Truyện Đỉnh

📚 Tiểu thuyết theo chương

Tài mạng tương đố — Phần 8

Tài mạng tương đố · Chương 8/10 · của Nguyễn Chánh Sắt

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 21.198 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:03Đây nhắc qua việc quan phủ Từ-thế-Anh, từ ngày…
  2. 4:12Khi chôn cất ông xong rồi, bà cũng nghe…
  3. 7:08Nguyễn-hữu-Thân
  4. 12:46Đây nhắc lại việc bà phủ, đỗi đường xa…
  5. 14:57Hồi còn ở nhà con cũng đả có nói…
  6. 17:21Thưa thầy, anh rể tôi đương làm việc ở…
  7. 18:17Thưa thầy, phàm hể ăn no rồi mà cứ…

Phần 8

Đây nhắc qua việc quan phủ Từ-thế-Anh, từ ngày hưu trí, về ở tại Biên-hòa, đã hèn lâu mà không nghe tin tức bên trai chi hết.

Một buổi chiều kia, ông đi chơi về, sao nghe có hơi xây xẫm nhức đầu, tưởng lây lất chút đĩnh rồi thôi, không dè nó đệm ông luôn trót hai tháng trời, bà phủ lo sợ, cầu thầy chạy thuốc cũng hết phương, mà coi thế bịnh của ông càng ngày càng trầm trọng. Lúc nầy Từ-mộ-Trinh trong mình cũng mới vừa khá khá kế thấy cha nàng đau nặng, cho nên nàng cũng lo sợ mà khóc hoài.

(Mà thường con người ta ở đời, lúc còn đầu xanh tuổi trẻ, niên tráng lực cường, thì ai ai cũng liều sống cố chết, xẩn-bẩn trong 4 cái vách tường mà tranh danh đoạt lợi với nhau; có kẻ dám đam tới tánh-mạng mà đổi lấy đồng tiền, ấy cũng vì cái túi tham không đáy, nhan nhản của thói đời cho nên bạ chi làm nấy, chẳng kịp nghĩ suy. cứ sấn sướt làm càn, không đắn đo phải quấy. Đến khi việc đã đáo đầu rồi, thì chừng ấy mới là tỉnh ngộ. Hoặc để cho đến giờ lâm-chung thì mới biết ăn năn, thiệt là muộn quá).

Một đêm kia quan phủ Từ-thế-Anh, nhơn biết trong mình thế không chịu nổi, bèn kêu hết vợ con và Trần-lệ-Dung vào tận bên giường mà than rằng: «Mụ ôi! Từ ngày tôi hưu-trí mà về đây tới nay, cuộc hôn-nhơn của con gái mình, tôi coi ý bên trai họ thấy tôi hết quyền rồi mà họ làm lơ, nên không thấy tin tức gì của họ nữa hết; lúc tôi chưa đau, tôi cũng có gởi cho quan Đốc-phủ Phạm-nhứt-Thanh đôi ba cái thơ, cũng không thấy ông trả lời; thiệt tôi thấy cái nhơn-tình mà tôi chán ngán. Nay tôi hồi tâm nghĩ lại mà thương cái lòng nghĩa của Đỗ-khắc-Xuơng, tội nghiệp cho nó quá, đã hai phen liều mình mà cứu mạng cho Mộ-Trinh; cũng bỡi tôi bất minh trong một lúc mà làm cho lở làng duyên phận của con; nay nghĩ lại mà ăn năn đã muộn, vậy hễ khi tôi mà có nhắm mắt đi rồi thì mụ phải đem hết những đồ nữ-trang của họ buộc tay cho con mình lúc nọ mà tôi để trong một cái rương sắt nhỏ kia, đến nhà dây thép gởi trả cho Huyện-Ngọt, vã lại đồ đó là đồ trượng tiền, nên phải gởi theo cách khai-giá-minh-bạch (valeur déclarée) cho chắc ý và viết một bức thơ mà từ hôn luôn đi; rồi tìm cho được Đỗ-khắc-Xương mà cho hai trẻ nó thành hôn, để đền đáp ơn chàng cho toàn chung toàn thỉ; và mụ nói với nó, xin nó hãy thứ cái tội tham phú phụ bần cho tôi, thì tôi mới được an lòng nơi chín suối.» Nói đến đây nước mắt ông chảy ra dầm dề, coi ý ông mệt lắm, nên ông nín êm mà nghĩ một hồi. Lệ-Dung liền đem chén nước sâm cho ông uống.

Một chặp lâu ông khỏe, bèn kêu Lệ-Dung lại gần rồi vói nắm tay nàng mà nói rằng: «Nầy con, từ ngày con vào ở với ông bà đến nay, cũng đã năm sáu năm trời, mà ông với bà cũng đều thương con như con ruột vậy bỡi vậy cho nên, ông bà mới để cho con lên ở nhà trên mà bậu bạn với chị hai con; nó ăn chi con ăn nấy, nó bận chi con cũng bận nấy, bấy nhiêu đó, tưởng khi con cũng đủ biết cái lòng của ông bà đối đãi với con là thể nào rồi; vậy nếu chẳng may mà ông có theo ông theo bà rồi, thì từ đây con cứ kêu bà con bằng mẹ, ấy là ông đã nhận con làm con rồi đó, đừng có kêu bằng ông bà như trước nữa nghe con! Rồi chị em con cũng cứ yêu thương hòa thuận nhau, ráng cho hết lòng mà nuôi lấy mẹ con kẻo tội nghiệp!» Lệ-Dung nghe ông nói tới đó thì khóc mùi, liền cúi xuống lạy ông, nước mắt tuông ra như suối chảy. Mộ-Trinh với bà phủ cũng khóc ròng. Rốt sau hết ông mới kêu Mộ-Trinh lại gần rồi ông vuốt-ve nàng mà nói một cách rất thê thảm rằng: «Thôi, con ở lại phải ráng mà nuôi dưỡng mẹ con và phải thương lấy em con luôn, trước sao sau vậy; chí như việc hôn-nhơn của con thì cha đã dặn mẹ con rồi, cha không cần nói nữa; cha chỉ còn lo có một đều nầy nữa mà thôi. Vã con là con, mà con biết ở với cha hết lòng hiếu thuận; còn cha đây là cha, mà cha chẳng biết ở với con cho được từ-hòa; xét ra cái phận làm cha mà đối đãi với con như vậy, thì cha cũng không tránh sao cho khỏi lỗi. Vậy thì con phải hứa mà xá cái lỗi ấy cho cha, thì cha mới an lòng mà nhắm mắt đó con ôi! Người xưa có nói: Điểu chi tương tử kỳ min giã ai, nhơn chi tương tử kỳ ngôn giã thiện. Vậy những lời mà cha đã trối với ba mẹ con con đây, thì ba mẹ con phải ghi nhớ, mựa chớ bỏ qua, được như vậy thì dầu cha có thác đi nữa, thiệt cha cũng ngậm cười nơi chín suối!» Nói tới đây thì đàm đã kéo lên, làm cho ông trực thị một hồi lâu, mới thở dài một tiếng rồi nhắm mắt lại, riu-ríu mà qua đời.

Ba mẹ con bà phủ nhào lăn, than khóc rùm nhà, xóm làng tựu tới rất đông, kẻ giúp việc nầy, người giùm chuyện kia, lo mua sắm quách quan mà tẩn liệm.

Khi chôn cất ông xong rồi, bà cũng nghe theo lời ông dặn, gởi thơ cho ông huyện Ngọt mà từ hôn và cũng gởi hết đồ nữ-trang trả lại, không hề vi sơ một món.

Vả lại quan phủ lúc còn sanh tiền, tánh tình huy hoát, ăn xài lảng phí, không hay đáy để chút nào, nên khi ông được về hưu, thì ông chẳng có của dư như mấy ông khác vậy. May nhờ lúc nọ, bà chắt lót giấu để ít nhiều, rủi bị ông đau lâu, nên bà phải đem ra lo chạy thuốc than, đến khi ông mãn phần rồi, cuộc tống táng vừa xong thì của bà tích trử bấy lâu cũng gần muốn hết. Phần thì ba mẹ con yếu đuối, lại là dòng-dỏi trăm-anh, không quen tay lấm chơn bùn, biết lấy chi mà độ nhựt; mẹ con trong lòng buồn bực, vì lo câu tọa thực sơn băng. Nhưng mà cũng may vì hai chị em biết giỏi nghề mạng vớ thêu khăn, nên gắn công thức thối làm rồi đem bán kiếm ăn, cũng đở qua ngày tháng được.

Lần hồi ngày tháng như thoi, bóng thiều-quang đưa rất lẹ, lật-bật mà cũng gần ngày làm tuần bá nhựt cho ông. Ba mẹ con lo rầu, không biết lấy chi mà làm tuần tự. Còn đương ưu lự, thoạt đâu lại có một tên lính làng, đem giấy của nhà thơ dây thép đến, kêu Từ-mộ-Trinh phải đến tận nơi mà lãnh một phong thơ rờ-com-măn-đê. Mộ-Trinh không biết là thơ của ai gởi đến cho mình mà lại gởi rờ com-măn-đê cũng lạ. Nàng bèn sắm sữa đi đến nhà thơ, ký tên vào sổ mà lãnh cái thơ ra rồi, coi kỷ lại thì té ra là thơ của cậu ruột mình là ông huyện Nguyễn-hữu-Thân, ở Bắc-ninh, thuộc về địa-phận Bắc-kỳ, đề gởi cho tên nàng nhận lãnh. Nàng mừng khắp khởi, liền xé ra coi, thấy trong cái thơ lại có một cái măn-đa một trăm rưởi đồng của cậu mình gởi vào cho. Sẵn dịp đó nàng ký tên mà lãnh luôn bạc ra, rồi mau mau quày-quả về nhà mà nói lại cho mẹ với em hay mà mừng với nhau. Bà phủ nói: «Hôm đó má bảo con viết thơ gởi ra cho cậu con hay tin cha con mất vậy thôi, chớ má có xin tiền xin bạc chi đâu, mà cậu con nó lại gởi bạc cho mẹ con ta nhiều lắm vậy? Đâu nà, con đọc hết cái thơ của cậu con lại cho má nghe thử coi; hay là nó gởi mượn mua đồ giùm cho nó như mấy năm trước vậy chăng?» Mộ-Trinh thưa rằng: «Không mà, cậu ba cho mình thiệt má à, con coi kỷ cái thơ rồi, cậu ba biểu mẹ con mình ra ngoải nữa. Mà thôi, để con đọc kỷ lại cho má nghe.» Mộ-Trinh nói rồi liền lấy thơ đọc rằng:

Bắc-ninh, le: 192...

«Kính thăm chị hai và hai cháu cho được bình an, mới hôm trước đây em có tiếp được thơ của cháu gởi ra cho em hay rằng anh phủ đã mất lộc rồi, thiệt em cũng lấy làm buồn cho chị và hai cháu; song em coi lại cái thơ thì té ra anh phủ mất đã hơn hai tháng rồi chị mới cho em hay; nên em không hiểu tại sao mà chị để trễ lâu mới cho em hay như vậy.

«Trong thơ em lại thấy cháu nó than rằng anh phủ mất rồi mà chị với cháu phải chịu nghèo vậy vậy. Nên em phải mau mau mua măn-đa gởi về cho chị một trăm rưởi đồng, để dùng mà đở ngặt; vã lại bây giờ đầu đuôi mình còn có hai chị em mà chị ở Nam em ở Bắc, thiên san vạn hải, cách trở xa xuôi, vậy thì hay hơn là chị bán hết nhà cữa rồi dắc hai đứa cháu ra đến Bắc-ninh mà ở với em cho gần gủi, bề nào cũng tình thâm cốt nhục với nhau; xin chị và cháu hãy tính cho sớm mà ra đây, mựa đừng dụ dự, em hết lòng trông chị chẳng cùng, nay kính.»

Nguyễn-hữu-Thân

Tri-huyện à Bắc-ninh.

Bà phủ nghe con đọc thơ rồi, bà có lòng mừng, bà tính để làm tuần bá-nhựt cho ông rồi sẽ kiếm người mà bán cái nhà, đặng đi ra Bắc mà ở với em cho gần gủi. Còn Mộ-Trinh khi nghe bà tính như vậy thì buồn, bèn thưa với mẹ rằng: «Má tính vậy thì con không dám cải, chớ mẹ con ta mà đi hết đây rồi, thì cha con ắt chịu mồ hoang cỏ lạnh.» Nói tới đó thì nàng lấy khăn ra mà lau nước mắt, rồi lại nói tiếp thêm rằng: «Huống chi cậu huyện tuy là em ruột của má mặc dầu, song má cũng phải phòng cái lòng dạ của em dâu; như may mà mợ ba là người hiền-đức thì chẳng nói làm chi, nếu mợ ba mà cũng như người đờn-bà tầm thường kia vậy, thì con e ở lâu cũng bất tiện lắm má à. Vậy chớ má quên câu: Cửu trú lịnh nhơn tiện, tần lai thân giả sơ rồi hay sao má?» Bà phủ nói: «Con nói vậy cũng phải, nhưng má nghỉ lại cũng không sao; nay con phải viết thơ mà hồi âm cho cậu huyện con rõ; nói rằng mẹ con ta để chờ bán cho được cái nhà đã rồi sẽ đi ra; trả lời trước như vậy đi, kẻo cậu huyện con ở ngoải nó trông, rồi lo làm tuần bá-nhựt cho cha con, lại kêu thợ hồ đặt soát cho nó chừng một trăm đồng, bảo nó mua đá, gạch và xi-măng mà xây đơn-sơ cái mộ của cha con cho ấm cúng; má tính vừa làm tuần vừa xây cái mộ cho cha con thì ắt tiêu mất hết cái số bạc một trăm ruỡi đồng của cậu con cho đây rồi; còn đường đi từ đây mà ra cho tới Hải-phòng, rồi lên tới Bắc-ninh, tiền tàu và tiền xe mỗi người chừng lối hai mươi ngoài đồng, tính cả ba mẹ con mình thì hết, lối sáu bảy chục đồng; mà cái nhà của mình đây, có bán rẻ nào cũng được bảy tám trăm đồng; mình bán phứt nó đi, rồi đem gởi bớt cho Băng, để chừng vài trăm cho đủ sở hụi vừa khứ vừa hồi, trước là đi chơi cho giải bớt sự buồn rầu, sau là thăm cậu mợ con luôn thể, vì đã hơn 15 năm trời, chị em xa cách mặt nhau; như mẹ con mình ra đó mà cậu mợ con có tử tế thì ở lâu, bằng mà con có ngại bụng mợ dâu hay nói nọ nầy vầy khác, thì mẹ con ta cũng sẵn có đồng bạc trong mình, có lo chi là đều bất tiện. Ta hãy dùng dịp ấy xuống Hà-nội mà làm quen với mấy tiệm bán hàng lụa Bắc-kỳ, vào Băng lãnh hết bạc ra, mua hàng lụa về Nam mà bán; mà rồi ta lại được quen thuộc với người ngoài Bắc, tỏ tình liên lạc Bắc-Nam, hễ có nơi quen biết nhau rồi, tự hậu ta khỏi phải vào ra mà tốn nhiều tiền cước, ta chỉ cứ ở trong nầy gởi thơ và bạc ra, muốn mua kiểu nào, thức nào, cứ nói trong thơ là đủ, rồi mẹ con ta hoặc là ở tại Saigon buôn bán lắt lẽo mà nuôi nhau, có khi còn khỏe hơn ở tại Biên-hòa nầy mà rồi những khăn và vớ của hai chị em con làm đây, ở Saigon cũng là dễ bán nữa đa con à. Đó! Má tính như vậy con nghĩ lại coi, có phải là lưỡng tiện hay không? Mình ra đó mà thăm cậu con rồi, liệu ở được thì ở, bằng không được thì về, nào ai buộc trói chi mình mà con quá lo cho nhọc trí. Má chỉ còn lo có một đều mà nó làm cho lòng má xốn xang, đã biết rằng nay con còn đương mắc đại tang, việc hôn-nhơn chưa nên tính vội thì mặc dầu, song không biết Đỗ-khắc-Xương bây giờ mẹ con nó lưu lạc ở đâu, vì má có nghe người ta nói, cha nó cũng đã mất rồi, còn nhà cữa vườn đất gì cũng bị một mụ cô của nó đã đoạt hết đi mà trừ nợ.»

Từ-mộ-Trinh đương buồn nổi mình, bổng nghe mẹ mình lại nói đến việc gia biến của chàng thì lại càng xót dạ đau lòng mà rưng rưng nước mắt. không biết chàng lưu lạc xứ nào. Lệ-Dung thấy vậy lòng cũng ngùi ngùi, bèn thưa với mẹ và chị rằng: «Việc nầy con tưởng cũng dễ hỏi thăm, vì con biết ảnh có một người chú bà-con, làm hương-hào ở trong làng ấy; khi mẹ con ta ra tới xứ Bắc, yên nơi yên chỗ rồi, thong thả ta lại viết thơ gởi về cho ông hương ấy, cậy người thăm dọ tin ảnh ở đâu; hoặc chừng nào mà mình về ở buôn bán tại Saigon theo như lời má tính đó, lại càng dễ tìm tin ảnh hơn nữa; vì ảnh là người Tây-học, hễ thất thời thì phải đến Saigon kiếm công việc mà làm, chớ không lẽ ảnh rút ở trong vườn mà chịu nghèo cho được; như thế thì sớm muộn gì ắt mình cũng biết được tin ảnh chớ chẳng không.» Bà phủ với Mộ-Trinh nghe nói cũng yên lòng, bèn lo qua việc làm tuần và mướn người xây mộ.

Cách chẳng bao lâu tuần tự vừa xong, mồ-mả cũng xây rồi, mẹ con bèn làm tờ đoạn mãi cái nhà của bà cho một thầy thông kia được bảy trăm rưởi đồng, và còn phần riêng bàn-tủ, ghế-đẳng, ván-phên trong nhà cũng được vài trăm; duy có những đồ nội cái bàn thờ, thì bà đem gởi cho một người bà-con trong họ của bà, rồi mẹ con đề huề dắc nhau xuống Saigòn xin giấy thông-hành và mua giấy tàu mà ra Bắc.

Đêm ấy mẹ con nghĩ ngơi tại Saigon, sáng ra bữa sau, mới kêu xe kéo chở đồ hành-lý xuống tàu; vào lối 8 giờ, tàu đã lấy neo, rồi chạy quanh qua lộn lại, chìu uốn theo khúc sông, chừng lối 2 giờ chiều thì tàu đã tới Vủng-Tàu, ngừng lại đó một khắc đồng-hồ cho hoa-tiêu xuống, rồi thì trực chỉ ra khơi, chạy thẳng thét 3 đêm 3 ngày mới tới Hải-phòng. Tàu đậu yên rồi, ba mẹ con bèn dắc nhau lên bờ, kêu xe chở đồ đem đến ga xe lửa, đi luôn lên Hà-nội; rồi lại mướn xe ô-tô đưa thẳng đến tĩnh Bắc-ninh. Khi đến nơi rồi đi kiếm hỏi thăm, hơn trót giờ lâu mới tìm được nhà ông huyện. Chẳng dè ông huyện đã bị đổi lên Cao-bằng, ông mới đi trước ngày mẹ con bà phủ ra tới, độ chừng mươi bữa. Nhưng may vì ông nghĩ Cao-bằng là xứ xa đất lạ, phần thì hai cậu con của ông vẩn còn nhỏ lắm mới có năm ba tuổi mà thôi; sợ e thủy thổ chẳng hiền, nên ông để bà huyện với hai cậu nhỏ ở nhà, ông đi trước một mình lên đó coi địa-thế thể nào, rồi chừng vài ba tháng ông sẽ trở về mà rước bà với hai cậu nhỏ. Lúc ra đi ông có dặn bà huyện rằng sớm muộn gì cũng có bà phủ là chị ruột của ông với hai đứa cháu gái ở trong Nam-kỳ sẽ ra thăm ông, nếu chị ông và cháu ông mà ra tới rồi, thì phải cầm ở lại mà chờ ông và phải hậu đải chị ông cho tử tế, vì đầu đuôi ông còn có một bà chị đó mà thôi, nên ông xem bà chị của ông cũng như mẹ vậy. Bà huyện đã tỏ ý vâng lời, mà ông cũng còn đinh ninh căn dặn đôi ba lần rồi ông mới lên đường. Nguyên bà huyện nầy tên là Đào-Thị, tánh-tình sâu sắc, độc ác bất nhơn; trừ chồng con của bà ra rồi thì bà chẳng còn có chút lương-tâm gì mà biết thương ai ở trong thế-giái nầy nữa.

Đây nhắc lại việc bà phủ, đỗi đường xa xuôi, thiên san vạn hãi, tìm đến mà thăm em, chẳng dè ra đến mà chẳng thấy em thì mặt mày bà buồn nghiến. Chí như hai chị em Mộ-Trinh, tuy bà huyện là mợ dâu của mình, mà thuở nay kẻ Bắc người Nam, chưa biết mặt lần nào, cho nên trong lúc thấy nhau rất nên bợ ngợ.

Còn bà huyện là Đào-Thị, khi thấy chị chồng và cháu chồng mới ra, lại nghe tiếng chị chồng mình là bà phủ ở Nam-kỳ, thì coi ra thế bà ân cần vui vẻ lắm; mấy ngày đầu bà lo đi chợ, hối thúc trẻ ở nấu cơm, bà săn sóc từ miếng ăn miếng uống, ban đêm lại lo trải nệm giăng mùng; trong lúc thảnh thơi, chị em chuyện vãn với nhau, bà phủ mới tỏ thiệt qua việc gia-đình của mình, vì nay chồng đã mất rồi, gia-thế suy vi, mẹ con côi cút không ai, nên bà mới tính ra nương dựa với em cho gần gủi. Khi Đào-Thị nghe rõ trước sau rồi, bề ngoài tuy là ừ hữ gọi là, mà bề trong bà đã có ý chẳng vui. Từ đó đến sau, tánh ý của bà, thiệt chẳng có ai chế ai pha, mà sao càng ngày coi càng lợt. Từ-mộ-Trinh với Trần-lệ-Dung dòm coi tánh ý Đào-Thị, tuy đã thấy rõ như gương, song sợ mẹ phiền lòng, nên chẳng dám nói chi, cứ đánh chữ làm thinh, để coi cho rõ cái nhơn-tình ra sao cho biết.

Mẹ con ở đó hơn trót tháng ngoài, một hôm có một bà Phán là người giàu-có lớn ở Hà-đông lên chơi, tính ở nghỉ đó một đêm. Đào-Thị bèn khiến đứa ở dọn đồ hành-lý của ba mẹ con bà phủ đem ra để ở nơi bộ ván ngựa ngoài, rồi dọn quét cái phòng chỗ mẹ con bà phủ nằm hỗm rày đó, lót nệm trải ra (drap), thay áo gối mới vào, để cho bà Phán nghỉ ngơi tại đó.

Đêm ấy hai chị em Mộ-Trinh không ngủ, cứ rầm-rì to nhỏ chuyện vãn với nhau, chờ cho đêm vắng canh khuya, trong nhà ai nấy ngũ rồi, Mộ-Trinh mới mò lại gần, kêu mẹ dậy mà nói chuyện. Ban đầu nàng tưởng bà đã ngũ rồi, chẳng dè khi nàng lại gần, đèn tắt tối thui, nàng mò động nhằm gò-má của bà, thấy sao ướt rượt; chừng ấy nàng mói hay mẹ mình còn thức mà khóc đây chớ chưa ngủ, nàng liền rút khăn mu-soa (mouchoir) mà lau nước mắt cho mẹ, rồi lại cúi xuống hun mẹ một cái mà hỏi rằng: «Má chưa ngủ hay sao má?» Bà phủ liền đáp rằng: «Chưa, má buồn quá, đà ngủ được đâu con.

— Sao má buồn vậy má?

— Má thấy cái tình đời, rồi má nghĩ lại má nhớ cha con quá? Phải cha con còn, thì mẹ con mình có đâu mà phải ra thân tất-tưởi như vầy.

— Hồi còn ở nhà con cũng đả có nói với má mà má không nghe, bây giờ đến việc rồi đó, má thấy không? Cửu trú lịnh nhơn tiện là vậy đó đa! Hồi chiều tới giờ hai chị em con thấy cái cách của mở đối đãi với mẹ con mình như vậy nên chị em con cũng buồn, tính chờ cho trong nhà họ ngủ hết rồi sẽ bàn tính với má; đặng liệu coi, hoặc là trở về Nam-kỳ, hoặc là kiếm phố khác mướn mà ở đỡ, rồi má có đi xuống Hà-nội mà kiếm coi hàng hoá thể nào, như lời má đã tính hồi ở trỏng đó, chớ ở đây nữa mà làm gì cho người ta khinh khi bạc đải mình như vậy.

— Má cũng tính như con vậy đó, ngặt vì cậu ba con nó đi khỏi, đổi đường ở trỏng ra đây, chị em không thấy được mặt nhau, rồi bỏ mà đi về thì cũng ức; thôi, để nín nẫm một hai ngày mà chờ cậu con coi, rồi sau sẽ liệu; vậy để sáng mai má phải đi xuống Hà-nội vài bữa.»

Chẳng dè bà huyện lại có một đứa cháu trai kêu bà bằng cô, tên là Đào-duy-Thạt, tuy sanh trong nhà giàu có, mà tánh tình du-đảng, lại cũng là một môn với bọn Đăng-đồ; thường hay tới lui nơi nhà quan quyện.

Một buổi kia nhằm lúc bà phủ mắc đi xuống Hà-nội, hai chị em ở nhà đương ngồi thêu khăn và chuyện vản với nhau, còn đương nhắc chuyện đâu đâu; thình lình vùng nghe có tiếng giày tây cộp cộp ngoài ngỏ bước vào, làm cho hai chị em giựt mình, liền ngước mặt ngó ra: té ra người đó là Đào-duy-Thạt, nhơn đi chơi tiện đường thừa ưa ghé đó thăm cô. Bợm ta vừa mới bước vô, thoạt nhiên trông thấy hai nàng, tuy không trang điễm như ai; nhưng mà, mắt phụng mày ngài, dung nhan yểu điệu, mặt hoa mày liểu, da trắng như ngần. Thiệt là: Mai cốt-cách, tuyết tinh-thần, một người một vẻ mười phân vẹn mười.

Nguyên Đào-duy-Thạt nầy là một tay phóng-đảng, mèo-đàng chó-điếm, tập tánh đã quen; nay tình cờ mà thấy hai cô gái-đẹp, như ngọc-nữ, như tiên-đồng, thì bợm ta đà quắn-quít trong lòng, có thế nào mà bỏ qua cho được, bèn vào thăm cô, rồi lần hồi mới hỏi thăm qua chuyện hai nàng ở đâu cho biết. Đào-Thị cũng cứ trước sau tỏ thiệt bợm ta mới biết là con quan phủ ở Nam-kỳ, mà lại là cháu, kêu giượng mình bằng cậu; nay may mà giượng mình không có ở nhà, thế ra cũng dễ cho mình rủ trăng quến gió. Nghĩ như vậy rồi lại chẳng chịu về, cứ lân la chà-lết mải ở đó, đặng có làm quen, ban đầu còn đứng xa xa, sau mới mon men, muốn lết lại gần, cho dễ thả mồi ong bướm. Hai chị em đà biết ý, song chẳng nói chi, để coi chú-chàng muốn thả giọng gì cho biết. Đào-duy-Thạt bèn bước tới tủm-tỉm miệng cười mà thả hơi ra rằng; «Từ Nam ra Bắc đường sá xa xuôi, hai cô đi có việc gì thế?» Lệ-Dung liền đáp rằng: «Thưa thầy, chị em tôi ra đây là cũng có nhiều duyên cớ.

— Duyên-cớ gì thế?

— Thưa thầy, anh rể tôi đương làm việc ở tại tòa Sứ Hà-nội, nhơn nghe tin cha tôi mất lộc, anh tôi về không được, nên cho chị tôi đây (và nói và chỉ Mộ-Trinh) về trong ấy mà chịu tang. Nay mẹ con tôi ra đây, trước là đưa chị tôi ra để sum hiệp với anh tôi; sau là thăm cậu mợ tôi đây luôn thể, nhơn tiện cũng cho cậu mợ tôi hay rằng mẹ tôi đã định đôi cho tôi và cũng đã cho người ta làm lễ Sơ-vấn rồi, chờ đến kỳ mãn phục cha tôi, thì sẽ làm lễ thành hôn, nên mời cậu mợ tôi trước, chừng ấy có rảnh thì vào uống rượu chơi với mẹ tôi vậy.

— Thế ra hai cô đã có chồng rồi cả?

— Thưa phải.

— Ôi chào! Uổng lắm nhỉ!

Mấy lời của Trần-lệ-Dung nói dối với Đào-duy-Thạt trên đây, là có ý muốn làm cho bợm-ta thấy hai chị em đã có chồng hết rồi, mà không trêu bẹo ghẹo chọc tới nữa, chẳng dè bợm-ta cũng không đếm xĩa gì, cứ đứng hỏi dần-lân mải cho đến khi bị nhục mới thôi).

— Hai cô ở Nam-kỳ ra đây, đường sá xa xuôi, tàu-bè biển-giả, có khi mệt lắm nhỉ?

— Thưa thầy, phàm hể ăn no rồi mà cứ ngồi một chỗ, thế mới mệt chớ! Còn như chị em tôi mà đi tàu-bè biển-giả, được hớp lấy thanh-khí giữa trời, càng đi xa, càng khoẻ khoắn tinh-thần; chớ mệt là mệt làm sao?

— Ối chào! Hai cô là gái mà nói nghe anh-hùng quá!

— Thưa thầy, chị em tôi đâu dám xưng với thầy là mặt anh-hùng. Nhưng mà, chị em tôi phận tuy là gái, song cũng biết cái nghĩa-vụ làm người, ăn của đời, phải lo báo bổ cho đời; một mai mà nước nhà điên-đảo, nếu có dịp mà dùng đến chị em tôi, thì chị em tôi cũng biết phất cờ gióng trống, cũng biết cật ngựa lưng đao, đóng nổi một vai tuồng Nương-tử-quân nơi giữa chốn chiến-trường mà đền bồi cho Tổ-quốc. Chớ không phải như ai kia, đường đường một đấng râu mày, mà năm chí cuối, chỉ cứ ăn không ngồi rồi, một ngày hai buổi, trông cho no bụng thì lại đánh áo đánh quần, chưng cái bộ mặt văn-minh hình-thức ra cho sáng lạng huy hoàng, để mà dạo xóm dạo làng, trai trên gái dưới, phóng đãng chơi bời, chẳng biết quốc-gia xã-hội là chi, ngang bể dọc trời, hiêu hiêu tự đắc; ấy mới gọi là đương thế anh-hùng chớ!»

Nghe mấy lời nghiêm trang đoan chánh của Lệ-Dung nói đó thiệt là thấm thía tới đâu, làm cho bợm ta điên óc nhức đầu, bỏ ra về một nước.

Mà cũng lạ thay! Theo như người có liêm-sỉ, biết tu-ố mà nghe mấy lời của Lệ-Dung nói đây thì ắt phải che mặt đậy mày; tưởng khi trọn cả đời, cũng còn chưa dám ngó tới cái dung-nhan của nàng nữa mới phải cho. Chớ như Đào-duy-Thạt nầy thì không phải vậy, chỉ biết hổ hang có một lúc là nội hồi đó mà thôi, chớ hễ về nhà rồi thì quên hết cả mọi việc, chỉ còn nhớ chăm bẳm có cái sắc đẹp của hai nàng ấy mà thôi. Bỡi vậy cho nên khi về nhà rồi bợm ta chỉ cứ bù-xa bù-xít, trằn trọc cả đêm, nằm không an giấc, quyết lo làm sao cho cả hai nàng đều lọt vào tay thì mới cam tâm; bèn tính để sáng ngày qua hỏi thữ ý cô mình coi ra thể nào rồi sẽ liệu.

— Hết chương 8 —

Mục lục Tài mạng tương đố

  1. 1Phần 119 phút
  2. 2Phần 219 phút
  3. 3Phần 320 phút
  4. 4Phần 419 phút
  5. 5Phần 518 phút
  6. 6Phần 620 phút
  7. 7Phần 719 phút
  8. 8Phần 820 phút
  9. 9Phần 919 phút
  10. 10Phần 1019 phút

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảNguyễn Chánh Sắt (1869 – 1947)
Năm mất1947
Xuất bản lần đầu1926
Tình trạngHết thời hạn bảo hộ quyền tài sản tại Việt Nam từ 01/01/1998
Nguồn văn bảnWikisource tiếng Việt
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →