lên một tiếng rồi ngã lăn ra bất tỉnh. Tôi sai cô hầu phòng đi gọi cảnh sát, và lập tức giao việc điều tra cho họ. Khi viên thanh tra và một cảnh sát bước vào nhà, A-thơ, nãy giờ khoanh tay đứng lầm lì, hỏi tôi có định buộc tội nó ăn trộm không. Tôi đáp rằng chuyện này không còn là chuyện riêng nữa, mà đã thành chuyện chung, vì chiếc vương miện bị hỏng là tài sản quốc gia. Tôi quyết tâm để pháp luật làm đúng phận sự trong mọi chuyện.

"Ít ra," nó nói, "bố đừng cho bắt con ngay. Cả bố lẫn con đều có lợi nếu con được ra khỏi nhà năm phút."

"Để mày trốn đi, hay có khi để mày giấu những thứ mày lấy trộm," tôi nói.

Rồi nhận ra tình cảnh khủng khiếp của mình, tôi van nó hãy nhớ rằng không chỉ danh dự của tôi, mà cả danh dự của một người cao quý hơn tôi nhiều đang bị đe doạ, và nó đang có nguy cơ gây ra một vụ tai tiếng làm chấn động cả nước. Nó có thể ngăn được tất cả, chỉ cần nó nói cho tôi biết nó đã làm gì với ba viên ngọc bị mất.

"Mày nên đối mặt với sự thật đi," tôi nói. "Mày đã bị bắt quả tang, và chẳng lời thú tội nào làm tội mày nặng thêm được. Nếu mày chịu đền bù trong khả năng của mày, bằng cách nói cho chúng tao biết mấy viên ngọc ở đâu, thì mọi chuyện sẽ được tha thứ, được quên đi."

"Bố để dành lòng tha thứ ấy cho những ai xin nó," nó đáp, quay đi với nụ cười khinh khỉnh.

Tôi thấy nó đã quá chai lì, chẳng lời nào của tôi lay chuyển được. Chỉ còn một cách. Tôi gọi viên thanh tra vào, giao nó cho anh ta giam giữ. Người ta lập tức khám xét không chỉ người nó, mà cả phòng nó và mọi ngóc ngách trong nhà nơi nó có thể giấu những viên ngọc, nhưng chẳng tìm thấy dấu vết gì. Còn thằng bé khốn khổ thì dù chúng tôi khuyên nhủ, doạ nạt thế nào cũng không chịu hé răng. Sáng nay nó đã bị đưa vào xà lim, còn tôi, sau khi làm xong mọi thủ tục với cảnh sát, đã vội vã tới đây van ông dùng tài năng của mình gỡ rối chuyện này. Cảnh sát đã thẳng thắn thừa nhận hiện giờ họ chẳng hiểu ra sao cả. Ông muốn tốn kém bao nhiêu cũng được. Tôi đã treo thưởng một nghìn bảng. Chúa ơi, tôi biết làm sao đây! Chỉ trong một đêm tôi đã mất danh dự, mất ngọc quý và mất con. Ôi, tôi biết làm sao đây!

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơ-lốc Hôm: Chiếc vương miện ngọc bê-rin

  1. 1Bảo vật quốc gia20 phút
  2. 2Dấu chân trên tuyếtĐang thu âm
  3. 3Ba viên ngọc bị mấtĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảArthur Conan Doyle (1859 – 1930)
Năm mất1930
Xuất bản lần đầu1892
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Adventure of the Beryl Coronet, trong tập The Adventures of Sherlock Holmes, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →