Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Vị khách lạ từ phương nam

Sói Nâu · Chương 1/2 · của Jack London

⏱ 9 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 10.159 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Vì cỏ còn ướt sương, nàng nán lại để…
  2. 0:30Sói ơi! Sói! Lại đây, Sói! nàng gọi, khi…
  3. 0:59Em định nói là thằng bé bụi đời ngoài…
  4. 2:01Kể ra một lần không thành công xem nào.
  5. 2:18Đấy, cái đẹp và cái có ích cãi nhau…
  6. 3:15Về vóc dáng, bộ lông và cái đuôi xù,…
  7. 5:34Chinh phục nó trở thành một bài toán. Ơ-vin…
  8. 8:02Nhưng họ chẳng cãi bà. Này nhé, chóp hai…

Chương 1: Vị khách lạ từ phương nam

Vì cỏ còn ướt sương, nàng nán lại để xỏ đôi giày bọc ngoài. Khi bước ra khỏi nhà, nàng thấy chồng đang đứng chờ, mải mê ngắm một nụ hoa hạnh nhân vừa bung nở. Nàng đưa mắt tìm khắp đám cỏ cao, rồi luồn qua những hàng cây trong vườn quả.

— Sói đâu rồi anh? nàng hỏi.

— Mới đây nó còn ở đây mà.

Oan Ơ-vin giật mình rời khỏi cõi siêu hình và thi ca của phép màu hoa nở, đưa mắt nhìn quanh.

— Lần cuối anh thấy nó là lúc nó đang đuổi một con thỏ.

— Sói ơi! Sói! Lại đây, Sói! nàng gọi, khi hai người rời khoảng đất trống, đi theo lối mòn dẫn xuống qua bụi cây man-da-ni-ta rậm rạp treo đầy hoa chuông như sáp, ra tới con đường của hạt.

Ơ-vin đặt hai ngón út lên môi, góp vào tiếng gọi của vợ một tiếng huýt sáo lanh lảnh.

Nàng vội bịt tai, nhăn mặt.

— Trời ơi! Một nhà thơ, tâm hồn tinh tế và đủ thứ, mà phát ra được những âm thanh khó nghe thế. Thủng màng nhĩ em rồi. Anh huýt sáo còn hơn cả...

— Thần Óc-phê.

— Em định nói là thằng bé bụi đời ngoài phố, nàng nghiêm mặt nói nốt.

— Thơ ca đâu có ngăn người ta thực tế. Ít ra là không ngăn anh. Anh đâu phải loại thiên tài vô dụng không bán nổi châu ngọc của mình cho các tạp chí.

Chàng làm bộ khoa trương, nói tiếp:

— Anh chẳng phải kẻ hát rong trên gác xép, cũng chẳng phải con chim hót trong phòng khiêu vũ. Vì sao ư? Vì anh thực tế. Thơ của anh không phải thứ thơ nghèo kiết không biến được thành một giá trị trao đổi xứng đáng: một mái nhà nhỏ trĩu hoa, một đồng cỏ núi êm đềm, một rừng gỗ đỏ, một vườn quả ba mươi bảy cây, một hàng mâm xôi dài, hai hàng dâu tây ngắn, ấy là chưa kể một phần tư dặm suối róc rách. Anh là nhà buôn cái đẹp, kẻ buôn bán lời ca, và anh theo đuổi sự hữu ích, Mét-giơ yêu quý ạ. Anh hát một bài ca, và nhờ các ông biên tập tạp chí, anh biến bài ca của anh thành một làn gió tây thở dài qua rừng gỗ đỏ của chúng ta, thành tiếng nước rì rào trên những phiến đá phủ rêu, hát lại cho anh một bài ca khác với bài anh đã hát, mà vẫn là bài ấy, được, ờ, biến hoá một cách diệu kỳ.

— Ôi, giá mà phép biến hoá thơ nào của anh cũng thành công như thế! nàng bật cười.

— Kể ra một lần không thành công xem nào.

— Hai bài xon-nê tuyệt đẹp mà anh biến thành con bò bị cả vùng coi là vắt sữa tệ nhất ấy.

— Nó đẹp mà..., chàng mở lời.

— Nhưng nó không cho sữa, Mét-giơ cắt ngang.

— Nhưng nó đẹp thật, phải không nào? chàng khăng khăng.

— Đấy, cái đẹp và cái có ích cãi nhau ở chỗ ấy đấy, nàng đáp. Kìa, Sói kìa!

Từ sườn đồi rậm rạp vang lên tiếng bụi cây gãy răng rắc. Rồi trên cao chừng mười hai mét phía trên hai người, ở mép một vách đá dựng đứng, hiện ra cái đầu và đôi vai của một con sói. Hai chân trước tì mạnh của nó làm lăn một hòn sỏi. Tai vểnh nhọn, mắt chăm chú, nó dõi theo hòn sỏi rơi cho tới khi nó chạm đất dưới chân họ. Rồi nó chuyển ánh mắt sang họ, há miệng cười xuống.

— Sói ơi là Sói! Và: Sói ngoan của tôi! hai vợ chồng gọi lên.

Nghe tiếng gọi, hai tai nó cụp ra sau và xuống, và cái đầu như rúc vào bàn tay vô hình đang vuốt ve.

Họ nhìn nó lùi vào bụi rậm rồi đi tiếp. Mấy phút sau, ở một khúc quanh nơi dốc thoải hơn, nó nhập bọn với họ giữa một trận lở sỏi đất nho nhỏ. Nó không hay tỏ tình cảm. Một cái vỗ nhẹ, xoa quanh tai từ người chồng, một hồi vuốt ve lâu hơn từ người vợ, rồi nó đã chạy xuống lối mòn phía trước họ, lướt đi nhẹ tênh trên mặt đất đúng kiểu loài sói.

Về vóc dáng, bộ lông và cái đuôi xù, nó là một con sói rừng to lớn. Nhưng màu lông và những vệt đốm lại tố cáo rằng nó không phải sói. Ở đó, con chó lộ ra không lẫn vào đâu được. Chẳng con sói nào có màu lông như nó. Nó màu nâu, nâu sẫm, nâu đỏ, một cuộc hội hè của đủ mọi sắc nâu. Lưng và vai nó nâu ấm, nhạt dần xuống hai bên sườn và bụng thành một màu vàng xỉn vì còn vương lại sắc nâu. Màu trắng ở cổ họng, ở bàn chân và hai đốm trên mắt cũng ngả bẩn, vì cái màu nâu dai dẳng không sao gột sạch. Còn đôi mắt thì như hai viên hoàng ngọc, vàng óng và nâu.

Hai vợ chồng rất yêu con chó. Có lẽ vì họ đã phải vất vả biết bao mới chiếm được tình cảm của nó. Chẳng dễ dàng chút nào, từ cái hôm nó lặng lẽ, bí ẩn, từ đâu không ai biết, dạt tới mái nhà nhỏ trên núi của họ. Chân đau, bụng đói, nó đã giết một con thỏ ngay trước mũi họ, ngay dưới cửa sổ nhà họ, rồi lết đi ngủ bên con suối dưới chân bụi mâm xôi. Khi Oan Ơ-vin xuống xem kẻ đột nhập, anh chỉ nhận được một tiếng gầm gừ. Mét-giơ cũng bị gầm gừ khi xuống mang cho nó một chảo bánh mì ngâm sữa to, coi như lễ vật cầu hoà.

Nó tỏ ra là một con chó khó gần hết mức. Nó khó chịu với mọi cử chỉ thân thiện của họ, không cho họ chạm tay vào người, nhe nanh dựng lông đe doạ họ. Vậy mà nó vẫn ở lại, ngủ và nghỉ bên con suối, ăn thức ăn họ cho, sau khi họ đặt xuống ở một khoảng cách an toàn rồi lùi đi. Tình trạng thể xác khốn khổ của nó giải thích vì sao nó nán lại. Và khi đã hồi sức, sau mấy ngày lưu lại, nó biến mất.

Và chuyện của nó với vợ chồng Ơ-vin hẳn đã chấm dứt ở đó, nếu đúng lúc ấy Ơ-vin không phải đi công việc lên miền bắc của bang. Ngồi trên tàu hoả, gần tới ranh giới giữa Ca-li-pho-ni-a và Ô-rê-gân, tình cờ nhìn ra cửa sổ, anh thấy vị khách khó gần của mình đang lướt đi dọc con đường xe ngựa. Nâu, dáng sói, mệt mà không biết mệt, phủ đầy bụi đất của ba trăm cây số đường.

Ơ-vin là người bốc đồng, một nhà thơ mà. Anh xuống tàu ở ga kế tiếp, mua một miếng thịt ở hàng thịt, rồi tóm được gã lang thang ở ngoại ô thị trấn. Chuyến về, nó đi trong toa hành lý, và thế là Sói tới mái nhà trên núi lần thứ hai. Ở đây nó bị buộc lại một tuần, được hai vợ chồng ra sức tán tỉnh. Nhưng đó là một cuộc tán tỉnh hết sức dè dặt. Xa cách và xa lạ như người lữ khách từ một hành tinh khác, nó gầm gừ đáp lại những lời yêu thương dịu dàng của họ. Nó không bao giờ sủa. Suốt thời gian họ nuôi nó, chưa ai từng nghe nó sủa.

Chinh phục nó trở thành một bài toán. Ơ-vin thích những bài toán. Anh cho làm một tấm biển kim loại khắc dòng chữ: Xin trả về cho Oan Ơ-vin, Glen E-lơn, hạt Xô-nô-ma, Ca-li-pho-ni-a. Tấm biển được tán vào một chiếc vòng cổ, đeo quanh cổ con chó. Rồi họ thả nó ra, và nó lập tức biến mất. Một ngày sau, có bức điện từ hạt Men-đô-xi-nô gửi tới. Trong hai mươi giờ, nó đã chạy hơn trăm rưởi cây số về phía bắc, và vẫn đang chạy tiếp khi bị bắt.

Nó được gửi về theo đường chuyển phát Oen Phác-gô, bị buộc ba ngày, ngày thứ tư được thả, và lại mất. Lần này nó tới tận miền nam Ô-rê-gân mới bị bắt và gửi về. Lần nào cũng vậy, vừa được tự do là nó bỏ chạy, và lần nào cũng chạy về phía bắc. Nó bị ám bởi một nỗi ám ảnh thúc nó về phương bắc. Bản năng tìm về tổ, Ơ-vin gọi thế, sau khi đã tiêu hết món tiền bán một bài xon-nê để đưa con vật về từ miền bắc Ô-rê-gân.

Một lần khác, kẻ lang thang lông nâu đi được nửa chiều dài Ca-li-pho-ni-a, trọn bang Ô-rê-gân và gần hết bang Oa-sinh-tơn mới bị nhặt được và gửi về, người nhận trả cước. Điều kỳ lạ là tốc độ nó đi. Được ăn no nghỉ khoẻ, vừa được thả là nó dồn hết sức lực vào việc vượt đường. Ngày chạy đầu tiên, người ta biết nó đi được tới hai trăm bốn mươi cây số, và sau đó trung bình mỗi ngày trăm rưởi cây số cho tới khi bị bắt. Lần nào nó về cũng gầy gò, đói khát và hung dữ. Và lần nào nó ra đi cũng sung sức, khoẻ khoắn, rẽ đường lao về phương bắc, theo một tiếng thôi thúc trong con người nó mà không ai hiểu nổi.

Nhưng cuối cùng, sau một năm trốn chạy vô ích, nó chấp nhận điều không tránh được, và chọn ở lại mái nhà nơi lần đầu nó giết con thỏ và ngủ bên con suối. Ngay cả sau đó, cũng phải rất lâu hai vợ chồng mới vuốt ve được nó. Đó là một chiến thắng lớn, vì chỉ có họ được phép đặt tay lên nó. Nó kén chọn khắt khe, chẳng vị khách nào tới nhà làm thân được với nó. Ai lại gần sẽ được đón bằng một tiếng gừ khẽ. Nếu kẻ nào liều lĩnh tới gần hơn, môi nó sẽ vén lên, nanh nhe ra, tiếng gừ thành tiếng gầm, một tiếng gầm khủng khiếp và hung hiểm đến mức người gan dạ nhất cũng khiếp vía. Lũ chó nhà nông quanh vùng cũng khiếp như thế, vì chúng chỉ biết tiếng gầm gừ của loài chó thường, chưa bao giờ thấy tiếng gầm của loài sói.

Nó không có lai lịch. Lịch sử của nó bắt đầu từ Oan và Mét-giơ. Nó từ phương nam tới, nhưng họ chẳng bao giờ tìm ra chút manh mối nào về người chủ mà rõ ràng nó đã bỏ trốn. Bà Giôn-xơn, người hàng xóm gần nhất, cũng là người bán sữa cho họ, khẳng định nó là chó Clôn-đai-cơ. Em trai bà đang đào bới tìm những mạch vàng đông cứng ở cái xứ xa xôi ấy, nên bà tự coi mình là người am hiểu chuyện này.

Nhưng họ chẳng cãi bà. Này nhé, chóp hai tai của Sói rõ ràng đã có lần bị bỏng lạnh nặng tới mức không bao giờ lành hẳn được nữa. Hơn nữa, trông nó giống những con chó A-lát-xca trong ảnh in trên các tạp chí và báo. Họ thường đoán già đoán non về quá khứ của nó, cố hình dung, từ những gì đã đọc và đã nghe, cuộc sống của nó ở phương Bắc. Họ biết phương Bắc vẫn còn níu kéo nó. Vì đêm đêm thỉnh thoảng họ nghe nó khóc khe khẽ. Và khi gió bấc thổi, khi cái giá cắn vào không khí, một nỗi bồn chồn lớn lao lại xâm chiếm nó, và nó cất lên một tiếng than ai oán mà họ biết là tiếng tru dài của loài sói. Thế nhưng nó không bao giờ sủa. Chẳng có sự khiêu khích nào đủ lớn để nó bật ra tiếng kêu của loài chó.

Trong thời gian chinh phục nó, hai vợ chồng tranh cãi rất lâu xem nó là chó của ai. Ai cũng nhận nó là của mình, và ai cũng rêu rao ầm ĩ mỗi khi nó tỏ chút cảm tình. Nhưng lúc đầu người chồng chiếm ưu thế, chủ yếu vì anh là đàn ông. Rõ ràng Sói chưa từng tiếp xúc với đàn bà. Nó không hiểu đàn bà. Váy áo của Mét-giơ là thứ nó không bao giờ chịu hẳn. Chỉ tiếng sột soạt của váy cũng đủ làm nó dựng lông lên nghi ngại, và những ngày có gió, nàng không sao lại gần nó được.

Mặt khác, chính Mét-giơ cho nó ăn. Chính nàng cai quản nhà bếp, và nhờ ân huệ của nàng, chỉ riêng ân huệ của nàng thôi, nó mới được phép bước vào chốn thiêng liêng ấy. Nhờ những điều ấy, nàng có vẻ sắp vượt qua được trở ngại của bộ váy áo. Đó là lúc Oan phải ra sức đặc biệt. Anh tập cho Sói nằm dưới chân mỗi khi anh viết, và vì vừa vuốt ve vừa trò chuyện với nó, anh mất khá nhiều thời giờ làm việc. Cuối cùng Oan thắng, mà rất có thể là nhờ anh là đàn ông. Dù Mét-giơ quả quyết rằng lẽ ra họ đã có thêm một phần tư dặm suối róc rách nữa, và ít nhất là hai làn gió tây thở dài qua rừng gỗ đỏ, nếu Oan chịu dồn sức vào việc biến thơ thành của, mà để yên cho Sói tự chọn theo sở thích tự nhiên và sự phán đoán vô tư của nó.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sói Nâu

  1. 1Vị khách lạ từ phương nam9 phút
  2. 2Con chó tự chọnĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảJack London (1876 – 1916)
Năm mất1916
Xuất bản lần đầu1906
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Brown Wolf, Jack London, 1906; in trong tập Love of Life and Other Stories (1907)
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →