Phần 5
Khi lên tới Saigon thì trời đã tối, hai thầy trò bèn quãy đồ vào nhà khách-sạng mà nghĩ ngơi, cơm nước xong rồi, Đổ-khắc-Xương mới tính đi tìm nhà anh em bạn học khi trước mà hỏi thăm việc xin giấy thông-hành phải làm cách nào cho tiện. Thằng Hành thuở nay mới lên tới đầt Saigon nên cũng xin đi theo, đặng xem phố-xá chốn kinh-thành chơi cho biết. Đổ-khắc-Xương liền khóa phòng lại rồi thầy trò mới dắc nhau ra đi. Nguyên người anh em bạn học của Đổ-khắc-Xương nhà ở tại đường Bangkok, gần trước cữa đất thánh Tây. Khi hai thầy trò lên đó, hỏi thăm công việc đã xong, chuyện vãn một hồi thì trời đã khuya lơ khuya lắc. Đổ-khắc-Xương bèn đứng dậy giã từ, rồi hai thầy trò mới dắc nhau đi bộ trở về chỗ ngụ. Khi đi tới trước cữa nhà thờ, tại đầu đường Catinat, ngang lối chỗ hình Đông-cung và hình Cha-cã, tình cờ vùng thấy giữa đàng có một xắp giấy nằm sờ sờ, không biết là giấy chi, thằng Hành liền lượm lên coi, té ra là giấy bạc. Đổ-khắc-Xương chưng hững, không biết của ai rơi rớt như vầy; thầy trò về phòng đóng cữa lại rồi mới mở ra đếm thử mà coi; chừng ấy mới hay, một số bạc rất to, rõ ràng là 2 ngàn 6 trăm 5 mươi lăm đồng chẵn (2655$00). Thằng Hành mầng quá đổi mầng, bèn nói rằng: «May quá cậu há! cái nầy là của trời cho, vậy thì ngày mai cậu hãy mua măn-đa mà gởi về ít trăm trước cho bà, bảo bà hãy đem lên trên cái ông già giượng đó mà chuộc phứt miếng vườn và cái nhà lại cho rồi, kẻo để lâu đây rồi không biết chừng ổng còn sanh tâm mà trận sỏi nữa đa cậu à!» Đổ-khắc-Xương nghe thằng Hành nói vậy thì mĩn cười và nói rằng: «Bạc nầy là bạc của người ta rơi rớt, mình xí-được thì mình mừng, còn cái người làm mất đó chắc là họ phải khóc; họ khóc mà mình cười, thì cười sao cho được đó em? Hoặc của nầy là của một người giàu-có dư-giã thì chẳng hại gì, họ mất cái số bạc nầy, bất quá cũng như lúa trong một bồ, hao năm ba hột. Thoản như nhằm của một người nghèo túng, mới vay bợ của người ta, hoặc là họ cũng gặp việc nguy bức như mình mà phải bán nhà hay là cố ruộng mới có được cái số bạc nầy để mà giải nguy; nay họ bị rủi ro rơi rớt, về tay mình được lại giấu để mà xài; làm cho người phải bị việc hiểm-nguy, hoặc cũng vì số bạc ấy mà phải liều mình tự tử; thì cái lương-tâm của mình há đi vui hưởng cho đành sao em? Thôi, vậy thì hay vậy, em chớ nói vấy không nên; để nghe rõ lại coi cho biết của ai rồi sẽ cho người ta lại.»
Đêm ấy thằng Hành thì cứ chỏng cẳng ngủ khò, còn Đổ-khắc-Xương thì những mảng bồi hồi, lăn qua trở lại, lo tới lo lui, nỗi lo cho cha già ở nơi đất Bắc, không rõ hôm nay bịnh thế thể nào; nỗi lo cho mẹ ở nhà, tròi trọi một mình, vắn trước quạnh sau, không ai phụng dưỡng; nỗi lo cho nàng Từ-mộ-Trinh, không biết rồi đây nàng có được mạnh lành, hay là vì ưu uất cái cuộc duyên nợ trớ trinh mà nàng phải liều mình, trầm hương đấm ngọc. Một mình trằn trọc, thốn thức bàng hoàn; đêm khuya khắc lụn canh tàng, đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời.
Còn đang nghĩ vẩn nghĩ vơ, bổng nghe tiếng kiển nhà thờ đã đổ vang rềnh, Đổ-khắc-Xương giựt mình, liền lấy đồng-hồ nhỏ ra xem; chừng ấy mới hay là 5 giờ sáng.
Trời đã bình minh, Đổ-khắc-Xương bèn ngồi dậy rửa mặt rửa mày, đổi thay quần áo, rồi lo đi ghi giấy thông-hành, đâu đấy xong xuôi thì đã 10 giờ rồi, bèn trở về Lử-quán cơm nước nghỉ ngơi, chờ đến sáng mai tớ thầy sẽ lên xe lửa mà đi ra Bắc.
Chẳng dè trưa lại ngày ấy thằng Hành vùng phát đau bụng nhào lăn, Đổ-khắc-Xương lo chạy lăn xăng trọn cả đêm ngày mới bớt. Vì vậy mà làm cho Đổ-khắc-Xương phải đình đải cuộc hành-trình lại thêm vài ngày, chờ cho thằng Hành thiệt mạnh rồi mới dám lên đường.
Đêm ấy Đổ-khắc-Xương nhơn vì tâm-sự đa đoan, bèn lấy nhựt-báo ra xem chơi cho tiêu khiển. Khi xem đến mục «Nam-kỳ thời-sự» thấy có một khoản như vầy:
«SANG ĐOẠT
«Mới hôm qua đây, có thầy Nguyễn-văn-Thiệt, giúp việc tại hảng rượu R. M. Đ. P. đi đòi tiền cho hảng, làm mất hết một số bạc rất to, 2 ngàn 6 trăm năm mươi lăm đồng (2.655$00). Theo lời thầy ấy khai thì thầy nói rằng vì sự vô ý rủi ro làm rơi mà mất; còn ông chủ hảng thì không tin, (ai mà tin được) nghi quyết rằng thầy ấy cố ý sang đoạt của hảng, nên cò bót đã bắt Nguyễn-văn-Thiệt mà giải lên cho quan Biện-lý. Hiện nay thầy ấy đã bị giam rồi, việc chưa biết thiệt giả thể nào, để chờ quan Bồi-thẩm tra hỏi phân minh, rồi kỳ Báo sau sẽ đăng tiếp.»
Đổ-khắc-Xương xem đi đọc lại đôi ba lần rồi mới để tờ nhựt-báo xuống, lấy số bạc đem ra đếm lại mà coi, thì cũng rõ ràng là 2 ngàn 6 trăm năm mươi lăm đồng, chẳng dư chẳng thiếu; rất phù hạp với số bạc đã nói trong tờ nhựt-báo, bèn kêu thằng Hành mà nói rằng: «Đó! Em có thấy không? Cái số bạc đương nằm trong rương trong trấp của chúng ta đó, nó làm cho một người lương-thiện kia phải chịu lao tù trong khám đó, em có thấy chưa?»
— Vậy rồi bây giờ cậu tính sao?
— Thì phải đem mà trả hết lại cho người ta chớ tính sao?
— Cha! uổng quá cậu há!!
— Ậy! Của người ta thì trả lại cho người ta, chớ phải của mình hay sao mà em gọi rằng uổng.
— Thiệt ít ai như cậu vậy quá! mà tánh cậu cũng giống ông quá! Hèn chi cậu nghèo cũng phải.
— Nầy em! con người ta ở đời chẳng phải là lo nghèo, chỉ lo không có đức-hạnh kia mà thôi; phàm những của chẳng phải nghĩa thì chớ nên tham quấy. Thôi, em hãy uống thuốc đi cho mau mạnh đặng có lên đường.»
Sáng ra bữa sau, vào lối 7 giờ, Đổ-khắc-xương đổi thay y-phục xong rồi, bèn lấy số bạc ấy đem theo, kêu xe kéo chạy ngay đến bót xin vào ra mắt ông Cò, trình gói bạc ra và bẩm rằng: «Hôm nọ tôi đi đường, có xí được một gói giấy bạc nầy nằm tại đầu đường Catinat, gần lối hình đức Đông-cung và Cha-cả. Tôi không biết của ai, nay xem trong nhựt-báo mới hay là của Nguyễn-văn-Thiệt làm rớt mà thầy ấy còn đương bị giam tra; tôi không nỡ giấu nhẹm ăn xài, mà để cho người bị hàm oan tội nghiệp, nên tôi phải đem đến mà trình nạp cho ông, xin ông hãy đệ trình cho quan Biện-lý được hay mà tha người làm phước.» Ông Cò thấy vậy cũng ngạt nhiên, bèn nhìn sửng Đổ-khắc-Xương, thấy chàng tuổi tuy còn nhỏ mà khí vỏ hiên ngang, lại có lòng hào-hiệp khẳn-khái như vầy, lại thấy chàng nói tiếng Lang-sa cũng giỏi, liền bắt tay chàng mà khen ngợi chẳng cùng.
Rồi đó ông Cò liền đánh dây-thép-nói lên mà trình cho quan Biện-lý hay. Trong 5, 7 phút đồng-hồ, thì trên quan Biện-lý lại đánh dây-thép-nói xuống, dạy ông Cò phải đem số bạc ấy lên mà nạp cho quan Bồi-Thẫm và cũng mời luôn Đổ-khắc-Xương lên tại phòng quan Bồi-Thẫm. Vì tuân phép nước, nên Đổ-khắc-Xương cũng phải theo ông Cò mà đi lên Toà. Khi lên đến nơi, vừa bước vào phòng quan Bồi-Thẫm, thì thấy có ông chủ hảng rượu cũng vừa mới đến. (Ấy là khi quan Bồi-Thẫm được tin ông Cò trình-bẫm, thì ngài cũng đánh dây-thép-nói liền nội hồi đó mà mời ông Chủ hảng rượu lên). Ông Cò bước vào trình diện Đổ-khắc-Xương cho quan Bồi-Thẫm, thì quan Bồi-Thẫm liền đưa tay ra bắt-xua (Bonjour) Đổ-khắc-Xương; ông chủ hảng rượu cũng bước lại bắt tay Đổ-khắc-Xương mà khen phục chẳng cùng. Khi Quan Bồi-Thẫm hỏi tên-họ tuổi-tác và chức-nghiệp của Đổ-khắc-Xương vừa rồi thì kế thấy lính sơn-đầm ở dưới khám đã dẫn Nguyễn-văn-Thiệt lên vừa tới. Quan Bồi-Thẫm liền dạy mở còng ra rồi chỉ Đổ-khắc-Xương mà nói với Nguyễn-văn-Thiệt rằng: «Số bạc 2.655$00 của thầy làm mất đó, mà thầy Đổ-khắc-Xương là người nầy đây, đã xí-được và đã đam nạp đủ cho ta đây rồi, (và nói và đưa xắp giấy bạc ra cho Nguyễn-văn-Thiệt coi). Ấy vậy thì cái lời của thầy đã khai với ta đó quả là lời khai thiệt; xét lại thì thầy là người vô tội, nên ta tha thầy đó.» Nguyễn-văn-Thiệt mừng rỡ chẳng cùng, liền tạ ơn quan Bồi-Thẫm, rồi day lại mà tạ ơn Đổ-khắc-Xương. Rồi đó quan Bồi-Thẫm liền giao nguyên số bạc ấy lại cho ông chủ hảng rượu lãnh lấy đem về. Đổ-khắc-Xương cũng đứng dậy từ tạ quan Bồi-Thẫm mà lui chơn. Về đến Lử-quán, Đổ-khắc-Xương bèn vội vàng tính trả tiền phòng rồi hối thằng Hành kêu xe chở đồ hành-lý dời đi tiệm khác mà nghỉ, đặng sáng mai thầy tớ sẽ thượng trình.
Còn thằng Hành, khi nghe cậu nó hối đi kêu xe thì nó cứ việc kêu xe, hối nó dọn đi thì nó cũng cứ việc dọn đi chớ không rõ việc chi hết cả. Đến chừng nó thấy dời lại chỗ Lử-quán khác thì nó mới lấy làm lạ mà hỏi rằng: «Sáng mai nầy thì mình mới đi, sao không ở chỗ đó đặng mai mà đi luôn, lại dời đến chỗ nầy làm chi, đã mất công mà lại còn tốn thêm tiền xe kéo vậy cậu?» Đổ-khắc-Xương nói: «Vì thầy Nguyễn-văn-Thiệt nhờ trả số bạc lại nên thẩy mới được tha; chắc sao thẩy cũng tiềm mình mà đền ơn đáp nghĩa, vì vậy nên qua phải dời đi, nếu để thẩy tiềm được mà đem lễ-vật tới rộn ràng, ý qua không muốn.» Thằng Hành nghe nói thì mĩn cười, rồi cũng nói rằng: «Thiệt ít ai như vậy quá!» Mà quả chẳng hỏi như lời của Đỗ-khắc-Xương liệu trước; nên trưa lại bữa ấy, Nguyễn-văn-Thiệt mua sắm lễ-vật một mâm vung chùng, đi tiềm Đỗ-khắc-Xương mà đền ơn. song đi một ngày mà hỏi không ra tung-tích, cực chẳng đã nên phải đem về; rồi mướn nhựt-báo ấn hành những đều đích-thiệt về vụ mất bạc ấy ra cho công-chúng được hay, trước là nêu cái gương tốt của người ơn mình, sau là để tỏ cái sự thiệt của mình là người vô tội v.v:
Đây nhắc lại hai thầy trò Đỗ-khắc-Xương, sáng ra bữa sau dắc nhau lên xe lửa đi tối một ngày ra mới đến Nha-trang (ấy là tĩnh Khánh-hòa). Hai thầy trò bèn dắc nhau đi tìm chỗ nghỉ đỡ một đêm, rồi sáng mai hoặc đi bộ, hoặc đi cáng mà lần ra Cữa-Hàng, (Tourane) là chỗ mối đường xe lửa.
Đường đi từ Nha-trang ra đến Cữa-Hàng (chỗ nầy Annam ta kêu là Cữa-Hàng, hoặc kêu là Đà-Nẵng, còn người Tây thì lại kêu là Tourane; cọng là 562 cây số, (kilomètres) phân ra làm hai chặn: một chặn từ Nha-trang ra tới Qui-nhơn, 240 cây-số; còn một chặng từ Qui-nhơn ra tới Cữa-Hàng, 322 cây số. Hai chặn đường nầy chưa có đường xe lửa, chỉ có vài cái ô-tô để đưa hành-khách vậy thôi, ngặt vì giá tiền mắc-mỏ lắm: còn thầy trò Đỗ-khắc-Xương trong mình tiền bạc chẳng nhiều, nếu đi ô-tô thì tổn phí rất nhiều, đã lo bận đi còn phòng bận về, phần thì để dành chạy thuốc cho cha, vì vậy cho nên hai thầy trò mới tính dắc nhau đi bộ, hễ khoẻ thì đi bộ với nhau, bằng có mệt lắm thì lại mướn cáng mà đi cho đỡ chơn một vài khúc.
Ngày đi đêm nghỉ, lần lần ra gần tới núi Cù-mông, hai thầy trò còn đương xàm-xuối dậm trường, bổng thấy một bọn ăn cướp hơn chín mười người, thình lình trong bụi xông ra chận đường, bắt hết cả hai thầy trò, lục lưng lấy hết bạc tiền, rồi trói lại dẩn đem về núi, giam nơi sau trại.
Đêm ấy trời trong trăng tỏ, cảnh vật êm đềm, tên đầu-đãng của bọn cướp ấy nhơn buồn vì tâm-sự, bèn rảo bước đi ra phía sau, xem trăng hứng gió mà chơi cho tiêu khiển.
Còn đương rảo bước thung dung, vùng nghe có tiếng hai người chuyện vản than thở với nhau rằng: «Rũi quá cậu há! Ông đau ở ngoài không biết thể nào, bà ở nhà có một mình trước sau hiu quạnh; còn thầy trò mình lại bị bọn cướp nó bắt như vầy thì làm sao mà đi cho thấu tới ông?» Rồi lại nghe tiếng người sau nói: «Quân cướp nầy thiệt là bất nhơn quá, bỡi ta nghe cha ta đau, nên ta phải đem hết nhà đất mà cầm cố được có bấy nhiêu tiền, tưởng để đem ra mà rước cha ta về, cùng là lo than thuốc cho người. Chẳng dè đã bi cô với giượng ta tính tiền lời cho quá lẽ mà chận đầu chận đuôi cướp hết một mớ rồi, nay còn có bấy nhiêu, đi mới tới đây, lại bị bọn nầy nó giựt hết, lại còn bắt thầy trò ta mà nhốt lại đây, làm cho ta đi đâu cũng chẳng tới đâu, vạn nhứt mà cha ta rũi có bề nào thì ta ắt trốn chẳng khỏi cái danh bất hiếu.» Nói đến đó vùng sa nước mắt. Tên đầu-đãng nghe nói mấy lời như vậy thì cảm xúc chẳng cùng, bèn lén bước lại gần mà nghe cho rõ. Vừa bước tới lại nghe người trước nói rằng: «Tôi nghĩ lại thiệt không biết thiên lý ở đâu? Lẽ gì người lành như cậu vậy thì gặp phước mới phải chớ, có đâu mà lại cứ gặp ăn cướp như vầy hoài: đã có của đem mà cầm cố cho họ, họ đã tính lời cho quá lẽ, lại còn chận mà trừ trước hết 6 tháng tiền lời, có phải là quá ăn cướp không? Ý là cô ruột đa, chớ phải người dưng mới bực nào nữa; rồi nay đi mới tới đây lại còn bị bọn ăn cướp nầy nữa, thiệt số cậu sao xui quá! May là hôm ở Saigon cậu đem 2 ngàn mấy trăm đồng bạc xí được mà cho người ấy lại cũng còn có ơn, chớ phải cậu nghe lời tôi nhẩm lấy mà đem theo, thì cái lũ nầy nó cũng lục lưng mà lấy ráo, chớ chẳng có ích gì. Mà cậu đã hay làm đoan làm phước như vậy, lại gặp tai họa luôn luôn, nếu trời đất mà để như vầy thì ai thèm làm phước nữa.»
Tên đầu-đãng đứng ngoài nghe rõ hết trước sau thì gặt đầu và nói thầm rằng: «Nếu vậy người nầy quả là người hào-hiệp trượng-phu, ta cũng nên tha người mà làm nghĩa.» Nghĩ rồi liền bước tới tằng-hắng lên một tiếng, mở cữa bước vào. Thầy trò Đỗ-khắc-Xương còn đương than thở với nhau, bổng nghe có tiếng người tằng-hắng bèn lẳn lặn làm thinh, kế thấy cữa mở tung ra, có một người trai-tơ trạt chừng hai mươi ngoài tuổi, hình dung tuấn tú, diện mạo khôi ngô, xô cữa bước vào, rồi đi thẳng tới xá Đỗ-khắc-Xương và nói rằng: «Trẻ ở của tôi nó không biết mà bắt lầm, làm cho thầy lo sợ, thiệt là tội lỗi quá, vậy tôi xin mời thầy theo tôi ra nơi nhà trước rồi tôi sẽ phân trần lai-lịch cho thầy nghe.» Lúc bấy giờ, cả hai thầy trò Đỗ-khắc-Xương thiệt là tuyệt địa phùng sinh, không biết ất giáp gì, nên cũng cứ việc đi theo ra nơi nhà trước xem thử lẽ nào cho biết.
Ra tới nơi người trai-tơ ấy chỉ ghế mời ngồi, rót trà mời uống, rồi mới nói rằng: «Tôi đứng ngoài nghe thầy nói chuyện với thằng em đây, thì tôi mới biết thầy là người hiền lương phương chánh; song tôi cũng không biết lịnh-tôn đau ở tại đâu, mà thầy phải cầm cố vườn đất mà đi thăm như vậy, xin thầy hãy nói hết cho tôi nghe, hoặc tôi có thể mà giúp sức với thầy trong chỗ thầy bất cập.» Đổ-khắc-Xương thấy người trai-tơ ấy nết na nghiêm nghị, ăn nói đàng hoàn, thì lấy làm lạ mà nghĩ thầm rằng: «Ta xem thái-độ và cử-chỉ của người nầy thiệt chẳng phải là người tầm-thường, sao lại tụ chúng nơi chốn san-đầu mà đi ăn cướp, hoặc là kỳ trung cũng có duyên-cớ chi đây; thôi, ta là người thanh bạch, cũng chẳng cang chi mà phải giấu ai, để ta tỏ thiệt gia-sự của ta cho chàng nghe, rồi lần lần ta sẽ dò la, coi chàng là người thể nào cho biết.» Đỗ-khắc-Xương mới đem hết việc nhà tự thỉ chí chung, từ ngày còn học trong trường, học tới năm thứ năm, thi hai lần mà không đậu; gia vận suy vi, cha mình phải đi ra Bắc, đến khi nghe tin cha đau, mới đi cố nhà cầm đất, lại bị cô với giượng mình cho vay ăn lời siết họng, cho đến khi đi tới đây mà bị bắt, đầu đuôi gốc ngọn thuật hết một hồi cho người ấy nghe. Người ấy nghe Đỗ-khắc-Xương nói dứt lời, bèn chíp miệng than dài rồi nói rằng: «Từ xưa đến nay những đấng tài-tình thường bị ông xanh ghen ghét, ấy cũng là lẽ tự nhiên, duy có một đều là khi nãy tôi có nghe thằng em đây nó nói chuyện rằng thầy có xí được một số bạc hơn hai ngàn mấy trăm đồng, lại nhằm lúc thầy đương khuẩn bức túng cùng, thầy không để mà xài, lại đem mà trả lại cho người, thiệt là đều ấy thế gian cũng hi hữu, tôi kính phục chẳng cùng. Chí như cái việc mà thầy bị bà cô với ông giượng cho vay cắt cổ, chẳng kể chi cốt nhục thân tình đó, thiệt tôi nghe nói mà ngán ngầm, không hiểu tại sao mà đời có nhiều người ham tiền bạc quá; nhà giàu thì cứ bức sách kẻ nghèo, còn người có chức phận thì cứ dụng quyền-thế mà rút rĩa dân lương-thiện. Tôi nói thiệt với thầy, tôi đây vẩn là người Bình-Định, tên tôi là Nguyễn-hạo-Nhiên, mẹ tôi mất sớm, cha tôi xưa ngồi Tri-phủ tại phủ Qui-nhơn, cũng bỡi tánh tình cang trực, không ưa xu phụ, chẳng chịu phùng nghinh; lại thêm bĩnh tánh thanh liêm, nên không có của dư mà lễ lộc với Thượng-ti, vì vậy mà họ không ưa, mới kiếm cớ mà hại cho cha tôi bị cách. Cha tôi về nhà chẳng được bao lâu rồi lại thọ bịnh mà qua đời. Lúc cha tôi còn sanh tiền, còn đương tại chức, người có giao hôn với một ông Huấn-đạo tên là Trần-xuân-Khôi; lúc ấy tôi và con gái của ông tuổi còn xung ấu, nên chưa tính việc hôn nhơn, nhưng cũng vì họ ghét cha tôi mà làm lây cho tới ông Huấn-đạo cũng đồng bị cách luôn với cha tôi một lược. Ông Huấn-đạo thất chí buồn lòng, bèn dắc hết cả gia-quyến vào ở Nam-Kỳ dạy học chữ nho và chuyên nghề làm thuốc. Nghe nói ông vào trong ấy mấy năm làm ăn cũng là phát đạt lắm, rũi sao hai ông bà lại kẻ trước người sau, nối nhau mà tạ thế đi hết, còn nàng ấy không biết lưu lạc xứ nào, tôi cũng là hết sức hỏi thăm mà không ai rõ được; nói tới đây mà tôi lại ngùi ngùi. Chí như phận tôi, tuy mẹ cha đã khuất hết thì mặc dầu, song tôi cũng phấn chí học văn tập vỏ, chờ ngày ra ứng cử, họa may có thi đậu để hầu kế chí cho cha tôi. Chẳng dè tôi lại gặp những tham-quan ô-lại, nó chận nẻo đón đường nếu chẳng có của hối thì khó trông mà đậu được. Trong nẻo quan-trường thì như vậy, còn ngoài đường đời thì lại nhiều nỗi gay go. Tôi coi thiên hạ làm sao mà phần nhiều đều là tay nham hiểm nịnh tà, tham lam dối giã; những kẻ giàu sang mà dầu cho hư đọa nhơ nhớp cách nào, họ cũng kính cũng tôn, nhuốt nhơ hơn hết là những bọn loạn-luân mà hễ nó có tiền thì họ cũng bưng cũng bợ, còn như người nghèo khó, dầu có phải cách nào họ cũng xúm nhau mà khi ngạo dể khinh, thiệt nói tới cái nhơn-tình mà tôi chán ngán, nó làm cho tôi tức giận tràng hông, thầy nghĩ đó mà coi kẻ làm quan thì chĩ biết có một đều tham nhủng, mong lòng sâu mọt, thâu liểm của dân, chuyện chết nói sống, chuyện sống nói chết; ai than ai khóc mặc ai, cứ dùng quyền-lực của mình mà bỏ đầy cái túi tham cho thõa thích, còn những kẻ giàu thì cũng chĩ cứ dùng cái thế-lực kim-tiền mà bức sách kẻ nghèo, lo tom góp cho đầy tủ đầy rương, rồi để cho những lũ con hư, mặc sức nó ăn xài phá táng, chớ chẳng thấy ai là người yêu nước thương dân, đành nới cái miệng túi ra mà chung cùng lo lắng mở mang học-thuật cho đám thanh-niên, hầu sau có chấn chỉnh cái vận mạng của nước nhà cho vẻ vang cùng thế-đạo. Ai đi, đương buổi thế-giái phong trào quốc-gia điên đão nầy mà nông tệ cũng không hay, thương hư cũng chẳng kể, cũng chẳng biết quốc-gia xã-hội là chi, chỉ cứ mạnh ai thì nấy lo cho vinh thân phì gia, ăn sung mặt sướng, bỏ liều hai mươi mấy triệu con Lạc cháu Hồng, mặc dầu sống say thác ngủ. Thầy nghĩ mà coi, có đáng buồn không? Bỡi buồn, bỡi giận, bỡi tức như vậy, nên tôi mới dắc hết gia-dịch của tôi lên núp ẩn tại chốn nầy, chịu mang danh ăn cướp, để đón những tham-quan ô-lại cùng những quân vi phú bất nhân, bắt chúng nó mà rửa hờn, hoặc cho gia-quyến chúng nó chuộc lại, để lấy tiền mà phân phát cho những nhà đói khó; mấy năm hạn lục, dân Trung-Kỳ đói rách khốn cùng, cũng nhờ của ấy, mà tôi phân phát giúp đỡ cho nhiều nhà khỏi chết; lại cũng nhờ có đồng tiền bất nghĩa của bọn vi phú bất nhân ấy mà mới trong năm rồi đây tôi đã lén giúp được cho hai người học-sanh nghèo sang Tây du-học, rồi từ đây nếu tôi tích trử được ít nhiều, hễ tôi coi có hội nào để lo mở mang công-ích cho đồng-bào, thì tôi cũng tìm cách ẩn danh gởi dâng cho Hội ấy. Nay may mà tôi gặp được thầy là người cao nghĩa, nếu thầy chăng chê tôi làm nghề đê tiện, thì tôi quyết kết làm sanh tữ đệ huynh, xin thầy chớ phụ.» Đổ-khắc-Xương nghe nói dứt lời, ngồi suy nghĩ một hồi rồi nói rằng: «Tôi xem cái việc cử thố của thầy đây thiệt là hào-hùng nghĩa-hiệp, chẳng phải kẻ tầm thường mà làm như vậy được đâu; nếu thầy chẳng chê tôi là kẻ nhu nhược mà tưởng đến tôi, thì tôi cũng nguyện kết làm bằng hữu.» Hạo-Nhiên nghe nói rất mừng, bèn hỏi thăm cho biết tuổi nhau. Té ra Nguyễn-hạo-Nhiên có 22 tuổi phải làm em, còn Đổ-khắc-Xương 24 tuổi lớn hơn, nên làm anh cho nhằm thứ tự; hai đàng gặp nhau ý hiệp tâm đầu, những mảng chuyện trò mà trời gần sáng. Hạo-Nhiên liền kêu gia-dịch hối làm gà vịt nấu cơm cho hai thầy trò Đô-khắc-Xương ăn, đặng có lên đường cho sớm; rồi day lại nói với Đổ-khắc-Xương rằng: «Anh em ta mới gặp, lẽ thì em phải làm một tiệc cho xứng đáng mà đãi anh và cầm anh ở lại chơi năm mười ngày mới là phỉ dạ; ngặt vì Bác quí-thể bất an, anh gắp đi thăm Bác, em chẳng dám cầm, nên phải tạm dùng đạm bạc, đôi ba món đồ hèn mà đưa anh thượng lộ.» Khắc-Xương khiêm nhượng vài lời rồi mới ngồi lại dùng cơm với nhau. Còn thằng Hành thì cũng ăn cơm nơi nhà sau với bọn gia-dịch.
— Hết chương 5 —
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương