Phần 6
Khi ăn uống rồi, Hạo-Nhiên bèn lấy số bạc của Khắc-Xương mà bọn lâu-la đã lục lưng thâu lấy hôm qua đem ra, hai tay trao lại cho Khắc-Xương, miệng cười chúm chím mà nói rằng: «Nầy là nguyên bích phụng huờn, xin anh cất lấy.» Đỗ-khắc-Xương cãm tạ chẳng cùng, rồi lấy bạc cất để trong lưng. Hạo-Nhiên lại lấy ra thêm hai trăm đồng nữa, đựng trong một cái dĩa để ngay giữa bàn mà nói với Khắc-Xương rằng: «Nầy là vật hèn chút đỉnh, của em tạm đưa huynh-trưởng đi đường, xin anh thâu nạp.» Đỗ-khắc-Xương quyết ý chối từ, mà không chịu lấy. Hạo-Nhiên cứ này nỉ năm ba phen, cực chẳng đã Khắc-Xương phải lấy nhón có năm chục đồng cho Hạo-Nhiên vui dạ. Rồi đó thầy trò mới xách đồ hành-lý từ giả ra đi, Hạo-Nhiên cùng đi cho tới bến ô-tô, lại mua giấy luôn ba người, theo đưa Khắc-Xương ra tới cữa Hàng (Tourane) là chỗ có bến xe lửa rồi mới trân trọng đôi lời, từ giả Khắc-Xuơng mà trở lại.
Khi Hạo-Nhiên trở về rồi, thầy trò Khắc-Xương mới lo mua giấy xe lửa mà đi ra cho tới Đông-hà, tới đó hết đường xe lửa, nên phải mua giấy ô-tô đi thẳng ra tới Vịnh (Nghệ-An). Rồi từ Vịnh mà ra Hà-nội thì lại phải đi xe lửa.
Trong lúc xe chạy rần rần, thằng Hành ngồi ngó mông hai bên, ngẩm nghĩ việc đời rồi cứ tũm-tĩm cười hoài. Đỗ-khắc-Xương thấy vậy hỏi rằng: «Em đắc chí việc gì đó lắm hay sao, nên cứ chúm chím cuời hoài vậy em?» Thằng Hành nói: Thưa cậu, tôi có việc gì đâu mà gọi là đắc chí. Nhưng tôi ngồi nghĩ lại ở đời, việc gì cũng vậy, hễ có trải qua rồi mới biết được sự dại khôn, từ hôm tôi theo cậu tới nay, chẳng có mấy ngày, mà tôi đã học được một sự khôn; hèn chi người ta nói:
Đi cho biết đó biết đây,
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.
Thiệt phải quá. Tôi từ lúc nhỏ ở với ông bà, hễ nghe tới cái tên Ăn cướp. Trời ơi! Ăn cướp! Thiệt tôi sợ hết hồn; ý tôi tưởng ăn cướp nó dữ tợn như hùm như cọp vậy kià. Nay tôi thấy cái đám ăn cướp mà bắt hai cậu cháu mình đây, rồi tôi mới biết khôn, nên tôi sóng lại với mấy ông quan hay sâu dân mọt nước, với mấy chú nhà giàu mà vi phú bất nhân, cho vay ăn lời cắt cổ, tiền phóng trái hậu đoạn mải, hoặc lợi tăng gia lợi mà siết họng nhà nghèo. Cậu xét lại cho rõ mà coi, thiệt quả cái lũ đó, nó còn ác hơn quân ăn cướp nữa đa cậu à! Phải hông cậu?» Đỗ-khắc-Xương nghe thằng Hành nói vậy cũng thấm ý mà tức cười.
Khi xe lửa tới bến Hà-nội rồi, hai thầy trò bèn xách đồ hành-lý dắc nhau ra đường, kêu xe kéo chạy đi tiềm nhà ông Hoàng-hữu-Tâm. Tiềm đến chỗ rồi hai thầy trò xách đồ ở ngoài ngỏ bước vô, Đỗ-khắc-Xương trong lòng nửa mừng nửa sợ, hồi hộp chẳng yên, không biết cha mình hôm nay bịnh thế thể nào, nên hễ bước vào gần tới chừng nào thì trong lòng lại nôn nao chừng nấy. Khi vào tới nhà rồi, nghe người nhà nói lại rằng cha mình nhờ có ông Hoàng-hữu-Tâm hết lòng lo lắng thuốc men, nên nay ông cũng đà thuyên giảm. Chừng đó Đỗ-khắc-Xương mới hết sợ lại mừng, bèn xin dắc vào cho tạn mặt cha. Hai cha con vừa thấy mặt nhau, vừa mừng vừa tủi, nước mắt rưng rưng. Một chặp lâu ông mới hỏi thăm qua việc nhà ấm lạnh. Đỗ-khắc-Xương bèn thuật hết việc nhà và tỏ hết việc đi đường cho ông nghe. Thằng Hành cũng vào thăm ông, ý nó cũng mừng quýnh, nên nói lia nói lịa, Rồi đó ông mới tính với Đỗ-khắc-Xương để ở lại nghĩ ngơi chừng năm ba bữa, cho ông uống thêm ít thang thuốc nữa, tinh-thần cho được hưng vượng vững vàng, rồi cha con sẽ đề huề dắc nhau về Nam-kỳ mà an dưỡng cùng thuốc men cho thiệt mạnh, nay bịnh ông tuy khá, song lo vì phong-thổ khác nhau, sợ mùa Đông cũng gần sắp tới đây, e ông chịu lạnh không quen mà phải khốn. Hai cha con còn đương bàn tính với nhau, kế nghe trẻ ở nói rằng ông Phán ở trên sở đã về. Đỗ-khắc-Thới liền gượng ngồi chờ dậy vịnh vai con đi ra nhà ngoài, rồi giới-thiệu Khắc-Xương cho ông Phán Hoàng-hữu-Tâm biết mặt. Khắc-Xương vội vàng cúi lạy ông Phán để tỏ lòng tạ ơn ông chiếu cố cha mình. Ông Phán cũng vội vã bước tới nắm vai Đỗ-khắc-Xương kéo lên, chớ ông không cho lạy: rồi bảo ngồi lại chuyện vãn mà chơi cho ông hỏi thăm việc kia cùng việc nọ; ông hỏi thăm qua tới cái vấn-đề kinh-tế ở Nam-kỳ, thì Đỗ-khắc-Xương bèn đam những đều lợi hại, những cơ tấn thối mà nói rót một hồi, thiệt là ngôn ngữ như lưu, ông Phán hết lòng kính phục.
Việc chàng ra Bắc cha con gặp nhau đã yên, còn chờ ít ngày cho tinh-thần ông khoẻ-khoắn rồi sẽ trở về Nam.
Đây ký giả xin nhắc lại việc nhà của nàng Từ-mộ-Trinh; từ ngày nàng nghe Đỗ-khắc-Xương mắc đi ra Hà-nội mà thăm cha chàng rồi, thì nàng mới bàn luận với mẹ, rồi xin tiền lén sai Lệ-Dung đem qua châu cấp cho mẹ chàng là bà Đoàn-Thị. Đoàn-Thị ban đầu còn từ chối mà không chịu lấy. Sau nghe Lệ-Dung tỏ hết tấm lòng từ-thiện của bà phủ và cái lòng tiết nghĩa trinh bạch của Mộ-Trinh: nên bà cũng cãm tình mà phải thọ ơn của hai mẹ con bà phủ.
Còn quan phủ, nhơn thấy Mộ-Trinh cứ đau giây dưa hoài, năm nầy sang tháng nọ, ông lo lắng thuốc men cũng hết sức, trông cho nàng mau mạnh mà gả phứt cho rồi; chẳng dè bịnh nàng đã không mạnh mà cũng chẳng thêm, chỉ cứ dả-dượi mải hơn mấy tháng trời, nên ông cũng chẳng biết làm sao, không lẽ đem con mà gả bướn.
Bữa nọ đương buổi giờ hầu, bổng nhiên ông tiếp được giấy của quan trên gởi xuống cho ông hay rằng ông đã tới kỳ hưu-trí. Được tin ấy ông lấy làm buồn bực chẳng cùng, ông liền trở về nhà tư, nằm ngữa nơi ghế dài, thở ra thở vào, mặt mày buồn xo, miệng không nhích mép. Bà phủ thấy vậy hỏi rằng: «Hôm nay có việc chi mà tôi coi ý ông buồn dữ vậy?» Quan phủ buồn quá không muốn nói, ngặt bà cứ theo hỏi hoài nên ông phải nói rằng: «Giấy lại rồi, tôi bị hưu-trí rồi, mụ cứ hỏi hoài.
— Mình làm quan hễ tuổi lớn rồi, ngày tháng đủ rồi thì phải hưu-trí, ấy là luật nước xưa nay, tưởng cũng là lẽ thường, sao ông lại buồn?
— Không buồn sao được, mình đương làm quan phải đến! Không tội lỗi gì! Khi không, khi khổng, khi khồng, vậy rồi họ bắt mình hưu trí; không đáng buồn sao?
— Tánh ông sao kỳ quá! khác hơn ai hết!
— Sao lại kỳ? Sao lại khác??
— Ông còn ham danh chác lợi quá! Vã bấy lâu ông những mảng xăm xuối nơi hoạn đồ, lo bề tấn thối, sợ việc nên hư nhựt dạ tân cần, lao thân tiêu tứ; nay ông tuổi đã trộng rồi mà được giấy về hưu; thì từ đây ông sẽ được hứng chí duỡng nhàn, vô câu vô thúc, vô lự vô ưu, tiêu diêu tự tại; chẳng tốt lắm sao?
— Mụ ỷ mụ biết ba cái chữ nho rồi mụ cứ chưng chữ nho với tôi hoài. Mụ nghĩ lại mụ coi, hễ mình về hưu đây thì mình đã hết quyền rồi, không ai sợ mình nữa, làng tổng họ cũng hết tới lui với mình. Vậy không buồn sao?
— Tôi nói ra thì tôi e mang lỗi với ông, chớ thiệt tánh ông khó quá, tôi có nói phải cho lắm ông cũng nói tôi nghịch ý. Tự cổ chí kim, tự Âu chí Á, đời nào cũng vậy, mà nước nào cũng vậy, ai ai cũng như nấy, chớ ai lại sợ ai; sợ là sợ phải chớ ai đi sợ quấy, sợ đều công-lý, chớ ai sợ lẽ cường-quyền; giã như ông làm một ông quan, mà trên vì nước dưới vì dân, lợi dụng lấy cái quyền của mình mà chấn chỉnh những sự lợi ích cho dân, làm làm sao cho dân hưng phú thứ, quốc tấn văn-minh; thì cái quyền ấy người ta mới sợ. Chớ như mấy cậu ra làm quan rồi mà không biết đều liêm-sĩ, không giữ cái tư-cách của mình, cứ đem cái quyền ra mà khổ khắc lương-dân, chuyện chết nói sống, chuyện sống nói chết, chuyện không nói có, chuyện có nói không, mỗi mỗi cũng cậy cái quyền của mình mà sâu dân mọt nước. Cái quyền như thế ai lại khốn gì mà sợ.
Bỡi vậy cho nên, dầu làm quan cũng vậy, mà không làm quan cũng vậy, hễ người mà có chí khí quân-tử trượng-phu, dám đem mình mà hi-sanh cho quốc-gia xã-hội, thì chẳng nói một quận hay là một tĩnh mà thôi, toàn thể quốc-dân cũng phải tôn sùng kính sợ. Chớ những người tham-lam dối giã, không tu ố, chẳng nghĩa nhân, thì dầu cho có ở nhà lầu, có mão cao áo dài, lên xe xuống ngựa đi nữa, thì người ta cũng cho là bọn lục lục dung thường, túi cơm giá áo, chớ ai lại sợ bao giờ? Chí như nay mà mình đã hồi hưu dưỡng lão rồi, dầu cho làng với tổng có tới cùng không lại hà ích?
— Cha chã! Mụ nầy là đờn-bà mà mụ nói sao tôi nghe hơi cách-mạng quá chớ phải chơi gì! Thôi, dẹp mụ đi nà!»
Bà phủ thấy ông đà đổ quạu, nên bà cũng chẳng nói nữa làm chi, bèn làm thinh bỏ đi vào nhà trong mà nói cho Mộ-Trinh với Lệ-Dung hay việc ấy.
Nghe được tin như vậy, Lệ-Dung rất mừng thầm, bèn chờ lúc đêm vắn canh khuya, vỗ vai Mộ-Trinh, miệng cười chúm-chím mà nói rằng: «Nầy chị, em xin chúc mừng cho chị đó».
Từ-mộ-Trinh nghe nói ngạt nhiên, bèn hỏi rằng: «Chuyện chi mà em mừng cho chị?
— Chuyện bà nói với chị em mình hồi trưa đó, ông được giấy về hưu rồi.
— Ậy! cha chị được giấy hưu-trí, sao em lại mừng cho chị là mừng nỗi gì?
— Chị quên rồi hay sao? Nhơn-tình buổi nầy họ tham lắm, cái sự tham của họ, nói chẳng hay cùng; kẻ có tiền thì họ tham thêm quyền-tước, kẻ có quyền-tước thì lại tham tấm bạc đồng tiền; còn những bọn đăng đồ tử-đệ là bọn làng-chơi, nó lại tham về đều sắc-dục. Ông huyện hàm Ngọt mà muốn làm suôi với ông đây là ổng thấy ông có quyền, còn công-tử Chanh mà muốn chị đó là hắn thấy chị có sắc. Nay vì chị đau lâu, sắc chị đã sụy, còn ông hưu-trí thì quyền ông cũng hết. Như thế thì bên nhà đó họ còn cưới chị mà làm gì? Em chắc rồi đây, bề nào họ cũng làm lơ, thế thì cái tình của chị với chàng Đỗ sau nầy cũng còn có chỗ hi vọng được, sở dĩ có bấy nhiêu đó nên em mới mừng chớ.
— Nầy em ơi! Nếu được như lời em nói đó, ấy là hạnh phước của chị đa em; song việc nầy thì chị em mình biết mà thôi, cũng nên để vậy mà coi, chớ em đừng có nói với ai, nếu cha chị mà hay được thì ắt ghét em, mà hễ người không ưa em rồi, thì chị em mình không dễ gì mà gần nhau được nữa đa em.»
Qua bữa sau quan phủ nghe tin có quan huyện Cường ở Saigon xuống thế cho ông, đã tới tĩnh rồi, ngày mai sẽ đáo nhậm. Hay tin có người xuống thế rồi, ông bèn bảo bà và Trần-lệ-Dung coi thu xếp việc nhà và sai người đi mướn ghe mướn bạn, chở hết đồ đạc xuống ghe cho sẵn. Kế thấy có ít ông hương-chức sở tại đến thăm, làm tuồng quyến luyến gọi là, trầu nước một hồi rồi về ráo.
Sáng ra ngày kế đó, vào lối 8 giờ, quan huyện Cường đi ô-tô xuống tới; hai đàng giao lãnh các việc trong quận xong xuôi. Quan phủ bèn bảo bà ở lại đi ghe với Trần-lệ-Dung mà coi chừng diều đở Mộ-Trinh, kẻo nàng còn yếu lắm. Ông ở lại một mình đi xe lên tĩnh, từ giả anh em rồi mới đi xe lửa lên Saigon, rồi cũng đi xe lửa thẳng về Biên-hòa đặng coi chỉnh đốn cữa nhà mà chờ gia quyến.
Cách ít ngày ghe bà về tới, hối bạn dọn đồ lên nhà, sắp đặt đâu đó yên rồi, mới trả tiền và cho ghe về Mỷ. Từ đây quan phủ chẳng có lo chi hơn là lo thuốc thang cho con mau mạnh. Còn Từ-mộ-Trinh, nay tuy trong mình tinh-thần đã bình phục được nhiều, song còn lo sợ bên trai, nếu hay tin mình mạnh mà cưới gắp đi chăng, nên nàng cũng cứ giả đau luôn cho qua ngày tháng.
Còn chàng Đỗ-khắc-Xương ở tại Hà-nội với cha hơn trót tháng, lo nổi mẹ ở nhà hiêu quạnh một mình, bèn bàn luận với cha, tính từ giã ông phán đặng xuống Hãi-phòng, để tháp tùng tàu khói mà về đường biển, vì chàng ta có coi nhựt-báo, biết còn có vài ngày thì tàu sẽ lấy neo, bèn tỏ lại cho ông phán hay; ông phán cũng chẳng dám cầm, bèn lấy ra 2 trăm đồng bạc với một láng quế Thanh, trao cho Đỗ-khắc-Xương bảo cất lấy đem về, để lo thuốc thang mà bổ dưỡng cho ông mau mạnh. Hai cha con Đỗ-khắc-Xương đều lấy làm cảm tình ông phán chẳng cùng.
Sáng ra bữa sau, hai cha con bèn tạ từ ông Phán rồi hối thằng Hành xách đồ hành-lý ra nhà ga mua giấy xe lửa đi xuống Hải-phòng. Ông phán Hoàng-hữu-Tâm cũng theo đưa xuống tới Hải-phòng và đưa thẳng xuống tận bến tàu, hai đàng đều quyến luyến nhau, kẻ ở Bắc người về Nam, tình dang-diếu nói sao cho xiết.
Khi tàu gần lấy neo rồi anh em mới đành dứt tình kẻ ở người đi, đinh ninh trân trọng vài lời rồi mới bắt tay nhau mà từ biệt.
Ông Phán thì trở về Hà-nội, còn cha con Đỗ-khắc-Xương với thằng Hành thì lại ngồi tàu mà trở lại Nam-kỳ, may nhờ gió thuận sóng êm, tàu chạy thẳng thét 3 đêm 3 ngày thì đã tới Saigon; cha con liền dắc nhau lên bờ, kêu xe chạy qua chợ-mới Saigon vào nhà Lữ-quán nghỉ ngơi mà chờ xe lửa.
Qua 4 giờ chiều, cha con liền kêu thằng Hành sắm sửa, rồi xách hành-lý ra ga, mua giấy lên xe, đúng 4 giờ rưỡi thì xe phát chạy; xuống tới Mỹ-tho là 6 giờ rưỡi tối, rồi lại phải mướn một cái xe hai bánh, cha con đề huề dắc nhau lên xe, về tới nhà thì đã gần 10 giờ. Bà Đoàn-Thị thấy chồng con về tới thì mừng rở chẳng cùng, liền hối con Hoa đi nấu nước, rồi bà hỏi thăm các việc lăng-xăng, xóm diềng ai nấy nghe tin ông về cũng đều rủ nhau tới mừng, chuyện vản rùm nhà, ấy là lẽ tự nhiên, đâu đâu cũng vậy. Nhơn thấy ông trong mình còn yếu, phần thì đi đường biển giã sóng gió xa xuôi; cho nên trầu nước một hồi rồi rủ nhau ra về mà để cho ông an nghỉ.
Cách ít ngày nhơn lúc rảnh rang ông bèn hỏi lại việc nhà, nghe nói tới việc em ruột của mình là Đỗ-thị-Bườn với em rể là Phùng-văn-Chỉnh, cả hai vợ chồng đều đối đãi với con mình một cách rất gắt gao khắc bạc như vậy, thì ông tức giận tràng hông, bèn nói lớn lên rằng: «Thiệt vợ chồng con Bườn với thằng Chỉnh nầy quả là loài cầm thú, chẳng có chút lương-tâm, chúng nó trọng đồng tiền hơn là cốt nhục:» Ông nói mới tới đó, thình lình máu đâu trong miệng trào ra hơn cả tô, làm cho ông té xỉu, tay chơn lạnh ngắt, bất tỉnh nhơn sự. Bà Đoàn-thị với Đỗ-khắc-Xương kinh hồn hoãng vía, lật đật kêu thằng Hành với con Hoa xúm lại khiêng ông vào giường, lấy sâm quế đổ cho ông uống, rồi hối thằng Hành mướn xe đi rước ông nhiêu Lân về coi mạch hốt thuốc cho ông.
Ông nhờ có uống được sâm quế vào, cho nên trong giây phút tay chơn ấm đều rồi ông cũng lần lần tỉnh lại, song ông cứ lấy hai tay vuốt ngực và lắt đầu hoài chớ chưa nói chi được hết. Bà Đoàn-thị cứ ngồi bên cạnh mà vuốt ngực cho ông và kiếm lời an ủi khuyên giải ông rằng: «Xin ông đừng có giận nữa làm chi, có giận cho lắm thì lại thiệt mình, chớ chẳng ích gì, nó có ở vậy, để cho trời xét xem cho nó.»
Còn Đỗ-khắc-Xương thì xăng-văng lo sợ, chạy ra chạy vào mà trông chừng ông thầy thuốc. Một chặp lâu, nghe có tiếng xe ngừng ngoài cữa, Đỗ-khắc-Xương định chắc là xe của thằng Hành đi rước thầy thuốc đã về, bèn lật đật chạy ra, thấy ông nhiêu Lân đã bước xuống xe, tay ông cầm cây dù, ngoài trắng trong xanh, đầu ông bịch khăn đen mà khăn đóng, mình ông bận một cái áo xuyến đen, dưới ông bận cái quần nhiểu trắng nhùn-nhục, chơn ông đi đôi giày hàm-ếch da láng, gió thổi phê cái vạc áo trước của ông lên, thấy ông có mang một cái hồ-bao kiểu xưa với buộc một sợi dây lưng màu lông két; bàn tay trái của ông để móng đủ cả 5 ngón rất dài, ông dở lên dở xuống, mấy móng tay khua nhau nghe lắc-cắc. Ông nhiêu ngoài ngỏ lơn xơn đi vào, Đỗ-khắc-Xương liền chắp tay mà chào rồi mời ông đi thẳng vào nhà hối con Hoa rót trà đem ra cho ông xơi và nói rằng: «Xin bác trầu nước rồi vào coi giùm mạch cho cha tôi coi thể nào.» Ông nhiêu Lân gặt đầu, xơi nước một hồi rồi đứng dậy đi theo Khắc-Xương vào phòng mà coi mạch. Ông nhiêu coi đủ hai tay, lại còn quang sắc diện một hồi nữa rồi mới đứng dậy ra ngoài, ngồi lại chỗ củ, lấy thuốc giấy ra, và vấn thuốc và nói rằng: «Bịnh của anh đây nguy lắm, lục mạch đều suy, bác sợ cứu không được.» Đỗ-khắc-Xương nghe nói nước mắt rưng rưng rồi nói rằng: «Xin bác ráng hốt giùm cho cha tôi ít thang, dầu hao tốn bao nhiêu tôi cũng không nệ, miễn làm sao cho cha tôi mạnh được thì thôi.» Ông nhiêu Lân lại nói: «Bịnh của anh đây, phải có sâm quế cho thiệt tốt, và địa cũng cho được địa cữu chưng cữu sái thì mới dám dùng, nếu dùng những địa chưng không đúng phép như của mấy ông thầy lôi thôi đó vậy, thì không những là đã không hay ho gì, mà nó lại còn làm cho nê tỳ thêm mà phải khốn; huống chi bịnh của anh là bịnh thùy nguy, nếu nó sanh thêm một chứng nê tỳ nữa thì còn chi mà kể; sẵn ở nhà bác cũng còn để dành được ít lượng, để phòng trị mấy bịnh nguy, mới hôm trước đây có quan Đốc-phủ-Dỏi ở trên Cái-bè cũng bị lạc huyết, thầy thuốc họ biết nhà bác có để địa tốt, họ điềm chỉ nên bà Đốc-phủ có cho người đi ô-tô xuống này bác hết 4 lượng mà ba mươi hai đồng. Nay còn đâu lối chừng vài ba luợng gì đó, cũng đủ dùng mà trị bịnh của anh; duy có quế bây giờ đây thiệt không biết ai có quế tốt mà này.» Đỗ-khắc-Xương nói: «Việc quế xin bác chớ lo, vì hôm tôi ra Bắc mà rước cha tôi đó, thì bác Phán của tôi ở ngoải thấy cha tôi thường hay ươn yếu, nên có cho tôi một láng quế Thanh thiệt tốt, dặn tôi đem về để dành cho cha tôi uống.» Và nói và chạy vào mở rương lấy láng quế đem ra trao cho ông nhiêu Lân và nói rằng: «Đây bác, hồi cha tôi xỉu đó, tôi có cạo hết một chút mà cho cha tôi uống, nên cha tôi mới tỉnh lại đó đa.» Ông nhiêu Lân cầm láng quế coi đi coi lại một hồi rồi tỏ ý mừng mà nói rằng: «May phước quá! ở đâu lại có quế sẵn như vầy thiệt cũng là may, quế nầy thiệt là quế Thanh đó đa cháu à! Vậy chớ bấy nhiêu đây bây giờ mà đi này họ một trăm đồng cũng không được nữa đa cháu. Được đa, vậy cháu đem vào gói cất cho tữ-tế nghé! À quên! Để bác cắt ra sẵn một chút cho cháu biết, đặng sau có liệu chừng mà cắt theo.» Nói rồi liền lấy dao bén cắt ra một miếng, đưa cho Khắc-Xương mà dặn rằng: «Nầy cháu, mỗi bữa cháu cũng cắt độ chừng bằng miếng nầy đây vậy, rồi cạo ra để trong cái chén nhỏ, đổ nước vào mà chưng riêng nó ra, hễ thuốc sắc tới rồi thì trúc nó vô hòa với thuốc mà cho anh uống; sâm cũng phải làm như vậy, chớ đừng có sắc chung với thuốc không tốt đa. Thôi, cháu nói với chị, để cho bác kiếu bác về, còn thân-chủ họ chờ bác ở bên nhà cũng bộn; thằng Hành đâu? Đi theo ông qua bên nhà mà lấy thuốc con. Thôi, bác về nghe cháu!»
Ông nhiêu Lân ra về, Đỗ-khắc-Xương theo đưa ông ra xe; ông nhiêu bèn nói nhỏ với Khắc-Xương rằng: «Nầy cháu, bịnh của anh nguy lắm đa cháu, nhưng mà nhờ có địa tốt quế tốt; nhờ Tổ, bác cũng ráng làm thử ít thang coi, như anh chịu được một mùa đông nầy, hễ bước qua xuân thì anh mạnh được, nếu không thì nội trong mùa đông tới đây, bác sợ anh qua không khỏi đa cháu; nhưng bác thấy cháu nói lắm, nên bác cũng ráng cho hết tình, nhờ trời chớ biết sao bây giờ. Thôi, cháu đi vô, để cho bác về kẻo thân-chủ họ đợi.»
Ông nhiêu Lân về rồi, Đỗ-khắc-Xương trở vào, thấy cha nằm thiêm-thiếp thì nước mắt chảy ra ròng ròng. Bà Đoàn-thị thấy vậy cũng bệu-bạo mà hỏi con rằng: «Sao con? Anh nhiêu ảnh coi mạch cho cha con rồi ảnh nói sao đó? Nặng hay nhẹ vậy con?» Đỗ-khắc-Xương vì sợ mẹ rầu nên không nói thiệt, liền kiếm lời mà nói trớ cho mẹ an lòng, bèn nói rằng: «Thưa má, không hề chi đâu, bác nhiêu bác nói, tại cha con đau ở ngoài Bắc xưa rày, sức cũng đà yếu kế lại bị đi tàu từ Bắc vào Nam, xa xuôi biển giả; về nhà nghỉ chưa được mấy ngày, kế bị việc xúc tâm mà giận quá nư nên mới ra như vậy; sẵn có sâm tốt quế tốt, bác hốt một thang cho cha con tỉnh lại, rồi bác hốt bổ luôn thêm ít thang thì mạnh, chớ không sao đâu, xin má chớ rầu mà sanh bịnh hoạn.» Hai mẹ con còn đương bàn luận với nhau, kế thấy thằng Hành đã đam thuốc về, Đoàn-thị không dám phú thát cho con Hoa, vì e nó dại khờ mà sắc không đuợc kỷ-lưởng, nên bà phải bổn thân đi sắc thuốc cho ông; sâm, quế cũng chưng riêng theo như lời ông nhiêu đã dặn, khi thuốc tới rồi, bà bèn hòa hai món kia vô, chờ cho nguội bớt rồi mói đem vào cho ông uống.
Mà ông nhiêu Lân hốt thuốc thiệt tài, cho nên ông Đỗ uống thuốc hồi đâu hôm, qua lối canh ba ông đà tỉnh lại và than đói bụng, bà bèn đi lấy cháo đã nấu sẵn đem lại cho ông ăn. Ông ăn được ít muổng cháo vô rồi tinh-thần ông coi đã có hơi khỏe khoắn. Rồi từ đó mỗi ngày cũng cứ hốt thuốc luôn luôn, tuy ông nhẹ vậy chớ chưa đi vô đi ra chi được.
Một ngày kia Đỗ-thị-Bườn, nghe tin anh mình đã về mà đau, nên dùng dịp đi đòi nợ mà ghé thăm coi bịnh anh nặng nhẹ. Nguyên Đỗ-khắc-Xương biết cha mình mà thổ-huyết hôm nọ đó cũng vì giận cô mình, nếu nay mà thấy mặt cô mình, thì ắt là khốn nữa. Bèn kiếm chuyện mà nói sướt đặng gạt cô mình rằng: «Cha tôi bị bịnh thổ-huyết, nên cứ mệt hoài, ông thầy thuốc ổng dặn đừng cho ai vô, để cho cha tôi tịnh dưỡng, nếu có ai vào ra hơi lạ thì nó bắt mệt mà làm xung khó lắm, vậy xin cô chớ có vô đó làm chi, để ráng ít ngày cho cha tôi nhẹ bớt đã.» Đỗ-thị-Bườn ngồi đó xớ rớ một hồi rồi bỏ ra về mất.
Cách ít ngày Đỗ-khắc-Xương nhơn thấy bịnh cha mình chưa thiệt mạnh, song coi thế cũng khoẻ lần, bèn đi thăm lối xóm mà tạ ơn chiếu cố mẹ mình trong cơn mình đi khỏi; rồi nhơn dịp mới hỏi thăm qua nàng Từ-mộ-Trinh thì nghe người ta nói nàng ấy vẩn còn đau hoài chớ chưa thiệt mạnh; còn quan phủ thì đã được giấy về hưu, nên ông đã mướn ghe chở gia-quyến và đồ đạc mà đi hết rồi; nghe nói ông về đâu trên Biên-hòa là xứ sở của ông. Đỗ-khắc-Xương nghe nói trong lòng ngùi ngùi, lo vì đường sá xa xuôi, từ đây góc biển ven tròi, khó nổi thơ nhàn tin cá, vì chàng có nghe mẹ chàng nói rằng trong lúc chàng đi khỏi, ở nhà mẹ con bà phủ vẩn có châu cấp cho bà nhiều ít; nên chàng lập tâm đã sẵn, chờ cho cha mình thiệt mạnh rồi sẽ tìm lên Biên-hòa, trước là thừa dịp để tạ ơn bà, sau là dọ thăm tin tức của nàng coi ra thể nào cho biết.
Chẳng dè qua lối tháng mười một, nhằm tiếc trọng-đông, bịnh ông trở nặng quả như lời ông nhiêu Lân đã nói trước với chàng; càng ngày coi càng nặng, thuốc uống như không, chừng ấy ông nhiêu Lân cũng thúc thủ. Đỗ-khắc-Xương vì nóng ruột thương cha, nên lo rưóc đã nhiều thầy, mà ông nào cũng chạy hết.
Qua đến rầm tháng chạp, vào lối canh ba, ông liệu biết trong mình, thế chịu không kham, bèn kêu vợ con vào tận bên giường, trối lại một đôi lòi, rồi nhắm mắt theo ông theo bà mà về cỏi Phật.
Lúc bấy giờ, bà Đoàn-thị nhào lăn ôm chồng mà khóc, còn Đỗ-khắc-Xương thì lụy ngọc dầm dề: hai đứa ở trong nhà cũng khóc kể rùm nhà, lối xóm hay được chạy tới thấy vậy cũng đều rơi lụy.
— Hết chương 6 —
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương