Truyện Đỉnh

📚 Tiểu thuyết theo chương

Tài mạng tương đố — Phần 1

Tài mạng tương đố · Chương 1/10 · của Nguyễn Chánh Sắt

⏱ 19 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 21.046 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:03Tiết sang trùng-cửu, thời đến mộ-thu, mận nãy chồi…
  2. 1:14Trong một cảnh nhà rất có vẻ phong-lưu như…
  3. 2:36Chẳng những vậy mà thôi, phần thì ông Đổ-khắc-Thời…
  4. 5:30Gần đó lại có quan phủ đương quyền, tên…
  5. 7:10Từ ngày Lệ-Dung vào ở đợ nơi nhà quan…
  6. 14:12Mộ-Trinh nghe nói dứt lời mặt có sắc buồn,…
  7. 18:40Té ra người rủi-ro ấy tuy là tóc-tai xụ-xợp,…

Phần 1

Tiết sang trùng-cửu, thời đến mộ-thu, mận nãy chồi sương, non quay bóng nhạn, lải rải sân ngô rơi lá bạc, le the giạu cúc trổ bông vàng. Lúc bấy giờ, đương buổi đêm thanh gió mát, lại thêm trăng tỏ làu làu, gặp cảnh tượng như vầy, những khách phong-lưu, ai là người không mượn lấy chén rượu với chung trà mà vui vầy cùng bạn tác.

Nhưng, cũng thì là đêm thanh gió mát, mà người vầy kẻ khác, thật cảnh cũng khéo chìu người; bỡi vậy cho nên, cũng đồng một trời một đất, một gió một trăng, mà người vui-vẻ, kẻ nhố-nhăn, mỗi người riêng mổi cảnh.

Ấy là: Người vui ngắm cảnh thêm vui, người buồn ngắm cảnh lại xui lòng buồn.

Trong một khoảnh vườn kia, phương viên độ chừng một mẫu, cam quít sum sê, bưởi bòng thạnh mậu; phía trước có một hàng dừa suôn đuột, phía sau thêm mấy bụi trúc xanh um; chính giữa có một tòa nhà ngói 5 căn, vì cất đã lâu năm, cho nên gạch ngói cũ mèm, vừa ngó thấy thì đã biết đó là một cảnh nhà giàu xưa vậy.

Nhưng mà, nhà tuy đã cũ, song cách ở ăn vén khéo, trong ngoài sau trước sạch sẻ chẳng ai bằng. Trước sân có trồng đủ các thứ danh-hoa, có ao nuôi cá, có chỗ rộng chim, có hồ thả sen, có hòn non bộ. Những khách qua lại ngoài đường, hễ vừa ghé mắt trông vào, tuy chẳng đợi hỏi ai, mà cũng biết người ở trong nhà ấy hẳn ắt là một tay hào-hoa phong-nhả.

Trong một cảnh nhà rất có vẻ phong-lưu như vậy, mà sao trong đấy lại có một người trai-tơ trạt chừng hai mươi ngoài tuổi, hình-dung thãm đạm, áo nảo âu sầu, xem ra dường như có cái tâm-sự gì mà ưu-uất lắm vậy.

Nguyên nhà nầy là nhà của một ông cựu nho kia tên là Đổ-khắc-Thới, vợ ông là Đoàn-thị, ở tại Chợ-gạo thuộc về tĩnh Mytho cách tĩnh thành chừng 12 cây số (12 kilomètres); nhà ông giàu có đã nhiều đời, lại thêm ông là người thanh-bạch, đạo đức hoàn toàn, cho nên tự quan chí dân người người đều kính phục.

Còn người trai-tơ mới nói trước kia vẩn là con của ông, tên chàng là Đổ-khắc-Xương, tuổi vừa 24 xuân-thu, thông minh dỉnh huệ, tài trí quá nhân, diện-mạo khôi ngô, hình-dung tuấn nhả; nho-học đã thông mà tây-học lại thêm lội lạc. Ay rõ ràng là: Nền phú hậu, bực tài danh, văn chương nét đất, thông minh tánh trời.

Vì thế mà có nhiều nhà hào-hộ phú-gia, đều gấm ghé muốn làm suôi với ông; nhưng mà, ông là người lịch duợt thế-tình, cho nên những kẻ muốn làm suôi với ông, tuy là nhà giàu rân rát mặc dầu, mà ông cũng chẳng ham, vì ông đã biết rõ những hạng người ấy đều là kẻ tham phú phụ bần, xu quyền phụ thế, nên ông khinh bỉ mà chẳng chịu hứa lời, cứ ừ hử gọi là, cho qua ngày qua buổi.

Còn Đổ-khắc-Xương, học hành tuy giỏi, mà bị câu: Tài bất thắng thời, cho nên chàng học tại trường Bổn-quốc 5 năm, những bạn học một lớp với chàng, ai ai cũng nể mặt. Ngặt vì ông xanh hay gay gắt, tài mạng chẳng ưa nhau, sức chàng học tuy cao, mà thi hai khoa đều hỏng.

Chẳng những vậy mà thôi, phần thì ông Đổ-khắc-Thời là người đạo-đức, lại thêm tánh tình hào hiệp, lòng dạ khoan nhơn, xem bạc tiền như đất, trọng nhơn nghĩa hơn vàng; những kẻ nghèo mắc nợ của ông mà trả không nổi, ông cũng chẳng nỡ đòi; còn tá-điền rủi bị thất mùa không lúa ruộng mà đong, ông đã không làm khổ khắc là may, lại còn đong lúa nhà giúp thêm cho đủ no mà chờ mùa tới. Những kẻ cùng khổ trong làng, rủi có đau mà chết, ông lại bố thí quách quan, hoặc giúp thêm bạc tiền mà chôn cất. Mỗi khi có tai trời ách nước, những kẻ rủi vì bão lụt mà phải đói rách khốn cùng, thì ông cũng chẳng tiếc bạc ngàn, đem ra mà tế cấp.

Nhưng bỡi tánh ông từ-thiện, chẳng hay khổ khắc và sâu mọt của ai, mà ông chỉ cứ bố thí ra hoài; số thâu thì ít, số xuất thì nhiều, lại thêm luôn mãi 4 năm trời, mùa màng thất bát, cho nên gia-vận phải suy vi, lần lần ruộng đất tiêu mòn, chỉ còn tròi trọi có một cái nhà ngói năm căn với một mẫu vườn, huê-lợi chẳng bao nhiêu, mà tánh ông huy hoát đã quen, cho nên bề nhựt dụng tài nào mà không hụt. — Thật là lời thầy Mạnh nói chẳng lầm: hễ vi phú thì bất nhơn, mà vi nhơn thì bất phú.

Lúc bấy giờ, gia đạo của ông tuy đã suy vi, song ông cũng khăn khắn một lòng, cứ lấy chữ thanh bần mà làm gốc.

Ngày kia ông đang xơi nước với bà, bổng thấy tên lính trạm ngoài ngỏ bước vào, chấp tay xá ông rồi trao cho ông một phong thơ; việc tình cờ nên không biết là thơ của ai, đến khi mở ra xem hết đầu đuôi thì mới rõ là thơ của một người bạn-hữu của ông tên là Hoàng-hữu-Tâm đang làm thầu-khoán (Entrepreneur) ở Bắc-kỳ; Ông nầy vốn là người Vinhlong, trước kia vẫn có giúp việc cho nhà-nước Đại-pháp, làm đến chức Thông-phán, đổi ra Bắc-kỳ đâu được ít năm, nhằm lúc Chánh-phủ đặt đường xe lửa từ Hà-nội qua Vân-nam, ông bèn xin từ chức, ra làm nghề thầu-khoán. đứng đấu giá bao lãnh nạp cây cho nhà-nước làm đà xe-lửa và lãnh đổ đá sỏi trải đường; lần lần như vậy ít năm, bề sanh-kế của ông rất nên phát đạt. Mà thường những kẻ có chí dinh thương, hễ may mà gặp vận rồi thì cuộc thương-mải khoán trương rất chóng. Ngặt vì ông còn thiếu người tin cậy mà phú thát những việc lớn-lao. Nay ông nghe ông bạn của ông là Đỗ-khắc-Thới ở trong Nam-kỳ, tại tĩnh Mỷ-tho, vì thất mùa luôn trọn 4 năm, làm cho gia-vận phải suy vi, không còn có thế chi mà duy trì cho nổi nữa. Nhưng ông vẫn biết ông Đỗ-khắc-Thới tuy là người bên phái nho-học mặc dầu, song nhờ có ưa xem ưa đọc những tân-thơ; lại hay chuyên tâm nghiện cứu về môn khoán-vật-học (Minéralogie). Vã lại ông dòm thấy Bắc-kỳ là một giãi đất tối cổ, lâm-sản nhiều mà khoán-sản cũng nhiều, nên ông mới viết thơ mời ông Đỗ-khắc-Thới ra, trước là cho anh em được gần-gủi với nhau, sau là cho có người đồng chí với mình mà giản cứu về nghề khai khoán.

Còn ông Đỗ-khắc-Thới khi xem thơ rồi thì có ý mừng thầm, vì bấy lâu ông vẫn có chí muốn du-lịch Bắc-kỳ mà chưa đi được; nay sẵn gặp dịp tốt như vầy mà chẳng tính đi chớ còn đợi lúc nào. Ông nhứt định như vậy, bèn lo sắp đặt việc nhà đâu đó an bài, rồi từ giã vợ con mà đi ra Bắc. Đỗ-khắc-Xương theo đưa cha lên tới Saigon, đến khi ông xuống tàu rồi chàng mới trở về nhà, hủ hỉ sớm trưa với mẹ.

Gần đó lại có quan phủ đương quyền, tên là Từ-thế-Anh, ngồi Chủ-quận tại đó, vợ là Nguyễn-thị, sanh được một gái, tên là Từ-mộ-Trinh, mới 18 tuổi mà hình dung yểu điệu, cốt cách phương phi, gương mặt chữ điền, chơn mày vòng nguyệt, gót chơn cô đỏ như thoa son, ngón tay cô tròn như roi trống, cổ cô đã nhỏ, vai cô lại xuôi; hàm răng của cô đều-đặn như cưa, gò-má của cô có núng đồng tiền tròn ủm; càng xem lâu chừng nào thì lại càng thấy cái sắc đẹp của cô như một đóa phù-dung.

Cô đã có cái vẽ xinh-đẹp như thế, mà cô lại còn thêm có khiếu thông minh; học chữ cũng hay, học đờn cũng giỏi, họa tranh cũng đúng, cờ tướng cũng tài; gia dĩ dung hạnh đoan trang, ngôn từ nghiêm chánh. Hai ông bà câng cô như trứng mỏng, mà cô chẳng hề đỏng đảnh như những gái tầm thường; mỗi khi cô có cần dùng đều chi mà sai khiến kẻ ở trong nhà, thì cô nói cái giọng rất ngọt ngào, ai nghe tới cũng êm tai mát dạ. Bỡi cô là một người con gái sắc tài gồm đủ, đức hạnh vẹn hai, cho nên tự trong tới ngoài, xa gần đều nức tiếng.

Cô lại có một nàng tỷ-tấc, tên là Trần-lệ-Dung, mới 17 tuổi mà dung nhan sắc-sảo, tánh nết nhu-hòa; lại thêm có khiếu thông-minh, bề học-thức sánh với cô cũng xấp-xỉ.

(Nguyên Trần-lệ-Dung nầy cũng là con nhà thi-lễ, dòng dỏi thơ-hương; nhưng rủi vì cha mẹ nàng mất sớm, không ai bảo thủ gia-nghiệp cho nàng, bị những kẻ bất-lương nó mạo xưng rằng chú chú, cô cô, kẻ khuân món nầy, người đoạt món kia, làm cho sự-nghiệp tiêu điều, nàng phải ra thân tất-tưởi; lại còn bị một bà cô bạc-ác, thấy nàng còn nhỏ dại, bắt nàng đam đợ phứt cho quan phủ Từ-thế-Anh. Thiệt là độc địa bấy cao-xanh, xưa nay những kẻ có tài-tình, ắt chẳng khỏi bị Hóa-công đày đọa.

Ấy là: Bắt phong-trần phải phong-trần, cho thanh-cao mới được phần thanh-cao.

Từ ngày Lệ-Dung vào ở đợ nơi nhà quan Phủ, ban đầu thì nàng cũng phải châm lo làm lụn các việc hèn hạ, như là rửa chén, bửa củi, quét nhà, theo phận tôi đòi ở nơi nhà dưới. Sau lần lần bà phủ thấy nàng dung nhan mỹ lệ, cử chỉ đoan trang, ăn nói đàng hoàn, nết na đầm thấm; bà mới đem lòng thương, bèn bảo nàng lên ở nhà trên, giúp đỡ việc thêu thùa với con bà là nàng Từ-mộ-Trinh sớm trưa cho có bạn. Mà thường những con nhà có giáo-dục dầu gì cũng dễ chịu, bỡi vậy cho nên, tuy Lệ-Dung đã được lên ở nhà trên mà bậu bạn với Mộ-Trinh thì mặc dầu, song nàng cũng cứ giữ phận tôi-đòi; không thêu-tỉu cũng vá-may, ngày chí tối chẳng hề dám để hở cái tay trong giây phút.

Lần lần đầu lạ sau quen, Từ-mộ-Trinh biết rõ lai-lịch của nàng vốn là dòng dỏi thơ-hương, thi họa cầm kỳ, nghề nào cũng thạo; từ đó đến sau, lúc đua nghề vẽ, lúc lại đánh cờ, hoặc đàm luận thế-tình, chị em ý hiệp tâm đầu, lấy làm tương đắc. Bà phủ thấy vậy lại càng cắp-củm mừng thầm, cho nên tuy Lệ-Dung là tôi-tớ của bà, mà bỡi bà yêu vì nết, trọng vì tài; cách đối-đãi bà xem nàng cũng như con ruột.

Bà lại nhơn thấy con của bà, phận tuy là gái, mà thông minh tuyệt thế, kiến-thức quá nhơn; cho nên bà đã lập tâm, quyết kiếm cho được một người giai-tế, tài mạo lưỡng toàn, thì bà mới chịu gả nàng cho xứng đôi vừa lứa.

Mà bỡi Từ-mộ-Trinh là con nhà sang trọng, đã có tài lại thêm có sắc; cho nên thiếu chi nhà hào-hộ danh-gia, nay có con quan phủ nầy mai có con quan huyện kia, hoặc con ông Hội-đồng, hoặc con thầy Cai-tổng, biết bao người muốn đến cầu hôn. Ngặt vì mấy cậu công-tử nầy tuy là nhà-cữa giàu sang, mà cậu thì có tài lại không có mạo, còn cậu thì có mạo lại chẳng có tài; vì vậy mà chẳng những là bà phủ đã chẳng vừa lòng, mà Từ-mộ-Trinh cũng không đẹp ý.

Một đêm kia hai chị em đương ngồi trong buồng mà thêu với nhau, Từ-mộ-Trinh vùng vổ vai Trần-lệ-Dung mà nói rằng: «Nầy em, từ ngày chị gặp được em đến nay, đôi ta ý hiệp tâm đầu, thiệt rõ ràng em là Khuê-trung lương-hữu của chị đó. Bỡi vậy cho nên chị hằng tin cậy em như ruột thịt vậy, chẳng có việc gì mà chị không nói thiệt cùng em; vậy sẵn lúc nầy đêm vắng canh khuya, để chị tỏ hết cái tâm-sự của chị cho em nghe, hoặc là em có cái kiến-thức chi cao mà luận bàn cho nó hã cái lòng uất-ức của chị được chăng. Vã con người ta ở đời là trọng vì tài đức, chớ không phải trọng lấy bạc tiền, mà sao chị coi cái nhơn-tình buổi nầy phần nhiều họ hay trọng cái sự giàu sang trước mắt, mà họ không biết dè-dặc cái đều nguy hiểm sau lưng. Bỡi vậy cho nên có nhiều nhà đã có phước mà sanh con gái được hình dung xinh đẹp, đức hạnh lại hoàn-toàn; đến lớn khôn họ lại không biết kén chọn rể hiền, cũng như châu-chấu thấy sáng đèn, hễ nghe giàu sang thì gả bướn. Đó! Em nghĩ lấy đó em coi, như may mà gặp được kẻ biết đều, thì dầu có dốt cũng còn dễ chịu; nếu rủi mà đụng nhằm mấy tay công-tữ-bột, thì ôi thôi! Thôi còn chi nữa mà mong, đời người đến thế là xong một đời! Bỡi nghĩ vậy, cho nên chị đã thệ tâm, nguyện cùng trời đất, quyết chọn cho được một người tài mạo lưỡng toàn, đức hạnh gốm đủ, thì chị mới đành gởi phận trao thân. Bằng chẳng vậy, thôi thì thà là ở vậy mà hủ hỉ với em đây còn hay hơn là thất thân với những kẻ phàm-phu tục-tử. Nhưng, chị trộm xem cái ý của mẹ chị thì cũng đồng như chị vậy, duy còn cha chị thì chị chưa dò biết được cái ý của người ra thể nào. Ngặt những cậu cô chú bác của chị, có nhiều người hay trọng vì cái thế-lực kim-tiền; nên thường hay tới lui bàn luận với cha mẹ chị, bảo cha mẹ chị phải lựa cho được những chỗ quyền cao tước trọng, hoặc là giàu sang cho tột bực thế-gian thì sẽ làm suôi, để phòng ngày sau cho có chỗ mà tương y tương ỷ với nhau trong khi huởn cấp. Thiệt chị thấy những lời của mấy người ấy bàn luận mà chị bắt lạnh mình. Em ôi! Sang giàu mà chi? Thế-lực mà chi? Nếu giàu sang mà thất đức, có thế lực mà bất nhân, gian manh tham nhủng, sâu mọt của dân; thì cái giàu sang ấy, cái thế-lực ấy có khác chi hơn là hòn núi tuyết; nếu gặp mặt trời có yến sáng chiếu vào, thì ắt tiêu tang trong nháy mắt. Đã biết vậy, nhưng chị lại lo vì cha chị tuy là người có học-thức, người trong đám cân-đai thì mặc dầu, mà hễ nếu mấy người ấy họ tới lui to nhỏ, giọng quyển tiếng kèn, kẻ đờn người thổi mãi riết đây rồi; vạn nhứt cha chị cũng lầm nghe theo họ mà sa vào cái vòng thế-lực kim-tiền rồi; còn chị đây lại là phận làm con, xưa nay dễ áo mặc qua khỏi đầu; chừng ấy mới tránh sao cho khỏi. Bỡi thế cho nên chị rất lo sợ cho cái tiền-đồ của chị, không biết sau nầy duyên phận thể nào? Cho nên: Một mình lưỡng lự canh chầy, đường xa nghĩ nỗi sau nầy mà kinh...» Lệ-Dung đương thêu, nghe nói tới đó vùng ngừng kim lại, nhìn sửng Mộ-Trinh rồi mĩn cười mà nói rằng: «Thiệt bấy lâu em không nghe chị nói đến, nên em cũng chẳng dám hở môi; chớ như nay chị đã tin em mà tỏ thiệt cái tâm-sự của chị ra rồi, thì em đi há chẳng hết lòng với chị mà đền ơn tri-ngộ hay sao? Vã buổi nầy những đấng tài tình thì ít, còn những phường công-tử-bột thì nhiều; nếu mình chẳng biết khéo toan năm lọc mười lừa, để cho rủi mà sa nhằm trong tay bọn ấy đi rồi thì ối thôi! Phẩm tiên rơi đến tay hèn, hoài công nắng giữ mưa gìn với ai. Nhưng em lại nghĩ, tài sắc như chị vậy thì có lo chi là không nơi giàu-có sang-trọng mà sánh đôi. Ngặt em e vì trong hạn người ấy phần nhiều thường có những người giàu sang trong trứng mà giàu ra, nên hễ họ thấy có của sẵn thì cứ việc ăn xài, lảng phí chơi bời; chớ họ có biết cái công-lao khó nhọc của ông cha xưa đã tươm hết bao nhiêu mồ-hôi máu mới có cái sự-nghiệp ấy đâu. Mà cái cách của họ xài là xài với những bọn buôn hương bán phấn, xài với những phe tửu-điếm trà-đình, dầu hao tốn bạc muôn cũng không biết ngán; chớ chẳng hề thấy họ làm đều chi hữu ích cho Xả-hội được nhờ. Những hạng người như vậy thì chị em mình đây có thế nào mà chịu cho nổi được; phải không chị?» Mộ-Trinh và gặt đầu và cười. Lệ-Dung lại nói tiếp theo rằng: «Còn như bây giờ mà muốn kiếm cho được một người hiền-lương phương-chánh, tài-đức vẹn toàn, xứng đáng cho mình sửa trắp nưng khăn, thì xin chị chớ có luận tới cái sự sang hèn giàu khó, chị nghĩ sao?» Mộ-Trinh gặt đầu khen phải, rồi bước lại gần vổ vai Lệ-Dung, chúm-chím miệng cười và nói rằng: «Quí hóa thay cái lời của em luận đó, ấy rõ ràng là kim thạch chi ngôn, thiệt chị không bì kịp. Nhưng mà, cái hạng người giàu-sang thì dễ có, chớ cái hạng người tài-đức thì rất khó mà kiếm cho được lắm em.» Lệ-Dung nói: «Có chớ, sao không? Rất đổi là thập thấc chi ấp còn tấc hữu trung-tín thay! Huống chi là cả xứ Nam-Kỳ nầy lại chẳng có người tài-đức sao chị; duy có sợ e cho mình phước bạc mà chẳng gặp được đó mà thôi chớ! Nầy chị, nay chị em mình đã thấy rõ lòng dạ nhau rồi, nên em cũng chẳng còn giấu-giếm nhau nữa làm chi; vì thuở em còn bé, cha em có dạy em học phép xem tài-tướng, đến khi em lớn lên rồi, em cũng thường thử cái sở-học của em, quả là tướng-pháp như thần, lũ thí lũ nghiệm, em cũng chẳng nói phách với chị làm chi; thiệt nghề xem tướng của em, mười người không sai một, đa chị à. Từ ngày em mông ơn tri-ngộ của chị đến nay, em hằng cạnh cạnh nơi lòng; nên em đã lấy hết bình-sanh sở học của em ra, ý muốn tìm giùm cho chị môt người chồng cho được phẩm-hạnh đoan trang, cho xứng đáng mà trao thân gởi phận; nay em tìm đã được rồi, song em không biết ý chị thể nào, nên em chưa dám nói cho chị rõ.» Mộ-Trinh nghe nói có ý thẹn thầm, bèn cười lỏn-lẻn mà nói bởn với Lệ-Dung rằng: «Nếu Thuật-sĩ coi tướng thiệt hay, thì ngày sau tôi sẽ thưởng; song chưa biết người ấy là người thế nào, ở gần hay xa, Thuật-sĩ có cho tôi biết được hay chăng?» Lệ-Dung cũng mĩn cười mà ngâm rằng: «Nguyên người quanh-quất đâu xa, Khắc-Xương họ Đổ vốn nhà thơ-hương.»

Mộ-Trinh nghe nói dứt lời mặt có sắc buồn, bèn nói rằng: «Tưởng là ai kìa, chớ như người ấy, chị vẫn có nghe danh đã lâu, thiệt là con nhà đạo-đức, dòng-dỏi thơ-hương, tài học của chàng cũng chẳng phải tầm thường; nhưng mà. trong mấy năm nay, cha mẹ chàng gia-đạo đã suy vi, lại thêm rủi cho chàng, vì vận chưa đạt mà công-danh lở-dở. Nếu nay mà em muốn cho chị kết tóc với chàng thì chị lại e bất tiện lắm em.» Lệ-Dung nghe Mộ-Trinh nói vừa dứt lời, liền nghiêm nét mặt mà nói rằng: «Ủa! chị là người học-thức, mà cũng chưa thoát khỏi cái tình-đời nữa sao? Em dám đoan với chị, nếu người ấy mà nghèo hoài, thì em quyết khoét cặp con mắt mà quăng, chớ chẳng thèm coi tướng nữa đa chị à!» Mộ-Trinh lắc đầu mà đáp lại một cách rất buồn rằng: «Đã đãi nhau là tình tri-kỷ, ý khí tương đầu, mà em cũng còn tưởng cho chị là kẻ tham phú phụ bần nữa sao em? Vậy chớ cái lời của chị mới nói với em khi nảy đó, em đã quên rồi hay sao?? Vì trong hàng cô bác của chị thì có nhiều người tánh hay trọng phú khinh bần, lại hay nói ra nói vào với cha mẹ chị; nên hễ họ biết chàng nghèo, thì chi cho khỏi họ kiếm đều gàn trở cha chị mãi đi rồi thì có phải là bất tiện chăng em? Huống chi chị là phận làm con, dầu khi lá thấm chỉ hồng, nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha. Vã lại mình cũng chưa rõ được nông-nỗi bên nhà ấy là thể nào, chẳng qua là mình mới tính phỏng với nhau đây mà nghe vậy thôi; chớ em lấy chi mà làm chắc? Thoản như mình thì hữu ý, mà người ta lại vô tâm, chừng ấy em mới tính sao?» Lệ-Dung lại mĩn cười mà đáp rằng: «Việc ấy có khó chi, nếu quả chị mà trọng vì tài đức, chớ chẳng luận sự giàu nghèo, thì em cũng có thể điều đình cho an thỏa được; em chỉ e là e cho chị chí chẳng được bền đó mà thôi, chớ nếu cái chí đã quả quyết, đã bền chặc rồi; thì dầu sanh tử ai mà đoạt được.» Mộ-Trinh tuy cũng cho lời luận của Lệ-Dung rằng phải, song nàng là con chi hiếu, không biết về sau cha mình có chìu theo ý mình chăng; cho nên nàng hằng ngại ngại trong lòng, không biết cái việc tương lai của mình sau nầy may rủi thể nào, nên cũng nhắm mắt đưa chơn tới đâu hay đó.

Một buổi sớm mai kia, chiếc đò ngang đưa bộ-hành nơi sông Mỷ, chở hành-khách khẩm mèm, lại nhằm lúc nước rông chảy mạnh; đò vừa qua được nửa sông, thình lình đâu lại có một tốp ghe-chài chở nặng, ở ngoài đại-giang thả thẳng vô vàm, gần đụng chiếc đò; lúc bất cập, tên chèo đò lính-quýnh, để cho chiếc đò nằm cảng ngang trước mũi ghe chài, nên phải nghiêng úp. Đò chìm rồi, bao nhiêu hành-khách kẻ la người khóc, hụp hưởi dưới sông. Trên ghe chài ai nấy hoảng kinh, liền la ó om sòm, lớp thì chèo, lớp thì sào, ném đại xuống sông cho mấy người ấy đeo, rồi mới thả tam bản xuống bơi theo mà vớt. Trên bờ thiên-hạ cũng lao-xao, hối thúc nhau bơi xuồng ra tiếp cứu.

Đương lúc rộn-ràng như vậy, hai bên bờ sông ai nấy cũng đều cứ châm chỉ ngó ngay theo lối chỗ đò chìm. Không dè cách đó độ chừng một trăm ngoài thước, lại thấy một người còn ló có hai bàn tay, chới với giữa dòng, hụp lên hụp xuống. Thoạt đâu trong bờ lại có một người trai-tơ, ôm một tấm ván lội ra, vừa tới nơi thì hai bàn tay ấy đà hụp mất. Người trai ấy thất kinh, liền buôn tấm ván lặn nhầu theo, may sao vớ được cánh tay, bèn ráng sức kéo nhóng lên cho cái đầu vừa khỏi mặt nước, rồi hụp xuống, hai tay xóc ngang nách người ấy giơ nhóng lên, còn hai chơn chòi đạp, quyết lội vào bờ. Chẳng dè hai tay thì mắc hết, chỉ còn có hai cái chơn thì lội sao cho mạnh được, phần thì nước rông chảy mạnh, thật khó nổi duy trì, trong giây phút người trai-tơ ấy sức cũng đà muốn đuối. May nhờ có xuồng ghe trong bờ bơi ra tiếp cứu; nếu không, thì ắt cả hai đều hồn nương vầng mây bạc, xát theo ngọn thủy-triều rồi. Nguy hiểm thay!

Khi đem vô tới bực rồi, ai nấy xúm lại coi, mới biết là một nàng con-gái, tuy còn hơi hoi hóp, song đã bất tỉnh nhơn sự rồi. Người trai ấy cũng phải ra sức bồng thẳng lên bờ, những kẻ hảo tâm thấy vậy, liền lấy chiếu trải ra, để nàng nằm êm, lấy rượu cỏ-nhác mà đổ cho nàng, rồi lại rủ nhau vầy lửa xúm hơ, trong giây phút thì nàng ấy mới lần lần tỉnh lại.

Còn đàng kia, chiếc tam-bản đã vớt được mấy người hành-khách mà chở vào bờ rồi, trong đó lại có một cô con-gái mặt mày dớn-dác, dường như tìm kiếm vật chi, xem trước ngó sau một hồi rồi vùng khóc rống lên và nói rằng: «Trời đất ôi! Còn chị tôi đâu không thấy? Hay là chị tôi đã chìm mất đi rồi! Mấy chú ôi! Xin mấy chú làm phước lặn mò kiếm vớt giùm chị tôi với mấy chú ôi!!» Ai nấy nghe nói hổi ôi, còn đang bối rối, chưa biết tính lẽ nào, bổng nghe mấy người trên bờ kêu cô gái ấy mà nói rằng: «Kia cà! Phía đàng kia người ta cũng vớt được một người con-gái kia cà!! Cô hãy lại đó nhìn coi, có phải chị cô hay chăng?» Nàng ấy nghe nói nửa mừng nửa nghi, liền vội vả chạy lại, vừa thấy mặt mày, hai người liền ôm nhau, khóc lở khóc, cười lở cười, ấm ức nghẹn ngào nói không ra tiếng.

Té ra người rủi-ro ấy tuy là tóc-tai xụ-xợp, quần áo ướt dầm, mặt mủi tái xanh, tay chơn rung rẩy mặc dầu, song nhìn rõ lại thì chẳng phải ai đâu lạ; thật rõ ràng là một cô thiếu-nữ cực kỳ xinh đẹp, cực kỳ thông minh, đứng chánh vai tuồng trong bộ sách nầy, tên cô là Từ-mộ-Trinh đây. Còn cô con-gái khóc vang khi nãy đó, chẳng cần nói mà khán-quan cũng biết là nàng Trần-lệ-Dung, chớ không ai vô đó.

(Nguyên vì ngày ấy nơi nhà quan phủ gần ngày kỵ cơm, nên bà Phủ mới sai hai chị em cô đi chợ mua đồ, không dè lại bị sự rủi ro như vậy.

Còn người trai-tơ mà liều mình lội ra cứu được Mộ-Trinh đó là Đổ-khắc-Xương, vì ngày ấy chàng-ta cũng đến tĩnh-thành đặng có mua cò mà gởi thơ ra Bắc; ai ngờ lại gặp dịp mà cứu nàng; ấy chẳng phải là việc tình cờ, tưởng khi hai đàng cũng có tiền-duyên túc-trái chi đây, nên mới khiến cho gặp gở nhau trong cơn nguy-hiểm như vầy mà gây cái mối nhơn-duyên về sau không tránh đâu cho khỏi. Thật rõ ràng là cái ý khéo của Thiên-công, mà hẳn thật hai đàng cũng vương vấn mối tơ tình từ đó.)

— Hết chương 1 —

Mục lục Tài mạng tương đố

  1. 1Phần 119 phút
  2. 2Phần 219 phút
  3. 3Phần 320 phút
  4. 4Phần 419 phút
  5. 5Phần 518 phút
  6. 6Phần 620 phút
  7. 7Phần 719 phút
  8. 8Phần 820 phút
  9. 9Phần 919 phút
  10. 10Phần 1019 phút

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảNguyễn Chánh Sắt (1869 – 1947)
Năm mất1947
Xuất bản lần đầu1926
Tình trạngHết thời hạn bảo hộ quyền tài sản tại Việt Nam từ 01/01/1998
Nguồn văn bảnWikisource tiếng Việt
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →