Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Sợi dây

của Guy de Maupassant

⏱ 14 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 12.627 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Trên mọi nẻo đường quanh Gốt-đơ-vin, các bác nông…
  2. 5:01Cả giới quý tộc của nhà cày đều ăn…
  3. 6:45Viên đội nói tiếp:
  4. 7:50"Có người trông thấy bác."
  5. 8:55Bác già nghẹn thở vì phẫn nộ và sợ…
  6. 10:34Bác ốm cả đêm vì chuyện ấy.
  7. 12:33"Thôi đi, thôi đi, ngón cũ rồi, tôi biết…
  8. 14:12Bác cảm thấy điều đó, bác đau khổ đến…

Trên mọi nẻo đường quanh Gốt-đơ-vin, các bác nông dân và vợ con họ kéo nhau về thị trấn, vì hôm ấy là ngày phiên chợ. Cánh đàn ông bước đi thong thả, mỗi lần đôi chân dài khuỳnh khuỳnh bước tới là cả thân người lại đổ về phía trước. Đôi chân ấy đã biến dạng vì những việc nặng nhọc, vì phải tì người lên cày, cái việc khiến vai trái nhô cao và lưng lệch hẳn đi, vì phải cắt lúa mì, cái việc bắt hai đầu gối phải dạng ra cho đứng thật vững, vì mọi công việc chậm chạp và vất vả của nhà nông. Chiếc áo choàng xanh hồ cứng, bóng loáng như quét véc-ni, cổ áo và cổ tay thêu một đường chỉ trắng nho nhỏ, phồng lên quanh tấm thân xương xẩu của họ, trông như một quả bóng sắp bay lên, từ đó thò ra một cái đầu, hai cánh tay và hai bàn chân.

Có người dắt theo một con bò cái, một con bê, ở đầu sợi thừng. Còn vợ họ đi sau con vật, cầm một cành cây còn nguyên lá quất vào mông nó cho nó đi nhanh lên. Các bà khoác trên tay những chiếc giỏ to, chỗ này thò ra mấy cái đầu gà, chỗ kia thò ra mấy cái đầu vịt. Họ bước những bước ngắn hơn, nhanh hơn chồng, người gầy gò, thẳng đuột, quấn một chiếc khăn choàng nhỏ cũn cỡn ghim trên bộ ngực lép, đầu bọc một mảnh vải trắng ép sát vào tóc, bên trên đội một chiếc mũ vải.

Rồi một chiếc xe ngựa có ghế băng chạy qua, theo nhịp phi giật cục của một con ngựa còm, lắc lư một cách kỳ quặc hai người đàn ông ngồi cạnh nhau và một người đàn bà ngồi ở cuối xe, tay bám chặt vào thành xe cho đỡ xóc.

Trên quảng trường Gốt-đơ-vin là cả một đám đông, một đám hỗn độn người lẫn vật. Sừng bò, những chiếc mũ cao lông dài của các phú nông và những chiếc mũ vải của các bà nông dân nhô lên khỏi mặt đám đông. Những giọng nói the thé, chói tai, oang oang, hợp thành một tiếng ồn ào liên miên và hoang dã, thỉnh thoảng bị át đi bởi một tiếng cười vang bật ra từ bộ ngực vạm vỡ của một bác nhà quê đang vui, hay tiếng rống dài của một con bò cái buộc vào tường một ngôi nhà.

Tất cả sặc mùi chuồng trại, mùi sữa, mùi phân, mùi cỏ khô và mồ hôi, toả ra cái mùi chua chua, kinh khủng, nửa người nửa vật, riêng có ở dân đồng ruộng.

Bác Ốt-sơ-coóc-nơ, người làng Brê-ô-tê, vừa tới Gốt-đơ-vin, đang đi về phía quảng trường thì nhìn thấy dưới đất một mẩu dây nhỏ. Bác Ốt-sơ-coóc-nơ, tằn tiện đúng kiểu dân Noóc-măng-đi, nghĩ rằng cái gì dùng được thì nhặt về đều tốt cả. Bác khó nhọc cúi xuống, vì bác bị thấp khớp. Bác nhặt mẩu dây mảnh dưới đất lên, đang định cẩn thận cuộn lại thì thấy bác Ma-lăng-đanh, người thợ làm yên cương, đứng ở ngưỡng cửa nhà, đang nhìn mình. Trước kia hai người đã có chuyện lôi thôi với nhau về một cái dây cương, rồi giận nhau từ đó, vì cả hai đều thù dai. Bác Ốt-sơ-coóc-nơ thấy xấu hổ thế nào ấy, khi bị kẻ thù trông thấy mình đang bới bùn tìm một mẩu dây. Bác vội giấu ngay của nhặt được vào trong áo choàng, rồi nhét vào túi quần. Rồi bác làm như vẫn đang tìm dưới đất một thứ gì đó không thấy, và đi về phía chợ, đầu chúi về phía trước, lưng còng gập vì đau.

Bác lẫn ngay vào đám đông ồn ào và chậm chạp, nhốn nháo vì những cuộc mặc cả không bao giờ dứt. Các bác nông dân sờ nắn bò, bỏ đi, rồi quay lại, phân vân, lúc nào cũng sợ bị lừa, chẳng bao giờ dám quyết, cứ dò xét con mắt người bán, mãi mãi tìm cách phát hiện ra mánh khoé của con người và tật xấu của con vật.

Các bà đặt những chiếc giỏ lớn dưới chân, lấy gà vịt ra bày dưới đất, chân bị trói, mắt hoảng hốt, mào đỏ tươi. Họ nghe người ta trả giá, giữ giá, vẻ mặt khô khan, lạnh tanh. Hoặc bỗng nhiên quyết định bán theo giá người ta trả, họ gọi với theo người khách đang chầm chậm bỏ đi:

"Được rồi, bác Ăng-tim ơi. Tôi bán cho bác đấy."

Rồi dần dần quảng trường vắng người. Chuông nhà thờ điểm trưa, những ai ở xa quá thì tản vào các quán trọ.

Ở quán bác Giuốc-đanh, gian phòng lớn chật ních người ăn, cũng như cái sân rộng chật ních đủ loại xe cộ, xe bò, xe độc mã mui gấp, xe có ghế băng, xe hai bánh nhẹ, những chiếc xe chẳng biết gọi là gì, vàng khè bùn đất, méo mó, chắp vá, chĩa hai càng lên trời như hai cánh tay, hoặc chúi mũi xuống đất, đít chổng lên trời.

Sát bên những người đang ngồi ăn, chiếc lò sưởi khổng lồ đầy lửa sáng hắt hơi nóng rát vào lưng dãy người ngồi bên phải. Ba xiên nướng quay tròn, đầy những gà, những bồ câu và đùi cừu. Một mùi thơm ngon lành của thịt quay và của nước thịt chảy ròng ròng trên lớp da vàng rộm bốc lên từ lò, làm mọi người vui vẻ hẳn lên, làm ứa nước miếng.

Cả giới quý tộc của nhà cày đều ăn ở đây, ở quán bác Giuốc-đanh, chủ quán kiêm lái ngựa, một tay khôn ngoan nhiều của. Các đĩa thức ăn chuyền qua chuyền lại, hết sạch, cũng như những bình rượu táo vàng óng. Ai cũng kể chuyện làm ăn của mình, chuyện mua, chuyện bán. Người ta hỏi han nhau về mùa màng. Thời tiết tốt cho rau cỏ, nhưng hơi ẩm cho lúa mì.

Bỗng ngoài sân, trước cửa quán, tiếng trống vang lên. Mọi người đứng bật cả dậy, trừ vài kẻ thờ ơ, rồi chạy ra cửa, ra cửa sổ, miệng còn đầy thức ăn, tay còn cầm khăn ăn.

Đánh trống xong một hồi, anh mõ cất giọng ngắt quãng, nhấn nhá từng câu chẳng đúng nhịp:

"Xin báo cho dân chúng Gốt-đơ-vin, và nói chung tất cả những ai có mặt ở phiên chợ được biết: sáng nay, trên con đường đi Bơ-dơ-vin, khoảng từ chín giờ tới mười giờ, có người đánh rơi một chiếc ví da màu đen, trong đựng năm trăm quan và giấy tờ làm ăn. Ai nhặt được, xin mang trả ngay cho toà thị chính, hoặc mang tới nhà ông Phoóc-tuy-nê Un-brếch, ở Ma-nơ-vin. Sẽ có hai mươi quan tiền thưởng."

Rồi anh ta đi. Người ta còn nghe thêm một lần nữa, từ xa, tiếng trống đục và tiếng anh mõ yếu dần.

Thế là mọi người bàn tán về chuyện ấy, kể ra những khả năng ông Un-brếch tìm lại được hay không tìm lại được chiếc ví của mình.

Rồi bữa ăn kết thúc.

Mọi người đang uống nốt cà phê thì viên đội hiến binh xuất hiện ở ngưỡng cửa.

Ông ta hỏi:

"Bác Ốt-sơ-coóc-nơ, người làng Brê-ô-tê, có ở đây không?"

Bác Ốt-sơ-coóc-nơ, ngồi ở đầu bàn bên kia, đáp:

"Tôi đây."

Viên đội nói tiếp:

"Bác Ốt-sơ-coóc-nơ, phiền bác đi với tôi lên toà thị chính một lát. Ông thị trưởng muốn nói chuyện với bác."

Bác nông dân ngạc nhiên, lo lắng, uống một hơi cạn cốc rượu nhỏ, đứng dậy, người còn còng hơn cả buổi sáng, vì những bước đầu tiên sau mỗi lần nghỉ bao giờ cũng đặc biệt khó nhọc. Bác lên đường, miệng nhắc đi nhắc lại:

"Tôi đây, tôi đây."

Rồi bác đi theo viên đội.

Ông thị trưởng ngồi trong ghế bành chờ bác. Ông là viên công chứng trong vùng, một người béo tốt, nghiêm trang, nói năng toàn những câu kiểu cách.

Ông nói:

"Bác Ốt-sơ-coóc-nơ, sáng nay có người trông thấy bác nhặt được, trên con đường đi Bơ-dơ-vin, chiếc ví ông Un-brếch ở Ma-nơ-vin đánh rơi."

Bác nhà quê sững sờ nhìn ông thị trưởng, đã thấy sợ vì nỗi ngờ vực đang đè lên mình, mà chẳng hiểu vì sao.

"Tôi, tôi mà nhặt được cái ví ấy à?"

"Phải, chính bác."

"Xin thề danh dự là tôi chẳng hề biết gì về nó cả."

"Có người trông thấy bác."

"Có người trông thấy tôi à? Ai trông thấy tôi?"

"Ông Ma-lăng-đanh, thợ làm yên cương."

Thế là bác già nhớ ra, hiểu ra, và đỏ mặt lên vì giận:

"À! Nó trông thấy tôi, cái thằng khốn ấy! Nó trông thấy tôi nhặt cái sợi dây này này, ông thị trưởng xem đây."

Rồi bác lục tới tận đáy túi, lôi ra mẩu dây nhỏ.

Nhưng ông thị trưởng không tin, cứ lắc đầu.

"Bác Ốt-sơ-coóc-nơ, bác không làm tôi tin được là ông Ma-lăng-đanh, một người đáng tin cậy, lại đi tưởng sợi dây này là cái ví đâu."

Bác nông dân giận điên lên, giơ tay lên, nhổ toẹt sang một bên để lấy danh dự ra mà thề, nhắc đi nhắc lại:

"Thế mà đúng là sự thật có Chúa chứng giám đấy, sự thật thiêng liêng đấy, ông thị trưởng ạ. Tôi xin lấy linh hồn tôi, lấy phần rỗi của tôi ra mà thề, tôi nói lại lần nữa."

Ông thị trưởng nói tiếp:

"Nhặt được cái ví rồi, bác lại còn tìm mãi dưới bùn xem có đồng tiền nào rơi ra không nữa."

Bác già nghẹn thở vì phẫn nộ và sợ hãi.

"Sao lại có thể nói thế!... Sao lại có thể nói thế!... Bịa đặt như thế để bôi nhọ một người lương thiện! Sao lại có thể nói thế!..."

Bác có thanh minh mấy cũng chẳng ai tin bác.

Người ta cho bác đối chất với ông Ma-lăng-đanh, ông này nhắc lại và giữ nguyên lời khai. Hai người chửi nhau suốt một tiếng đồng hồ. Theo đề nghị của bác, người ta khám người bác Ốt-sơ-coóc-nơ. Chẳng thấy gì.

Cuối cùng, ông thị trưởng rất bối rối, cho bác về, dặn rằng ông sẽ báo lên viện công tố và xin chỉ thị.

Tin đồn đã lan ra. Ra khỏi toà thị chính, bác bị người ta vây lấy, hỏi han với vẻ tò mò nghiêm chỉnh mà giễu cợt, nhưng chẳng chút phẫn nộ nào. Và bác bắt đầu kể chuyện sợi dây. Người ta không tin bác. Người ta cười.

Bác đi, ai cũng giữ bác lại, bác cũng giữ những người quen lại, kể đi kể lại không biết bao nhiêu lần câu chuyện của mình, thanh minh mãi, lộn trái túi ra cho người ta xem để chứng tỏ là mình chẳng có gì.

Người ta bảo bác:

"Thôi đi, lão già ranh mãnh!"

Thế là bác nổi giận, bực tức, bứt rứt, khổ sở vì không được ai tin, chẳng biết làm thế nào, và cứ kể mãi câu chuyện của mình.

Đêm xuống. Phải về thôi. Bác lên đường cùng ba người hàng xóm, chỉ cho họ chỗ bác đã nhặt mẩu dây. Và suốt dọc đường, bác chỉ nói về chuyện rủi ro của mình.

Tối hôm ấy, bác đi một vòng khắp làng Brê-ô-tê để kể cho tất cả mọi người nghe. Bác chỉ gặp toàn những người không tin.

Bác ốm cả đêm vì chuyện ấy.

Hôm sau, khoảng một giờ chiều, Ma-ri-uýt Pô-men, người làm công cho ông Brơ-tông, chủ trại ở I-mô-vin, mang trả lại chiếc ví cùng mọi thứ trong đó cho ông Un-brếch ở Ma-nơ-vin.

Anh ta khai rằng quả thật đã nhặt được chiếc ví trên đường. Nhưng vì không biết chữ, anh ta mang nó về nhà và đưa cho ông chủ.

Tin ấy lan khắp vùng. Bác Ốt-sơ-coóc-nơ cũng được biết. Lập tức bác đi khắp nơi, bắt đầu kể lại câu chuyện của mình, thêm cả đoạn kết. Bác đắc thắng.

Bác nói:

"Cái làm tôi buồn ấy mà, các ông hiểu cho, không phải là chuyện cái ví đâu. Mà là cái chuyện bịa đặt kia. Chẳng có gì hại người bằng bị người ta chê trách vì một chuyện bịa đặt."

Suốt ngày bác nói về chuyện rủi ro của mình. Bác kể cho người qua đường trên đường cái, cho người uống rượu trong quán, cho người ra khỏi nhà thờ chủ nhật tuần sau. Bác giữ cả những người lạ lại để kể. Bây giờ bác yên tâm rồi, thế nhưng có một cái gì đó vẫn làm bác khó chịu, mà bác không biết rõ là cái gì. Người ta nghe bác kể với vẻ như đùa cợt. Người ta có vẻ không tin. Bác như cảm thấy có những lời xì xào sau lưng mình.

Thứ ba tuần sau nữa, bác ra chợ Gốt-đơ-vin, chỉ vì cần được kể chuyện của mình.

Ma-lăng-đanh đứng ở cửa nhà, thấy bác đi qua thì phá lên cười. Sao lại cười?

Bác bắt chuyện với một chủ trại ở Cri-cơ-tô. Ông này không để bác nói hết, vỗ một cái vào bụng bác, rồi nói thẳng vào mặt bác: "Già ranh lắm!" Rồi quay gót bỏ đi.

Bác Ốt-sơ-coóc-nơ đứng sững, mỗi lúc một lo lắng hơn. Sao người ta lại gọi bác là "già ranh"?

Khi đã ngồi vào bàn, trong quán trọ bác Giuốc-đanh, bác lại bắt đầu giải thích câu chuyện. Một tay lái ngựa ở Mông-ti-vi-li-ê nói to với bác:

"Thôi đi, thôi đi, ngón cũ rồi, tôi biết thừa cái sợi dây của bác!"

Ốt-sơ-coóc-nơ ấp úng:

"Thì người ta đã tìm thấy cái ví rồi cơ mà?"

Nhưng tay kia nói tiếp:

"Im đi, ông bạn già, kẻ nhặt là một người, kẻ mang trả là một người khác. Chẳng ai thấy, chẳng ai hay, thế là xong chuyện."

Bác nông dân nghẹn thở. Cuối cùng bác đã hiểu. Người ta buộc tội bác đã nhờ một kẻ đồng loã, một tay chân, mang trả chiếc ví.

Bác muốn thanh minh. Cả bàn phá lên cười.

Bác không ăn hết bữa được, bỏ về giữa những tiếng chế giễu.

Bác về nhà, xấu hổ và phẫn nộ, nghẹn lại vì giận, vì nhục, và càng thêm suy sụp vì với cái tính láu cá của dân Noóc-măng-đi, bác hoàn toàn có thể làm cái việc người ta buộc tội bác, thậm chí còn đem ra khoe như một vố chơi khăm hay. Bác lờ mờ thấy rằng không thể nào chứng minh được mình vô tội, vì ai cũng biết bác ranh mãnh. Và bác cảm thấy nỗi ngờ vực bất công kia như một nhát dao đâm vào tim.

Thế là bác lại bắt đầu kể chuyện của mình, mỗi ngày một kéo dài thêm, mỗi lần lại thêm những lý lẽ mới, những lời thanh minh mạnh mẽ hơn, những lời thề long trọng hơn, mà bác nghĩ ra, bác chuẩn bị sẵn trong những giờ ngồi một mình, đầu óc chỉ còn bận độc chuyện sợi dây. Lời bào chữa của bác càng rắc rối, lý lẽ của bác càng tinh vi, thì người ta lại càng không tin bác.

Sau lưng bác, người ta bảo nhau:

"Đấy, lý lẽ của kẻ nói dối là thế đấy."

Bác cảm thấy điều đó, bác đau khổ đến héo ruột héo gan, bác kiệt sức vì những cố gắng vô ích.

Bác gầy rạc đi trông thấy.

Giờ đây những kẻ thích đùa bắt bác kể chuyện "Sợi dây" cho vui, như người ta bắt người lính đã từng ra trận kể chuyện trận đánh của mình. Đầu óc bác bị tổn thương tận đáy, cứ yếu dần đi.

Khoảng cuối tháng Chạp, bác nằm liệt giường.

Bác chết vào những ngày đầu tháng Giêng. Trong cơn mê sảng lúc hấp hối, bác vẫn khẳng định mình vô tội, cứ nhắc đi nhắc lại:

"Một sợi dây con... một sợi dây con... đây này, ông thị trưởng xem đây."

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1883
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: La Ficelle, in trên báo Le Gaulois ngày 25 tháng 11 năm 1883, tập Miss Harriet, bản Conard 1910
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →