Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Chuyến hàng gỗ mun

Ta-măng-gô · Chương 1/2 · của Prosper Mérimée

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 13.774 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Thuyền trưởng Lơ-đu là một thuỷ thủ giỏi. Ông…
  2. 3:17Vì rốt cuộc thì người da đen cũng là…
  3. 6:06Người ta ngồi xuống. Một thuỷ thủ biết chút…
  4. 9:13Còn lại chừng ba mươi nô lệ. Đó là…
  5. 10:21Nào, tới đứa khác, Ta-măng-gô kêu, nhắm vào một…
  6. 11:01Người thông ngôn là người tốt bụng. Anh cho…
  7. 13:12Đang lúc giằng co, viên phó tàu Hy Vọng…
  8. 15:15Người thông ngôn tốt bụng, người hôm qua đã…

Chương 1: Chuyến hàng gỗ mun

Thuyền trưởng Lơ-đu là một thuỷ thủ giỏi. Ông khởi nghiệp là lính thuỷ trơn, rồi lên làm phụ tá lái. Trong trận Tra-pha-gan, một mảnh gỗ vỡ làm nát bàn tay trái của ông. Người ta cưa tay ông, rồi cho giải ngũ với những giấy chứng nhận tốt đẹp. Nghỉ ngơi chẳng hợp với ông. Có dịp ra khơi lại, ông làm phó nhì trên một tàu cướp biển được nhà nước cho phép. Số tiền chia được từ vài chiếc tàu bắt được giúp ông mua sách, học lý thuyết hàng hải, môn mà về thực hành thì ông đã thạo từ lâu. Dần dần, ông làm thuyền trưởng một chiếc tàu cướp nhỏ có ba khẩu đại bác và sáu mươi thuỷ thủ. Dân chạy tàu ven biển đảo Giớc-xi tới nay còn nhớ những chiến công của ông.

Hoà bình tới làm ông buồn rầu. Trong chiến tranh ông đã dành dụm được một gia tài nhỏ, vẫn mong làm cho nó to thêm bằng của cải người Anh. Ông đành phải đem tài mình ra phục vụ những nhà buôn hiền lành. Vì ông nổi tiếng là người quả quyết và từng trải, người ta giao cho ông một con tàu chẳng khó khăn gì. Tới khi việc buôn người da đen bị cấm, muốn làm nghề ấy không chỉ phải qua mặt nhân viên hải quan Pháp, điều chẳng khó lắm, mà còn phải thoát khỏi các tàu tuần tra Anh, điều nguy hiểm nhất, thì thuyền trưởng Lơ-đu trở thành người quý như vàng đối với bọn buôn hàng gỗ mun, cái tên mà dân buôn nô lệ tự gọi thứ hàng của mình.

Khác hẳn phần đông những thuỷ thủ từng mòn mỏi lâu năm ở chức thấp như ông, ông không có cái thói ghê sợ mọi điều mới mẻ, cái đầu óc nệ cũ mà họ hay mang theo lên những chức vụ cao. Trái lại, thuyền trưởng Lơ-đu là người đầu tiên khuyên chủ tàu dùng thùng sắt để đựng và giữ nước ngọt. Trên tàu ông, xích tay và xích chân, thứ mà tàu buôn nô lệ nào cũng có sẵn, được rèn theo kiểu mới, sơn bóng cẩn thận cho khỏi gỉ. Nhưng điều làm ông được bọn buôn nô lệ nể nhất là chiếc tàu hai cột buồm mà chính ông trông coi việc đóng, chuyên để buôn người. Tàu lướt nhanh, hẹp và dài như tàu chiến, thế mà chở được rất nhiều người da đen. Ông đặt tên cho nó là tàu Hy Vọng.

Ông muốn các tầng hầm giữa hai boong, vốn đã hẹp và thụt vào, chỉ cao chừng một mét. Ông bảo với chiều cao ấy, những nô lệ tầm vóc vừa phải vẫn ngồi được thoải mái, mà họ cần đứng dậy làm gì? Lơ-đu nói:

— Tới thuộc địa rồi, chúng còn phải đứng mãi ấy chứ!

Người da đen ngồi tựa lưng vào thành tàu, xếp thành hai hàng song song, giữa chân hai hàng chừa ra một khoảng trống. Trên mọi tàu buôn nô lệ khác, khoảng ấy chỉ để đi lại. Lơ-đu nghĩ ra cách xếp thêm người vào đó, nằm vuông góc với hai hàng kia. Nhờ thế, tàu ông chở nhiều hơn chừng mười người so với tàu khác cùng trọng tải. Cố thì còn nhét thêm được nữa, nhưng cũng phải có lòng nhân đạo, để cho mỗi người da đen ít ra được một mét rưỡi bề dài và sáu tấc bề ngang mà cựa quậy, suốt một chuyến vượt biển sáu tuần hoặc hơn. Để biện minh cho sự rộng rãi ấy, Lơ-đu nói với chủ tàu:

— Vì rốt cuộc thì người da đen cũng là người như người da trắng.

Tàu Hy Vọng rời cảng Năng-tơ vào một ngày thứ sáu, điều mà về sau những kẻ mê tín còn nhắc tới. Các viên thanh tra lục soát kỹ lưỡng chiếc tàu mà không tìm ra sáu hòm lớn đựng đầy xích, còng tay, và thứ cùm sắt mà chẳng hiểu sao người ta gọi là thanh công lý. Họ cũng chẳng ngạc nhiên về số nước ngọt khổng lồ tàu Hy Vọng chở theo, trong khi giấy tờ ghi nó chỉ đi Xê-nê-gan buôn gỗ và ngà voi. Đường đi ấy không xa, đúng thế, nhưng cẩn thận quá cũng chẳng hại gì. Lỡ gặp lúc biển lặng gió, không có nước thì biết làm sao?

Vậy là tàu Hy Vọng ra đi vào ngày thứ sáu, buồm dây đầy đủ, mọi thứ trang bị tươm tất. Có lẽ Lơ-đu muốn cột buồm chắc hơn một chút. Nhưng suốt thời gian ông chỉ huy con tàu, ông chẳng có gì phải phàn nàn. Chuyến đi tới bờ biển châu Phi thuận buồm xuôi gió, nhanh chóng. Ông thả neo trên sông Giô-a-lơ, đúng lúc các tàu tuần tra Anh không canh khúc bờ biển ấy. Mấy tay môi giới địa phương lên tàu ngay. Thời cơ không thể tốt hơn. Ta-măng-gô, một chiến binh lừng danh và tay buôn người có tiếng, vừa dẫn ra bờ biển một số lớn nô lệ. Hắn bán rẻ, như một người biết mình đủ sức đủ phương tiện để mau chóng cung cấp thêm hàng, mỗi khi thứ hàng ấy trở nên khan hiếm.

Thuyền trưởng Lơ-đu cho người chèo vào bờ, tới thăm Ta-măng-gô. Ông thấy hắn trong một túp lều rơm người ta vội vã dựng cho hắn, cùng hai bà vợ và mấy tay buôn phụ, mấy tay áp giải nô lệ. Ta-măng-gô đã diện để tiếp vị thuyền trưởng da trắng. Hắn mặc một chiếc áo đồng phục xanh cũ, còn nguyên lon cai. Nhưng trên mỗi vai lại lủng lẳng hai cầu vai kim tuyến buộc chung một khuy, cái đung đưa đằng trước, cái đung đưa đằng sau. Hắn không mặc sơ mi, mà chiếc áo lại hơi ngắn so với vóc người hắn, nên giữa hai vạt áo trắng với chiếc quần đùi vải Ghi-nê lộ ra một khoảng da đen khá rộng, trông như một cái thắt lưng bản to. Một thanh gươm kỵ binh dài đeo bên hông bằng một sợi dây thừng, tay hắn cầm một khẩu súng hai nòng đẹp do Anh chế tạo. Trang phục như thế, chiến binh châu Phi tin rằng mình còn bảnh hơn cả những công tử ăn diện nhất ở Pa-ri hay Luân Đôn.

Thuyền trưởng Lơ-đu lặng lẽ ngắm hắn một lúc. Còn Ta-măng-gô thì ưỡn ngực như người lính phóng lựu đi duyệt binh trước một vị tướng nước ngoài, khoái chí với ấn tượng hắn tưởng đang gây ra cho người da trắng. Ngắm kỹ xong bằng con mắt sành sỏi, Lơ-đu quay sang người phó, nói:

— Đây là một thằng cha mà tôi bán được ít nhất ba nghìn quan, nếu đưa tới Ma-ti-ních lành lặn, không sứt mẻ gì.

Người ta ngồi xuống. Một thuỷ thủ biết chút tiếng Uô-lốp làm thông ngôn. Chào hỏi xong, một chú bé hầu tàu mang tới một giỏ chai rượu mạnh. Người ta uống. Để Ta-măng-gô vui lòng, thuyền trưởng tặng hắn một chiếc bình đựng thuốc súng bằng đồng rất xinh, chạm nổi hình hoàng đế Na-pô-lê-ông. Quà được nhận với lòng biết ơn đúng mực, người ta ra khỏi lều, ngồi dưới bóng mát trước mấy chai rượu, và Ta-măng-gô ra hiệu dẫn ra những nô lệ hắn định bán.

Họ hiện ra thành một hàng dài, thân còng xuống vì mệt mỏi và sợ hãi. Cổ mỗi người kẹp trong một cái chạc gỗ dài gần hai mét, hai đầu chạc nối với nhau sau gáy bằng một thanh gỗ ngang. Khi phải lên đường, một người áp giải vác trên vai cán chạc của người nô lệ đầu tiên. Người này lại vác cán chạc của người đi ngay sau. Người thứ hai vác cán chạc của người thứ ba, và cứ thế. Khi phải dừng lại, người đi đầu cắm mũi nhọn của cán chạc xuống đất, và cả hàng đứng lại. Dễ hiểu là chẳng ai nghĩ tới chuyện chạy trốn, khi trên cổ mang một cây gậy to dài hai mét.

Mỗi nô lệ, đàn ông hay đàn bà, đi qua trước mặt, thuyền trưởng lại nhún vai. Ông chê đàn ông ốm yếu, đàn bà già quá hoặc non quá, rồi phàn nàn rằng giống người da đen đang suy đồi.

— Cái gì cũng xuống cấp, ông nói. Ngày xưa khác hẳn. Đàn bà cao gần mét tám, chỉ bốn người đàn ông là đủ quay tời của cả một chiến hạm để kéo cái neo chính lên.

Thế nhưng vừa chê, ông vừa chọn trước những người khoẻ nhất, đẹp nhất. Số ấy ông có thể trả giá thường. Còn số còn lại thì ông đòi bớt nhiều. Về phần mình, Ta-măng-gô giữ quyền lợi, khoe hàng, nói về chuyện người hiếm, chuyện buôn người nguy hiểm. Cuối cùng hắn đưa ra một cái giá, tôi chẳng rõ bao nhiêu, cho số nô lệ người da trắng muốn chở xuống tàu.

Người thông ngôn vừa dịch lời đề nghị của Ta-măng-gô sang tiếng Pháp, Lơ-đu đã suýt ngã ngửa vì ngạc nhiên và phẫn nộ. Rồi lầm bầm mấy câu chửi thề kinh khủng, ông đứng dậy như muốn cắt đứt mọi chuyện mua bán với một kẻ vô lý đến thế. Ta-măng-gô bèn giữ ông lại, vất vả lắm mới mời được ông ngồi xuống. Một chai mới được mở, cuộc mặc cả lại bắt đầu. Tới lượt người da đen thấy những đề nghị của người da trắng là điên rồ, quá quắt. Hai bên la hét, cãi vã hồi lâu, uống rượu nhiều kinh khủng. Nhưng rượu tác động lên hai bên giao kèo theo hai lối khác hẳn nhau. Người Pháp càng uống càng hạ giá. Người châu Phi càng uống càng nhượng bộ. Thành thử tới khi cạn giỏ rượu thì hai bên thoả thuận được. Mấy súc vải bông xấu, ít thuốc súng, đá lửa, ba thùng rượu mạnh, năm mươi khẩu súng chắp vá được đem đổi lấy một trăm sáu mươi nô lệ. Để chuẩn y giao kèo, thuyền trưởng đập tay vào tay người da đen đã say quá nửa. Lập tức các nô lệ được giao cho thuỷ thủ Pháp. Bọn này vội tháo chạc gỗ cho họ, thay bằng vòng cổ và còng tay bằng sắt. Điều ấy cho thấy rõ văn minh châu Âu hơn hẳn.

Còn lại chừng ba mươi nô lệ. Đó là trẻ con, người già, đàn bà ốm yếu. Tàu đã đầy.

Ta-măng-gô chẳng biết làm gì với số hàng thải ấy, bèn đề nghị bán cho thuyền trưởng, mỗi người một chai rượu. Lời đề nghị thật hấp dẫn. Lơ-đu nhớ lại có lần đi xem hát ở Năng-tơ, ông thấy biết bao người to béo chen vào khu ghế đã chật cứng, thế mà rốt cuộc vẫn ngồi được, vì thân người ta nén lại được. Ông lấy hai mươi người gầy nhất trong ba mươi người.

Bấy giờ Ta-măng-gô chỉ đòi mỗi người một ly rượu cho mười người còn lại. Lơ-đu ngẫm nghĩ rằng trẻ con đi xe công cộng chỉ trả nửa vé và chiếm nửa chỗ. Ông lấy thêm ba đứa trẻ, nhưng tuyên bố không nhận thêm một người da đen nào nữa. Thấy còn bảy nô lệ trong tay, Ta-măng-gô vớ súng, nhắm vào người đàn bà đứng đầu. Đó là mẹ của ba đứa trẻ.

— Mua đi, hắn bảo người da trắng, không tao giết nó. Một ly rượu nhỏ, không tao bắn.

— Thế quỷ tha ma bắt, mày muốn tao làm gì với nó? Lơ-đu đáp.

Ta-măng-gô bóp cò. Người nô lệ ngã xuống chết.

— Nào, tới đứa khác, Ta-măng-gô kêu, nhắm vào một ông già lụ khụ. Một ly rượu, không thì...

Một bà vợ hắn gạt tay hắn đi, phát súng nổ trật. Bà vừa nhận ra ông già chồng mình sắp giết là một thầy phù thuỷ, người đã có lần đoán bà sẽ làm hoàng hậu.

Rượu đã làm Ta-măng-gô điên tiết. Thấy có người dám trái ý mình, hắn không còn tự chủ nữa. Hắn lấy báng súng đánh vợ một cú thật mạnh, rồi quay sang Lơ-đu:

— Này, tao cho mày con đàn bà này.

Người đàn bà ấy xinh đẹp. Lơ-đu nhìn chị, mỉm cười, rồi nắm lấy tay chị:

— Tôi sẽ tìm được chỗ cho nó.

Người thông ngôn là người tốt bụng. Anh cho Ta-măng-gô một hộp thuốc lá bằng bìa cứng, xin lấy sáu nô lệ còn lại. Anh tháo chạc cho họ, để họ muốn đi đâu thì đi. Họ chạy tán loạn ngay, mỗi người một ngả, chẳng biết làm sao về được quê, ở cách bờ biển mấy trăm dặm.

Trong khi đó, thuyền trưởng chào từ biệt Ta-măng-gô, lo cho chất hàng xuống tàu thật nhanh. Ở lâu trên sông không an toàn, tàu tuần tra có thể quay lại, mà ông muốn nhổ neo ngay hôm sau. Còn Ta-măng-gô thì nằm lăn ra cỏ dưới bóng mát, ngủ cho giã rượu.

Lúc hắn tỉnh dậy, tàu đã giương buồm xuôi dòng. Đầu óc còn nặng trĩu vì cuộc nhậu hôm qua, Ta-măng-gô đòi gặp vợ là Ai-sê. Người ta bảo hắn rằng chị đã không may làm hắn phật ý, và hắn đã đem chị tặng cho thuyền trưởng da trắng, ông ta đã đưa chị xuống tàu. Nghe tin ấy, Ta-măng-gô sững sờ, đập tay lên đầu. Rồi hắn vớ súng. Vì dòng sông còn uốn khúc nhiều lần trước khi đổ ra biển, hắn chạy theo đường tắt tới một cái vịnh nhỏ, cách cửa sông chừng hai cây số. Hắn mong tìm được ở đó một chiếc xuồng để đuổi kịp con tàu, vì những khúc quanh của dòng sông hẳn sẽ làm tàu chậm lại. Hắn đoán không sai. Hắn kịp nhảy xuống một chiếc xuồng và đuổi kịp tàu buôn nô lệ.

Lơ-đu ngạc nhiên thấy hắn, nhưng còn ngạc nhiên hơn khi nghe hắn đòi lại vợ.

— Đã cho thì không lấy lại được, ông đáp, rồi quay lưng đi.

Người da đen nài nỉ, xin trả lại một phần những thứ đã nhận để đổi nô lệ. Thuyền trưởng phá lên cười, bảo Ai-sê là một người đàn bà rất tốt, ông muốn giữ chị lại. Bấy giờ Ta-măng-gô tội nghiệp khóc như mưa, rú lên đau đớn, tiếng rú lanh lảnh như kẻ khốn khổ đang bị mổ xẻ. Lúc thì hắn lăn lộn trên boong gọi Ai-sê yêu dấu, lúc thì hắn đập đầu vào ván tàu như muốn tự tử. Thuyền trưởng vẫn lạnh như tiền, chỉ tay về phía bờ, ra hiệu đã đến lúc hắn phải đi. Nhưng Ta-măng-gô không chịu. Hắn xin dâng cả cầu vai kim tuyến, súng và gươm. Vô ích.

Đang lúc giằng co, viên phó tàu Hy Vọng nói với thuyền trưởng:

— Đêm qua chết mất ba nô lệ, mình có chỗ trống. Sao không bắt luôn cái thằng khoẻ mạnh này, một mình nó đáng giá hơn cả ba đứa chết?

Lơ-đu ngẫm nghĩ. Ta-măng-gô bán được ba nghìn quan là ít. Chuyến đi này hứa hẹn lời to, có lẽ sẽ là chuyến cuối của ông. Rốt cuộc gia tài đã đủ, ông sắp bỏ nghề buôn nô lệ, thì việc để lại tiếng tốt hay tiếng xấu ở bờ biển Ghi-nê có hề gì. Vả lại bờ biển vắng ngắt, chiến binh châu Phi hoàn toàn nằm trong tay ông. Chỉ còn phải tước vũ khí của hắn, vì đụng vào hắn khi hắn còn cầm khí giới thì nguy hiểm.

Thế là Lơ-đu hỏi mượn khẩu súng của hắn, như để xem nó có đáng giá bằng cô Ai-sê xinh đẹp không. Lúc bấm thử cò, ông khéo léo trút hết thuốc mồi. Viên phó thì cầm thanh gươm lên ngắm nghía. Thế là Ta-măng-gô bị tước hết vũ khí. Hai thuỷ thủ lực lưỡng nhào vào, vật ngửa hắn ra, bắt đầu trói. Người da đen chống cự anh hùng. Hết bàng hoàng lúc đầu, dù thế yếu, hắn vẫn vật lộn hồi lâu với hai thuỷ thủ. Nhờ sức khoẻ phi thường, hắn đứng dậy được. Một quả đấm của hắn làm gã đang túm cổ áo hắn ngã gục. Hắn để lại một mảnh áo trong tay gã kia, rồi lao như điên vào viên phó định giật thanh gươm. Viên phó chém trúng đầu hắn, vết thương rộng nhưng không sâu. Ta-măng-gô ngã lần thứ hai. Lập tức người ta trói chặt chân tay hắn. Trong lúc chống cự, hắn gầm thét giận dữ, quẫy đạp như con lợn rừng mắc lưới. Nhưng khi thấy chống cự là vô ích, hắn nhắm mắt lại, không cựa quậy nữa. Chỉ có hơi thở mạnh và dồn dập cho thấy hắn còn sống.

— Chà! thuyền trưởng Lơ-đu kêu lên. Bọn da đen nó bán sẽ được một trận cười no khi thấy tới lượt nó làm nô lệ. Phen này thì chúng thấy rõ là có trời có đất.

Trong khi đó, Ta-măng-gô tội nghiệp máu chảy lênh láng.

Người thông ngôn tốt bụng, người hôm qua đã cứu mạng sáu nô lệ, lại gần hắn, băng vết thương và nói với hắn mấy lời an ủi. Anh nói được gì, tôi không biết. Người da đen nằm im như cái xác. Hai thuỷ thủ phải khiêng hắn như khiêng một bọc hàng xuống hầm tàu, tới chỗ dành cho hắn. Suốt hai ngày, hắn không ăn không uống, cũng hầu như không mở mắt. Những bạn tù, những kẻ ngày trước là tù binh của hắn, sững sờ ngây dại khi thấy hắn xuất hiện giữa họ. Họ vẫn còn sợ hắn tới mức không một ai dám sỉ nhục cảnh khốn cùng của kẻ đã gây ra cảnh khốn cùng cho họ.

— Hết chương 1 —

Mục lục Ta-măng-gô

  1. 1Chuyến hàng gỗ mun15 phút
  2. 2Cuộc nổi dậy trên tàu Hy VọngĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảProsper Mérimée (1803 – 1870)
Năm mất1870
Xuất bản lần đầu1829
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Tamango, 1829
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →