Truyện Đỉnh

📚 Tiểu thuyết theo chương

Tài mạng tương đố — Phần 3

Tài mạng tương đố · Chương 3/10 · của Nguyễn Chánh Sắt

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 21.813 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:03Khi Lệ-Dung về rồi, chàng Đổ ngồi lại một…
  2. 5:36Thiệt tôi rất cám ơn quan-lớn. Trẻ bây! rót…
  3. 6:19Chẳng hay con ai ở đâu vậy quan-lớn?
  4. 7:07Tuổi còn trai tráng, niên phú lực cường, sao…
  5. 8:46Vã con-gái của mình là một đứa biết đều,…
  6. 9:29Câu tục-diêu người ta hát rằng: Chẳng tham bồ…
  7. 13:57Ngày giờ thấm thoát, lật bật mà đã trót…
  8. 18:13Chị ơi! Xin chị chớ nói làm chi những…

Phần 3

Khi Lệ-Dung về rồi, chàng Đổ ngồi lại một mình giở mấy cái khăn ra xem đi xem lại hoài, trong lòng mừng quá đổi mừng, đến khi chàng nhớ lại cái tánh-tình của quan phủ thì chàng lại giựt mình, vì biết cha chàng là người thanh-bạch, hoặc là ông không chịu làm suôi với quan phủ nầy, rồi mình phận làm con; mới biết liệu sao đây. Một mình suy tới nghĩ lui, rồi lại gặt đầu mà nói rằng: «Ờ! Bây giờ ta mới nhớ lại, lúc cha ta còn ở nhà, mỗi khi người nói chuyện với mẹ ta thì người vẩn thường hay nói câu nầy: «Thiệt là kỳ quá đi mụ, quan chủ-quận của mình đây là Từ-thế-Anh, vẫn là một người tánh tình sâu sắc, kiến lợi vong nghĩa, thiệt là một tay tham phú phụ bần; mà sao người lại sanh được một nàng con gái, nết na hiền hiếu, lại thêm ngôn hạnh đoan trang; ấy mới biết, cây đắng lại sanh trái ngọt, thật rõ ràng lời tục ví chẳng lầm.» Lúc ấy mẹ ta lại đáp rằng: «Hay là tại nàng nhờ cái đức của mẹ nàng chăng, vì tôi có nghe bà phủ nầy là người hiền-đức lắm mà!» Cha ta lại gặt đầu mà nói rằng: «Có khi phải đó.» Như thế thì ta ắt cũng còn có chỗ trông mong kết tóc xe tơ với nàng là nhờ có mấy câu chuyện nầy chăng.» Nghĩ như vậy rồi chàng mới bớt lo, bèn an lòng mà chờ dịp.

Đây nhắc lại việc nàng Lệ-Dung, khi ra về cũng giả ý kiếm một bó lá xông đem về giao cho người đờn-bà nấu ăn dưới bếp, dặn nấu để sôi cho được 10 phút đồng-hồ rồi sẽ bưng lên cho cô hai xông. Dặn xong, bèn trở lên nhà trên bước thẳng vào buồng; Mộ-Trinh vừa ngó thấy Lệ-Dung bước vào thì cười và nói bởn rằng: ««Mèn ơi! Tùy-Hà đi Sứ đã về, thiệt tôi không hay mà viểng tiếp chớ!» Lệ-Dung cũng mĩn cười mà đáp lại rằng: «Mà cũng thật là may, nên mới khỏi nhục kỳ quân-mạng đó chị.» Nói rồi hai chị em lại cười xoà với nhau. Rồi đó Lệ-Dung liền lấy cái gói quạt ra trao cho Mộ-Trinh. Mộ-Trinh tiếp lấy, chưa hiểu thể nào, đến lúc mở ra, thấy đủ các món, bèn làm thinh nhắm nhía và suy nghĩ một hồi, rồi ngó Lệ-Dung miệng cười lỏn-lẻng mà nói rằng: «Nầy em! Chị đã hiểu ý chàng Đổ rồi đây em, còn em nghĩ thể nào?» Lệ-Dung nói: «Thì chị cứ giải rõ cho em nghe, thử coi có hiệp ý-kiến với nhau chăng?» Mộ-Trinh bèn chỉ từ món mà nói với Lệ-Dung rằng: «Nầy em! Đây là sợi giãi, mà chàng lại đề một chữ Đồng nơi phía trong lòng, mà lòng tức là chữ Tâm: ấy là giãi-đồng-tâm đó em, chàng lại lấy sợi giãi nầy mà buộc chặt vào cây quạt. Ấy có phải là chàng quyết kết chặt cái giãi-đồng-tâm, chẳng còn nghi ngờ gì nữa.» Lệ-Dung gặt đầu, miệng cười tủm tỉm. Mộ-Trinh lại sè cây quạt ra, chĩ cho Lệ-Dung coi mà nói rằng: «Nầy là hai nhánh Ngô-đồng, cũng hiểu là hai chữ đồng-tâm. Chí như hai con chim loan và chim phụng mà đâu mỏ với nhau đây, là chàng tỏ ý rằng chàng muốn cho loan phụng hòa minh, đôi lứa sum vầy, trăm năm kết cánh đó, có phải vậy chăng em?» Lệ-Dung cười rằng: «Hay! Thiệt quả là hay!! Chị liệu sự như thần, thiệt không sai một mảy.» Mộ-Trinh lại nói với Lệ-Dung rằng: «Việc tuy thì làm vậy, song chị còn e vị tấc mà chàng biết được rằng chị đã hiểu ý chàng hay chưa. Vậy để chị viết thêm một phong thơ cho chàng chắc ý, và xin em hãy chịu khó với chị một phen nữa mới xong.» Nói rồi liền lấy giấy viết thơ, niêm phong tử tế, trao cho Lê-Dung mà dặn rằng: «Nầy em, hãy đi cho mau rồi về cho chóng em nghé!» Lệ-Dung vâng lời lãnh thơ đi liền.

Đây nói về Chàng Đổ, từ khi trao cây quạt cho Lệ-Dung đem về cho Mộ-Trình rồi, trong lòng thồi thộp chưa biết may rũi thể nào, bổng thấy Lệ-Dung ngoài ngõ bước vào miệng cười chúm-chím tay trao bức thơ và nói rằng: «Chị tôi mong ơn thầy gởi cho cây quạt, nên phải tạm kính đôi lời gọi là tỏ ý tạ ơn; vậy xin thầy hãy coi cho kỷ lấy bức thơ nầy thì mới rõ được tất dạ chí-thành của chị tôi vậy.» Đổ-khắc-Xương lòng mừng khắp khởi, vội vàng mở bức thơ liền, té ra chẳng thấy nói một câu gì, duy thấy có một tờ giấy xắp đôi, thoa keo chính giữa cho dính khắn lại, phía trước có đề một chữ Nhứt, mà phía sau cũng là một chữ Nhứt. Chàng-ta ngơ ngẫn, chưa hiểu làm sao, suy nghĩ hồi lâu rồi mới tỉnh ngộ, liền ngó Lệ-Dung mà cười và nói rằng: «Nầy là ý cô hai muốn nói: Khăn khắn một lòng thỉ chung như nhứt đây, có phải vậy chăng! Thiệt cô hai là một người thông-minh tuyệt thế, việc gì cô cũng hiểu rõ ý tôi; thế thì rõ ràng cô là một bạn tri-kỷ của tôi đấy. Vậy xin cô trở về thưa lại với cô hai cho rõ rằng kẻ bất-tài nầy xin lãnh ý của cô hai, dầu đến thác tôi cũng chẳng dám sai dời tất dạ vậy.» Lệ-Dung nghe nói rất khen thầm và kính phục chẳng cùng, rồi đó nàng liền đứng dậy từ giã quày quả ra về; đem hết mấy lời của chàng Đổ mà thuật rõ lại cho Mộ-Trinh nghe. Mộ-Trình thấy vậy lại càng khen phục, bèn dặn dò Lệ-Dung rằng: «Nay tuy là chàng đã rõ tấm lòng của chị, mà chị đây cũng biết được ý chàng rồi thì mặc dầu, song em cũng nên thủ khẩu như bình, chớ chẳng khá hớ hinh mà lậu việc; để thỉnh thoãn cho mẹ chị dọ thử ý cha chị xem coi thể nào rồi sau sẽ tùy cơ ứng biến.» Lệ-Dung nghe nói cũng gặt đầu khen phải.

Từ đó hai chị em ăn ngủ chẳng yên, ngày đêm vẩn cứ lo thầm, sợ e quan phủ chuộng chỗ giàu sang mà ép-uổng.

Ngày kia quan phủ đang ngồi trong dinh bổng thấy tên lính chạy vào bẩm rằng: «Bẩm ông, có ghe quan Đốc-phủ chủ-quận châu-thành đến viếng, ghe mới vừa đậu tại bến cầu.» Quan phủ nghe chưa dứt lời thì đã vội vàng đứng dậy đi liền, xuống đón tại bến cầu mà nghinh tiếp. (Nguyên quan Đốc-phủ-sứ nầy tên là Phạm-nhứt-Thanh, nhờ có quan trên yêu chuộng, cho nên oai thế của ngài ít ai bì kịp; các quan chủ-quận trong tĩnh, ông nào ông nấy cũng khiếp oai, làng tổng dân tình thảy đều sợ ngài cũng như sợ cọp.

Khi quan phủ rước ngài vào dinh rồi liền hối lính hầu khui rượu la-ve ra cho ngài giải khát. Lúc hai đàng đương ngồi uống rượu với nhau, quan phủ bèn hỏi rằng: «Không mấy khi quan-lớn đến đây, làm cho bồng-tấc sanh huy, thiệt tôi lấy làm vinh hạnh chẳng cùng, song chẳng biết có công-sự chi chi, hay là tư sự?» Quan Đốc-phủ mĩn cười và nói rằng: «Không, chẳng có việc chi, chẳng qua là tôi dùng dịp trong hai ngày lễ nghỉ hầu mà đi chơi, nhơn đi ngang qua đây, tiện đường tôi ghé thăm ngài để đàm đạo chơi vậy mà.

— Thiệt tôi rất cám ơn quan-lớn. Trẻ bây! rót rượu thêm cho Quan-lớn đây bây.

— À! tôi có nghe lịnh-ái năm nay cũng đã trộng rồi há! Chẳng hay cháu nó đã được mấy tuổi rồi vậy ngài?

— Dạ. bẩm quan-lớn, năm nay nó mới được 18 tuổi, mà nó còn khờ quá đi quan lớn.

— Hứ! Ấy chẳng qua là ngài quá khiêm đó mà thôi, chớ tôi có nghe người ta đồn đãi ngợi khen nó lắm mà! Được đa, tuổi đó vừa lắm đa. Nầy ngài! Chuyện anh em mình chớ không phải người nào, vậy để tôi xin lỗi với ngài mà nói xắp một cái cho rồi:

— Dạ, bẩm quan-lớn, có việc chi thì quan-lớn cứ nói, không hề chi, vì tôi là em-út của quan-lớn.

— Nầy ngài! có một chỗ, họ muốn cậy tôi làm mai, đi nói con cháu đây, thằng đó năm nay mới có hai mươi tuổi mà cha mẹ nó giàu quá đi ngài.

— Chẳng hay con ai ở đâu vậy quan-lớn?

— Người đó là anh em chú bác với tôi, tên là Phạm-hữu-Ngọt, nhà cữa ở tại Ba-Xuyên, giàu lớn lắm, mỗi năm thâu lúa ruộng hơn hai trăm ngàn giạ lận đa ngài; nhờ có mấy kỳ quốc-trái ảnh giúp cho nhà nước vay nhiều quá, nên ãnh được thưởng chức huyện hàm.

— Thằng đó có học hành chi chăng quan-lớn? mà nó tên gì?

Quan Đốc-phủ-Sứ ngần ngừ một hồi rồi nói: — Có chớ! mà đều:

— Mà đều: mà đều: sao a quan-lớn?

— Mà đều nó học ít một chút, mắc nó là con câng, vì anh huyện tôi, sanh có một mình nó là trai, cho nên ảnh chỉ hay câng nó quá. Bỡi vậy nó học trường tĩnh gần thi lấy xẹt-típ-phi-ca (certificat) rồi nó thôi, không chịu học nữa, để thả đi chơi hoài, hai vợ chồng anh huyện tôi mới tính kiếm vợ cho nó, đặng có buộc chơn buộc cẳng nó lại đa ngài. Tên nó là Phạm-hữu-Chanh.

— Tuổi còn trai tráng, niên phú lực cường, sao nó không lo học cho tới, để bỏ uổng quá quan-lớn há!

— Ngài nói cũng phải, nhưng mà, Ối! Buổi nầy là buổi huỳnh-kim thế giái, có chi mạnh cho bằng thế-lực kim-tiền đâu ngài. Nó dốt thây kệ nó, miễn là lúa cho đầy bồ, bạc cho đầy tủ thì thôi, một năm hai ba trăm ngàn giạ lúa ruộng chớ ít ỏi gì sao, dầu nó dốt thì dốt, chớ nó có sợ ai. Phải vậy không ngài?

Quan phủ nghe nói ít học thì có hơi buồn, song vì hai trăm ngàn giạ lúa ruộng mỗi năm, nó làm cho ngài cũng phải điếc tai chóa mắt; nhưng mà, ngài vẩn biết ý bà, nên tính để dọ lại coi, chớ chưa dám hứa; bèn nói với quan Đốc-phủ rằng: «Bẫm quan-lớn, đã biết rằng tôi đây là nhứt gia vi trưởng thì mặc dầu, song tôi cũng còn phải hỏi lại mẹ-bầy-trẻ tôi, coi ý bả thể nào, rồi trong vài bữa tôi sẽ cho quan-lớn hay.

— Vậy cũng được, thôi, để tôi kiếu ngài tôi về, rồi bề nào xin ngài cũng cho tôi hay cho sớm sớm vậy nghé, tôi có lòng trông tin ngài lắm đa. Á mà nầy ngài! Ráng lấy nghé! Chỗ đó giàu lớn lắm đa!! Đừng bỏ qua, uổng lắm đa ngài.

Quan phủ theo đưa quan Đốc-phủ xuống ghe rồi mới trở lên, đi thẳng vào nhà tư, kêu bà phủ ra mà nói rằng: «Nầy mụ! Nay có quan Đốc-phủ-sứ Phạm-nhứt-Thanh đến thăm tôi và ngài lại làm mai, muốn nói con gái mình cho thằng cháu của ngài, nó kêu ngài bằng chú, nhà nó ở dưới Ba-Xuyên; cha nó là ông huyện hàm Ngọt, giàu có lớn lắm, ngặt có một đều thằng đó nó ít học một chút, chớ lúa ruộng của cha nó mỗi năm tới hai ba trăm ngàn giạ lận bà.» Bà phủ nghe ông nói dứt lời thì sắc mặt bà không vui, bà bèn trả lời một cách rất lạt lẽo rằng: «Nó giàu thì giàu, chớ tôi không ham, vậy chớ ông không biết ý con-gái của ông hay sao?

— Sao? Mụ nói sao? Ý con gái tôi sao? Nó cải tôi được hay sao???

— Vã con-gái của mình là một đứa biết đều, học hành cũng giỏi, cầm kỳ thi họa chẳng thua ai, nay ông muốn đem nó mà gã cho một đứa ít học, tôi e nó chẳng vừa lòng, vậy chẳng là tội nghiệp cho nó lắm chăng ông?

— Nó ít học mà nó giàu to kia kìa!

— Ai lại chẳng biết nó giàu, tưởng là ai kìa, chớ thằng con trai của ông huyện Ngọt; ông tưởng tôi không biết nó hay sao? Cái thằng làm sao mà chẳng những là dốt nát mà thôi, lại thêm hình dung thô-bỉ, ăn nói cộc-cằng, đen thui đen thít; chắc là cỏn nó có chịu ở đâu.

— Mà người ta nói nó giàu đây nè! lúa ruộng hai trăm ngàn giạ mỗi năm, mụ biết hông?

— Ông cứ chưng cái giàu của nó với tôi hoài, mấy trăm ngàn giạ thì mấy trăm ngàn giạ chớ! Vậy chớ ông không nghe câu tục-diệu người ta hát đó sao?

— Câu tục diêu gì? Họ hát làm sao??

— Câu tục-diêu người ta hát rằng: Chẳng tham bồ lúa anh đầy, tham ba hàng chữ cho tày thế gian. Câu tục-diêu đó, chớ câu tục-diêu gì.

— Hứ! Khéo bày đặt không? Hay chữ cho bằng giữ ăn? Mụ đừng có cải tôi mà!»

Bà phủ thấy ông, ý muốn đổ quạu, bà liền day mặt chỗ khác mà nói một cách rất nhỏ nhẹ rằng: «Ai mà cải ông làm gì, đều tôi nghĩ lại cái công của tôi sanh ra được có một chút gái, mình hạt xương mai, lại thông minh tót chúng, tôi cũng muốn chọn cho được một đứa rể hiền, chẳng luận giàu nghèo, miễn làm sao cho tài đức vẹn toàn, đặng mà gả nó cho xứng đôi vừa lứa thì tôi mới được đẹp mặt nở mày; không dè mà ngày nay, ông ham có hai trăm ngàn giạ lúa ruộng mỗi năm, mà ông muốn vùi dập con gái tôi như vầy, nên tôi mới nói cho ông nghe, chớ tôi có cải ông làm chi; nó là con của ông, ông muốn gả nó cho ai cũng tự ý, duy tôi chỉ xin ông phải nghĩ lại một đều nầy là đều cần nhứt: Phàm hễ vợ chồng mà thương yêu nhau, quyến luyến nhau, là bỡi có cái mối ái-tình, nếu nó không có ái-tình mà mình cứ ỷ quyền cha mẹ ép-uổn nó, thì về sau ắt cũng dở-dang, chớ không có thế nào buộc nó ở đời với nhau cho lâu được; thế thì ép nó mà có ích gì? Tuy nói thì nói vậy, chớ nó là con của ông, ông cứ hỏi lấy nó, chớ tôi đâu dám cải.» Quan phủ liền kêu Mộ-Trinh ra, đặng hỏi ý con cho biết.

Chẳng dè những câu chuyện của hai ông bà tranh cải với nhau nảy giờ, Mộ-Trinh đã núp lén rình nghe, đầu đuôi đà rõ hết, nên nàng ở trong buồng đã khóc lóc với Lệ-Dung rồi. Khi nghe quan phủ kêu tới tên nàng, thì nàng cũng phải ép lòng rén rén bước ra, mặt hoa ủ-dột, lụy ngọc dầm-dề. Quan phủ đương sẵn trớn giận bà, lại thấy tình-hình của nàng như vậy, nên ngài cũng giận luôn, bèn nạt lớn lên rằng: «Chuyện gì mà khóc? Khéo không? Hèn chi người ta hay nói, hễ mẹ nào thì con nấy, thiệt cũng phải lắm chút! Sao? Chỗ giàu sang như vậy mà con còn chê hay sao?? Đó! con nghĩ coi, nhà người ta thì giàu có lung, lại cũng là một ông huyện hàm chớ phải lôi thôi hay sao? Huống chi Bác của nó là quan Đốc-phủ-sứ, vẩn là một người rất có quyền-thế hơn cha, mà nay người lại đứng làm mai cho nó nữa, thì là chỗ giàu sang tột bực, còn ức hiếp nỗi gì? Con hãy nghe lời cha mà ưng phứt cho rồi, đừng có nghịch ý mà làm cho cha thêm giận.» Mộ-Trinh thấy cha đương lúc nóng nãy nên nàng chẳng dám nói chi, cứ đứng khóc hoài. Bà phủ thấy vậy, lại rước mà nói rằng: «Tôi xin ông bớt giận mà để cho tôi phân rõ một đôi đều, phàm hễ vợ chồng mà biết quí trọng nhau, biết yêu thương nhau, là bỡi có cái mối ái-tình cao thượng, có ái-tình rồi mới tương đắt với nhau, chừng ấy chồng lo việc ngoài, vợ lo việc trong, mỗi người đều giữ theo chức-nhiệm của mình, tương y tương ỷ với nhau, thượng hòa hạ mục, phu xướng phụ tùy; không ai khinh thị ai, không ai hiếp chế ai, chung vui chung buồn, đồng tâm hiệp ý; được như vậy, dầu cho làm vợ một tên sĩ nghèo cũng còn có thú vui, chớ như ham mấy chỗ sang giàu, rủi nhằm công-tử Bột, những hạng người ấy, phần đông đều là bọn ỷ của, dâm dật tánh thành, họ coi đờn-bà con-gái cũng như một món đồ chơi, để vuốt ve nựng niệu trửng bỡn cho thỏa lòng; thoản như có đều nào mà không vừa ý họ, thì đã thấy họ ly dị liền, chớ họ có biết chi là đạo tình thâm nghĩa trọng. Còn nói tới việc tình, thì họ lại lấy đều dâm-dục luyến-ái mà gọi là tình, chớ họ có rõ đâu được cái mối tình cho chánh-đáng. Tình mà chánh-đáng ấy, là phát ư lễ, chỉ ư nghĩa, chẳng dâm chẳng loạn, mới gọi là tình; bằng chẳng vậy thì là cầm thú chi tình, chớ ai gọi là tình cao thượng! Chí như ông Ngọt mà được thưởng chức huyện hàm, thì bất quá là nhờ có thế-lực kim-tiền, chớ ổng có công-lao hạn-mã chi đâu, mà cũng chẳng phải là ổng có tài bộ gì, thì cái hàm ấy ai cho là quí.» Quan phủ nghe bà nói tới đó thì lại càng nổi xung, vùng nạt lớn lên rằng: «Mụ đừng có nhiều chuyện, khéo bắt chước ai mà nói cái giọng cầu cao; nếu mẹ con mụ mà cải lời tôi, thì đừng trách số.» Quan phủ miệng thì la ó, mà mặt thì cứ hầm hầm. Mộ-Trinh thấy cha tánh tình nóng nãy, lại thêm đương lúc giận-duổi mà nổi trận lôi đình, nên nàng cứ làm thinh, chỉ có khóc ròng, mà bà phủ cũng nín luôn, chẳng dám nói rằng chi nữa hết.

Cách chẳng bao lâu, ông lại tiếp được thơ của quan Đốc-phủ Phạm-nhứt-Thanh gởi đến cho ông mà cần thúc hỏi thăm việc ấy. Việc cấp bức như vậy, ông chẳng biết tính sao, nếu gởi thơ trả lời mà hẹn nữa, thì lại sợ mít lòng quan Đốc-phủ, nên ông tính hồi âm mà chịu bốc cho êm; rồi lần lần sẽ dụng lời ngon ngọt dỗ dành, không lẽ mà con mình nó dám cải. Nghĩ như vậy rồi ông liền viết thơ hồi âm cho quan Đốc-phủ mà hứa chịu gả con gái của ông cho con trai ông huyện Ngọt.

Khi quan Đốc-phủ Phạm-nhứt-Thanh tiếp được tin lành, mừng vui chẳng xiết, liền viết thơ gởi xuống Ba-Xuyên mà cho quan huyện Ngọt hay, bảo phải chọn ngày và sắm đủ lễ-vật đem lên, đặng có đi bỏ trầu cau cho sớm.

Ngày giờ thấm thoát, lật bật mà đã trót một tháng ngoài, dưới kia ông huyện Ngọt đã coi được ngày, tương lễ-vật bỉ bàn, đi một chiếc tàu hơi rất to, lên ghé tại Mytho rước quan Đốc-phủ Phạm-nhứt-Thanh, rồi thẳng xuống đến dinh quan phủ Từ-thế-Anh mà đi lễ hỏi.

(Lúc nầy Ký-giả chưa kịp nói ra, mà tưởng khi khán-quan ai ai cũng biết chắc rằng nàng Từ-mộ-Trinh, thì áo nảo âu sầu, cứ rút ở trong buồng, chớ không chịu ra; còn nàng Trần-lệ-Dung thế nào cũng núp lén rình coi cái nhơn-phẫm của công-tử thể nào cho biết).

Mà thiệt quả như vậy đó chút! Khi hai chị em nghe được tin quan phủ đã hứa hôn và bên trai đã tới mà đi lễ hỏi rồi, thình lình như sét đánh vào tai, Từ-mộ-Trinh tâm-thần rủ liệt, bải hoải tay chơn, nước mắt chảy tuôn ra như suối, còn Lệ-Dung thì lén lại đứng núp giựa cữa buồng mà dòm ra, thấy ông mai là quan Đốc-phủ, mặc một cái áo tố màu huân bông lớn, trong lót màu hồ-thủy, đầu bịt khăn đen, nơi trước ngực có đeo 5, 6 cái mề-đay rựt rỡ; còn quan huyện hàm (ông suôi trai) thì mặt một cái áo nhung đen, trong lót màu trứng sáo, kết một bộ nút vàng rất to, gần bằng ngón tay cái; hai bàn tay, bàn nào cũng có đeo chiên-chiên con dấu đỏ lòm, chơn mang một đôi giày hàm ếch thêu cườm, miệng ăn trầu đỏ hoét. Duy có chàng rể là cậu hai Chanh, mặc một cái áo xa-ten, 5 cái nút bằng vàng cũng to bằng viên đạn chiến. Đeo một sợi dây chiền đồng-hồ bằng vàng, tự nách thòng xuống tới lưng quần, ước cũng hơn 5 lượng: đầu cậu bịt khăn đen mà khăn đóng, chơn cậu mang đôi giày ăn-phôn láng ngời, tay chơn kịt cợm, diện mạo tầm thường. Lệ-Dung xem rõ hết mấy người rồi quày trở vô buồng, cứ ngó Mộ-Trinh mà chắc lưỡi lắt đầu thở ra thở vào, chớ cũng chẳng biết nói làm sao cho được.

Khi làm lễ xong rồi bên trai bèn dở cái quả, lấy ra một đôi bông-tai có nhận ngọc xoàn, giá đáng 200 đồng; 3 chiếc cà-rá cũng nhận ngọc xoàn, đáng 9 trăm đồng và 2 lượng hột vàng mà cho nàng dâu, gọi là lễ buột tay. Quan phủ phới phở trong lòng, song ông biết khó mà bảo Mộ-Trinh ra chào cho được, nên ông kiếm chuyện mà kiếu rằng: «Lẽ gì tôi phải bảo con gái tôi ra chào cha chồng nó mới phải, ngặt rủi vì nó rét mấy bữa rày, bây giờ nó lại đương làm cử; vậy xin quan-lớn cùng anh suôi miễn lễ cho nó.» Quan Đốc-phủ liền rước mà nói rằng: «Hay cùng gì thứ cái chào đó, con nít thì nó hay mắc cỡ, dầu nó không đau cũng vậy, đời văn-minh nầy, ta cũng nên chế bớt đi, bó buộc làm chi cho cực lòng con cháu.» Nói rồi vùng cười xoà. Rồi đó hai đàng trò chuyện giao kết với nhau đâu đó xong xuôi thì đồng hồ đã gỏ 11 giờ. Quan phủ liền hối kẻ ở trong nhà dọn tiệc rượu ra, chủ khách ăn uống chuyện vảng vui cười đến 1 giờ trưa mới mãn tiệc. Ngày ấy bà phủ kiếu bịnh không ra, để cho quan phủ làm sao thì làm lấy, hóng chỏ cũng một mình, chớ bà không biết tới.

Tiệc mãn rồi quan Đốc-phủ và hai cha con ông huyện hàm Ngọt liền đứng dậy kiếu từ mà lui gót.

Đây nhắc lại việc nàng Mộ-Trinh, từ ngày thấy cha mình đã chịu bướn cho bên trai tới bỏ trầu cau rồi, ngày đêm hằng áo nảo âu sầu, chứa chan giọt lụy, bỏ ăn quên ngủ, mặt ủ dàu dàu, thốn thức canh chầy, thạn thân trách phận. Lệ-Dung thấy cái quang-cảnh như vậy, tuy cũng buồn lòng, song phải gắn gượng kiếm lời mà an ủi Mô-Trinh rằng: «Nầy chị ơi! Cơ trời dời đổi, dâu biển không chừng, lúc đang rối-rắm, họa phước khó lường; vậy xin chị hãy ráng mà bảo trọng lấy vóc ngọc mình vàng, mà lo lần gở mối tơ vương; nếu chị cứ để ngồi mà khóc lóc mải như vầy thì đã chẳng có ích chi, lại còn làm cho vóc ủ mình gầy, thoản như rủi mà chị có bề nào đi rồi, thì té ra chị lại phụ tình chàng Đổ lắm chăng chi.» Mộ-Trinh nghe Lệ-Dung nhắc tới cái tiếng phụ tình chàng Đổ, thì nàng lại càng động lòng chua xót, giọt lụy tuông rơi mà nói rằng: «Nầy em ơi! Với ai thì chị không dám nói, chớ với em, thì em đã rõ hết cái tâm-sự của chị rồi, thì chị còn giấu giếm em nữa mà làm chi; em nghĩ lấy đó mà coi, vã chị cùng chàng Đổ, tuy chưa chung chăn gối mặc dầu, chớ cùng nhau đã nguyền hai chữ đồng tâm, trăm năm thề chẳng âm thầm cùng ai. Thế mà nay cha chị lại ép bức chị, đem chị mà gả cho một đứa thất-phu kia, thì chị chỉ còn có quyết liều một thác mà thôi, chớ hai chữ hiếu tình không sao cho trọn đươc, mà cái thân bạc-mạng nầy cũng chẳng còn trông mong gì nữa rồi em ơi! Nhưng mà, chị lại còn lo một đều nữa là sau khi chị có nhắm mắt đi rồi thì chị chẳng biết cậy ai mà tỏ nỗi bi hận sầu tràng nầy cùng chàng Đổ; họa là chị nhờ có em đây mà thôi, song chẳng biết em có hết lòng với chị cùng chăng?» Nói tới đó lại động mối thương tâm, mấy đoạn ruột tằm quặn đau chín khúc, nước mắt ròng ròng, chảy tuôn như suối.

— Chị ơi! Xin chị chớ nói làm chi những lời bất tường như vậy, không nên đâu chị à!

— Nầy em ơi! Tài mạng chẳng ưa nhau, trời già hay định vậy; sợ mà khỏi hay sao em?

— Chị ơi! Đã biết rằng: Thiên định thắng nhơn, mà nhơn định cố năng thắng Thiên. Vậy xin chị hãy dằng lòng ẩn nhẩn, gắn gượng một đôi ngày, không lẽ mà ông trời già kia đi nỡ đày ta cho đến thế, sao chị.

— Em ơi! Đã biết rằng: Có trời mà cũng có ta; nhưng mà, xưa nay dễ áo mặt qua khỏi đầu. Nay cha chị đã cho người ta đi lễ hỏi rồi, thế thì còn trông mong trốn tránh đường nào cho khỏi được sao em, chỉ còn có một đều là phải chết mà thôi. Nói tới đó lại khóc ròng. Từ đó Mộ-Trinh chẳng còn chuyện vãn thiệt hơn chi với Lệ-Dung như trước nữa, chỉ cứ nằm liều, như dại như ngây. Tuy có những lời ngon tiếng ngọt của Lệ-Dung khuyên giải hằng ngày thì mặc dầu, song nàng cũng cứ dàu dàu, chẳng hề khuây lảng được; vì vậy mà phải vóc ốm mình gầy, lần lần bèn sanh bịnh, ban đầu còn ít, sau xít ra nhiều; chừng ấy vợ chồng quan phủ mới phát lo, cầu thầy chạy thuốc hết phương mà bịnh của nàng càng ngày càng thêm trầm trọng.

Bà phủ lo sợ xăn-văn, quan phủ cũng điến hồn, liền viết thơ sai người lên tĩnh rước quan thầy thuốc tây về để khán bịnh cho nàng. Nguyên quan thầy nầy tên là ông Giọt (Georges) vẩn là Y-khoa Tấn-sỉ xuất thân, nghề trị bịnh của ông cũng đà nổi tiếng. Khi ông xem bịnh Mộ-Trinh rồi thì ông lắt đầu mà nói với quan phủ rằng: «Bịnh nầy là tâm-bịnh, do nơi lòng buồn rầu ưu uất mà ra, phần thì không ăn uống đã lâu, cho nên tạng phủ gì cũng đều suy hết, thiệt là khó trị lắm, chớ chẳng phải dễ gì.» Vợ chồng quan phủ cứ theo năn nỉ hoài, xin ông cứu trị con mình, dầu hao tốn bao nhiêu cũng không dám nệ. Quan thầy thuốc bèn nói rằng: «Bịnh nầy mà muốn cho mạnh được thì phải có chừng nửa lít máu sống của người mà hoà với thuốc thì họa may nàng mới qua khỏi cùng chăng? Bằng chẳng vậy thì tôi e chẳng quá 5 ngày mà nàng phải xa chơi dị-lộ rồi.» Bà phủ nghe nói khóc ròng: Một ông hại con tôi, hai ông hại con tôi. Bà than trách ông luôn, chẳng hề ngớt miệng. Quan phủ thấy vậy lại càng xốn xang bứt rứt, không biết tính làm sao, vùng nhớ lại Phạm-hữu-Chanh là rể của ông mới lên ở tại nhà quan Đốc-phủ. Ông liền vội vả viết thơ sai người đem đến cho quan Đốc-phủ mà phân rõ căng bịnh của con gái mình, cùng thuật những lời của quan thầy thuốc bình luận chứng bịnh và tỏ ý muốn xin chừng nửa lít máu của rể mình mà hòa thuốc.

— Hết chương 3 —

Mục lục Tài mạng tương đố

  1. 1Phần 119 phút
  2. 2Phần 219 phút
  3. 3Phần 320 phút
  4. 4Phần 419 phút
  5. 5Phần 518 phút
  6. 6Phần 620 phút
  7. 7Phần 719 phút
  8. 8Phần 820 phút
  9. 9Phần 919 phút
  10. 10Phần 1019 phút

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảNguyễn Chánh Sắt (1869 – 1947)
Năm mất1947
Xuất bản lần đầu1926
Tình trạngHết thời hạn bảo hộ quyền tài sản tại Việt Nam từ 01/01/1998
Nguồn văn bảnWikisource tiếng Việt
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →